Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Thị trường chứng khoán Việt Nam

5
3.3.3.3 Có chính sách khuyến khích, thu hút nhiều loại hình doanh nghiệp,
nhất là tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia niêm yết trên
thị trường chứng khoán 44
3.3.3.4 Mở rộng hoạt động của các quỹ đầu tư trên thị trường tài chính, tăng
cường đào tạo nhân lực cho thị trường chứng khoán, thúc đẩy phát triển thị
trường OTC và thị trường Future cho nông sản Việt Nam. 44









Chương I: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1.1.1 Khái niệm về thị trường vốn:
Là một phần của thị trường tài chính. Có chức năng cung cấp vốn đầu tư
trung và dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế của các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế sử dụng cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mở rộng sản
xuất kinh doanh.
Thị trường vốn hay thị trường trung và dài hạn tại các quốc gia phát triển
bao gồm:
+Thị trường cho thuê tài chính: là thị trường cho thuê tài sản thiết bị giữa
một bên là cho thuê chuyên nghiệp với bên khác là người đi thuê gồm các tổ chức
và cá nhân có nhu cầu sử dụng tài sản thiết bị để sản xuất kinh doanh hơn là phục
vụ cho nhu cầu công tác quản lý. Thị trường cho thuê tài chính giúp cho các cá
nhân,tổ chức kinh tế, xí nghiệp…tiếp cận và sử dụng các loại tài sản phù hợp với
nhu cầu của mình làm cho việc kinh doanh hiệu quả hơn.
+Thị trường thế chấp: là thị trường cho vay vốn trung dài hạn của các tổ
chức tài chính với các tổ chức kinh tế giúp thực hiện các dự án đầu tư mở rộng đối
6
với dây chuyền công nghệ. Với điều kiện các dự án đầu tư phải tính được hiệu quả
kinh tế, có khả năng hòa vốn, trả nợ ngân hàng và tài sản có thế chấp. Tuy nhiên
các dự án đầu tư có hiệu quả cao, mức độ an toàn cao thì ngân hàng cho vay cũng
không cần có tài sản thế chấp.
+Thị trường chứng khoán : theo nghĩa rộng được gọi là thị trường vốn. Ở
đây các giấy nợ trung và dài hạn và các cổ phiếu được mua bán. Như vậy thị
trường chứng khoán là thị trường tạo lập và cung ứng thị trường dài hạn cho nền
kinh tế.
Các công cụ của thị trường chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu chính phủ,
trái phiếu công ty, trái phiếu chính quyền địa phương.
Các công cụ trên thị trường vốn có thời gian dài và vô hạn do đó giá của nó
dao động rộng hơn so với giá của thị trường tiền tệ. Vì vậy nó được coi là chứng
khoán có độ rủi ro cao hơn và vì vậy cơ chế phát hành lưu thông mua bán chúng
được hình thành khá chặt chẽ nhằm hạn chế những biến động và thiệt hại cho nền
kinh tế xã hội.

Hình 1.1: Cơ cấu của thị trường chứng khoán












Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước
(Quản lý Nhà nước về thị trường chứng khoán)

Thị trường
chứng khoán

Thị trường sơ cấp
(Phát hành chứng khoán)
Thị trường thứ cấp
(Giao dịch chứng khoán)
7





 Thị trường sơ cấp : là nơi mà các chứng khoán được cơ quan phát
hành chứng khoán bán cho các nhà đầu tư, không phải là hoạt động
mua bán chứng khoán giữa các nhà đầu tư với nhau. Thị trường sơ
cấp thực hiện chức năng quan trọng nhất của thị trường chứng khoán
là mang nguồn tiền nhàn rỗi đến cho người cần tiền sử dụng, đưa
nguồn tiết kiệm vào đầu tư .
 Thị trường thứ cấp : là nơi diễn ra các họat động mua bán những
chứng khóan đã được phát hành một lần thông qua thị trường sơ cấp.
Là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán. Thị trường
thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát
hành.
1.1.2.Vai trò của thị trường chứng khoán:
1.1.2.1 Công cụ thanh khoản cho thị trường.
Đảm bảo cho việc nhanh chóng chuyển thành tiền mặt các chứng khoán có
giá. Đây chính là các yếu tố quan trọng để thu hút các nhà đầu tư đến với thị
trường chứng khoán, với một thị trường chứng khoán hoạt động càng hữu hiệu thì
tính thanh khoản càng cao.
1.1.2.2 Công cụ đo lường và đánh giá hoạt động của doanh nghiệp.
Những thông tin doanh nghiệp cung cấp qua đó đánh giá được năng lực sản
xuất của các doanh nghiệp, triển vọng của doanh nghiệp trên thị trường, khả năng
sinh lợi hoạt động sản xuất kinh doanh, xu thế phát triển của doanh nghiệp trong
thời kì tương lai từ 3-5 năm đã phần nào lượng giá được tích sản phẩm của doanh
nghiệp một cách khách quan và khoa học.
1.1.2.3 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng.
Thị trường phi tập trung
(OTC)
Thị trường tập trung
(Sở giao dịch)
8
Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư
lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị
trường rất khác nhau về tính chất, thờii hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư
có thể lựa chọn cho loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của
mình. Chính vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng mức tiết
kiệm quốc gia.



g1.1.2.4 Chống lạm phát.
Ngân hàng trung ương với vai trò điều chỉnh hệ thống tiền tệ sẽ tung ra
nhiều trái phiếu kho bạc bán trên thị trường chứng khoán với lãi suất cao để thu
hút bớt lượng tiền lưu hành nhờ đó số tiền sẽ giảm và lạm phát cũng giảm đi.
1.1.2.5 Hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển.
Những đóng góp của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế hiển nhiên
là rất to lớn. Hiện nay các quốc gia theo cơ chế thị trường đều có tổ chức thị
trường chứng khoán vì đó là công cụ đắc lực trong việc huy động vốn cho đầu tư
và tăng trưởng.
1.1.2.6 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán không những thu hút các nguồn vốn đầu tư nội địa
mà còn giúp Chính phủ và doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu
công ty ra thị trường vốn quốc tế để thu hút ngọai tệ.Việc thu hút vốn đầu tư nước
ngoài qua kênh chứng khoán là an toàn và hiệu quả vì các chủ thể phát hành được
toàn quyền sử dụng vốn huy động cho mục đích riêng mà không bị ràng buộc bởi
bất kỳ điều kiện nào của nhà đầu tư nước ngoài .
Tuy nhiên thị trường chứng khoán có những nhược điểm của nó. Nó được
coi là một công cụ nhạy bén và tinh xảo nên những tác động tiêu cực vô cùng
nguy hiểm đối với nền tài chính của một quốc gia.
1.1.3 Các loại chứng khoán lưu thông trên thị trường:
9
1.1.3.1 Cổ phiếu: là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác nhận quyền sở hữu
của cổ đông, đối với công ty cổ phần. Người mua cổ phiếu thường trở thành cổ
đông thường hay cổ đông phổ thông. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường là một
trong những người chủ doanh nghiệp nên là người trực tiếp thụ hưởng kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh cũng như gánh chịu mọi rủi ro, hậu quả trong kinh
doanh.Có 2 loại cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
1.1.3.2 Trái phiếu: là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể
phát hành (Chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chi
trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn.
Trên giấy chứng nhận nợ này có ghi mệnh giá của trái phiếu và tỷ suất lãi trái
phiếu.
1.1.3.3 Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khóan (Derivatives)
+Chứng chỉ thụ hưởng: do công ty tín thác đầu tư hay các quỹ hỗ tương
phát hành để xác nhận quyền lợi của khách hàng là những nhà đầu tư cac nhân
trong các quỹ đầu tư nhất định. Chứng chỉ thụ hưởng này có thể được mua bán,
giao dịch trên thị trường chứng khoán như các giấy tờ có giá khác.
+Chứng quyền(Pre- emptipe): là giấy xác nhận quyền được mua cổ phiếu
mới phát hành tại mưc bán ra của công ty, các chứng quyền thường được phát
hành cho các cổ đông cũ, sau đó có thể đem giao dịch.
+Chứng khế (Warrants): là các giấy tờ có giá được phát hành kèm theo
các trái phiếu, trong đó xác nhận quyền được mua cổ phiếu theo những điều kiện
nhất định. Một chứng khế gắn với một lọai chứng khoán cho phép người giữ nó
được quyền chuyển đổi chứng khoán này sang chứng khoán khác hoặc sang một
công cụ tài chính nào đó khác theo một giá định trước gọi là giá đặt mua trong một
thời hạn nhất định (thường là kỳ hạn dài hơn chứng quyền )
+Các chứng chỉ phái sinh: là chứng khoán có giá trị phụ thuộc vào các giá
trị khác luôn thay đổi trên thị trường. Đây là sản phẩm tài chính cao cấp rất phức
tạp, bao gồm các hợp đồng giao sau, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp
đồng Swaps. Đáng lưu ý nhất trong các chứng chỉ phái sinh là hợp đồng quyền
10
chọn (Option)-là một công cụ phòng chống rủi ro của các nhà kinh doanh chứng
khoán, đồng thời là nghiệp vụ kinh doanh giúp các nhà kinh doanh chứng khoán,
các nhà đầu cơ săn lùng lợi nhuận trên thị trường. Trong những năm gần đây, thị
trường giao sau (Future) và quyền chọn (Option) ngày càng trở nên quan trọng và
rất cần thiết cho các nhà kinh doanh và đầu tư. Sư phát triển của chúng gắn liền
với sự lớn mạnh của các thị trường chứng khóan thế giới. Trong thực tế các thị
trường Future và Option phát triển mạnh và mang tính cạnh tranh cao là nhờ sự đa
dạng hóa sản phẩm trên thị trường: từ hàng hóa đến tiền tệ, chỉ số S&P 500 hay
trái phiếu kho bạc, lãi suất LIBOR …Điều này chứng tỏ rằng thị trường Future và
thị trường Option là những cải tiến rất thành công cho thị trường tài chính và kinh
doanh trên thị trường quốc tế. Việt Nam đang trong quá trình phát triển thị trường
chứng khoán. Do đó việc nghiên cứu và phát triển những công cụ tài chính với thị
trường chứng khoán là việc rất quan trọng cần làm lúc này nhằm đảm bảo cho thị
trường chứng khoán Việt Nam ngày một hoạt động hiệu quả hơn, an toàn và ổn
định hơn.
1.2 HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN:
1.2.1 Khái niệm về hợp đồng quyền chọn:
Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua nó có quyền,
nhưng không bắt buộc, được mua hoặc được bán:
+ Một số lượng xác định các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng khoán;
+ Tại (hoặc trước) một thời điểm xác định trong tương lai;
+ Với một mức giá xác định tại thời điểm ký hợp đồng.
Tại thời điểm xác định trong tương lai, người mua quyền có thể thực hiện
hoặc không thực hiện quyền mua (hay bán) các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng
khoán. Nếu người mua thực hiện quyền mua (hay bán), thì người bán quyền buộc
phải bán (hay mua).
Quyền chọn cho phép được mua gọi là quyền chọn mua (call option), quyền
chọn cho phép được bán gọi là quyền chọn bán (put option).
11
Quyền chọn mua trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng không
phải nghĩa vụ, được mua các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng khoán vào một thời
điểm (kiểu Châu Âu) hay trước một thời điểm (kiểu Mỹ) trong tương lai với một
mức giá xác định.
Quyền chọn bán trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng không
phải nghĩa vụ, được bán các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng khoán vào một thời
điểm (kiểu Châu Âu) hay trước một thời điểm (kiểu Mỹ) trong tương lai với một
mức giá xác định.
Đối với quyền chọn mua sẽ có người mua quyền chọn mua và người bán
quyền chọn mua. Đối với quyền chọn bán, cũng sẽ có người mua quyền chọn bán
và người bán quyền chọn bán.
Để có được quyền, người mua quyền (chọn mua hay chọn bán) phải trả một
khoản tiền (gọi là giá của quyền chọn) cho người bán quyền. Mức giá này được
thanh toán ngay khi ký kết hợp đồng quyền chọn.
1.2.2 Vai trò hợp đồng quyền chọn:
1.2.2.1 Quản lý rủi ro giá cả:
Option cung cấp một cơ chế hiệu quả cho phép phòng tránh rủi ro và dịch
chuyển rủi ro từ những người không thích rủi ro sang những người chấp nhận rủi
ro để tìm kiếm lợi nhuận. Một ví dụ về sử dụng option để phòng tránh rủ ro: Một
nhà xuất khẩu cà phê dự đóan rằng sản lượng cà phê thu hoạch được trong ba
tháng tới sẽ rất thấp, do đó có khả năng giá thu mua cà phê trong nước sẽ tăng lên
rất nhiều. Để tránh rủi ro giá tăng quá cao vượt ngoài dự tính của mình, nhà xuất
khẩu sẽ tìm mua một hợp đồng call option cà phê có thời hạn 3 tháng với mức giá
thực hiện X mà anh ta cho là được và trả một khoản phí có thể chấp nhận để mua
option đó. Nếu 3 tháng sau, giá mua cà phê S tăng lên như anh ta dự đoán nhà xuất
khẩu sẽ ngay lập tức thực hiện option mua cà phê với giá đã ký trên hợp đồng và
bán lại trên thị trường thế giới với giá cao hơn để thu về một khoản lợi nhuận: [S-
12
(X+p)]*Q. Còn nếu như trên thực tế giá cà phê không tăng lên quá cao như anh ta
dự đóan, việc thực hiện option theo tính tóan sẽ cho một chi phí cao hơn chi phí
mua bên ngoài thì thay vì sử dụng option để mua cà phê, anh ta sẽ có thể không
thực hiện option (chịu mất khỏan phí đã bỏ ra mua call option) mà mua cà phê
theo giá ngòai thị trường .
Một ví dụ khác sử dụng option chấp nhận rủi ro để kiếm lợi nhuận: một nhà
đầu tư chứng khoán dựa theo những đấu hiệu trên thị trường để phân tích về tình
hình biến động giá của cổ phiếu một công ty Z và dự đóan rằng trong vòng ba
tháng tới giá cổ phiếu của công ty này sẽ giảm mạnh, do đó anh ta sẽ tìm cách
kiếm lợi nhuận từ sự duy đoán này bằng cách mua một hợp đồng put option bán
một số lượng Q cổ phiếu công ty Z mặc dù hiện tại anh ta chưa có hoặc chỉ có một
lượng rất ít cổ phiếu của công ty này. Ba tháng tới nếu tình hình biến động giá cổ
phiếu đúng như anh ta dự đoán, nhà đầu tư sẽ mua cổ phiếu công ty Z trên thị
trường với giá rất thấp và sau đó thực hiện hợp đồng put option bán lại số lượng
cổ phiếu trên với giá cao hơn đã ký để có một khỏan lợi nhuận. Còn nếu như giá
cổ phiếu không như anh ta suy đóan và việc thực hiện option sẽ dẫn đến một kết
quả kinh doanh không có lợi thì anh ta có thể hủy bỏ option, không thực hiện nó
nữa .
1.2.2.2 Vai trò định giá quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn phản ánh sự biến động giá của hàng hóa cơ sở. Do
đó khi thị trường chứng khoán thay đổi thì việc định giá hợp đồng quyền chọn là
việc cần làm để giảm bớt rủi ro.
1.2.2.3 Góp phần thúc đẩy thị trường tài chính phát triển
Thị trường quyền chọn cho phép các nhà đầu tư kinh doanh đạt được một tỷ
suất sinh lợi cao, chính điều này hấp dẫn mạnh các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm từ
đó hình thành nên các quỹ đầu tư mạo hiểm (Mutual fund), góp phần giúp huy
động thêm được nhiều nguồn lực tài chính từ xã hội. Bên cạnh đó việc tham gia thị
trường không đòi hỏi một chi phí quá lớn do đó cho phép các nhà đầu tư có thể dễ
dàng tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường một cách dễ dàng.
13
Việc dễ dàng tham gia trên thị trường Future và Option sẽ khuyến khích,
thu hút được nhiếu nhà sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp xuất khẩu, các nhà đầu
tư trong và ngoài nước tham gia tích cực hơn trên thị trường chứng khoán, thúc
đẩy thị trường chứng khoán phát triển và sôi động hơn với các lợi ích của công cụ
chứng khoán phái sinh.
1.3 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG OPTION.
Giao dịch đầu tiên của thị trường quyền chọn bán và quyền chọn mua bắt
đầu ở Châu Âu và Mỹ từ đầu thế kỷ 18. Những năm đầu thị trường hoạt động thất
bại vì nạn tham nhũng. Một trong những người bị liên quan là nhà môi giới có
quyền chọn về một loại cổ phiếu nhất định đã ăn hối lộ để giới thiệu cổ phiếu cho
khách hàng của họ.
Thị trường option của hiệp hội các nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn
chịu áp lực của hai yếu tố. Một là thị trường thứ cấp, người mua option không có
quyền bán cho bên khác trước ngày đáo hạn. Hai là không có kỹ thuật nào người
bán option sẽ thực hiện hợp đồng nếu người bán không thực hiện thì người mua
phải tốn một khoảng chi phí kiện tụng.
Hiện nay thị trường chứng khoán có mặt khắp nơi trên thế giới.
1.4. OPTION VỀ CHỨNG KHOÁN.
1.4.1 Khái niệm:
Các thị trường giao dịch option về chứng khoán ở Mỹ là CBOE, PHLX,
AMEX, PSE và NYSE. Các loại option giao dịch trên 500 loại chứng khoán khác
nhau. Một hợp đồng quyền chọn trao cho người nắm giữ quyền được mua hoặc
bán là 100 cổ phiếu với giá thực hiện xác định. Độ lớn hợp đồng thì tùy thích bởi
vì cổ phiếu thì thường được trao đổi nhiều lô (mỗi lô 100 cổ phiếu).
1.4.2 Đặc điểm:
Một option trao đổi trên thị trường là một hợp đồng option kiểu Mỹ để mua
hay bán 100 cổ phiếu. Các chi tiết của hợp đồng như ngày đáo hạn, giá thực hiện,
những gì xảy ra khi công bố cổ tức, nhà đầu tư nắm giữ vị thế trong bao lâu…đã
được nêu rõ trên thị trường.
14
1.4.2.1 Ngày đáo hạn:
Yếu tố này có tác động rõ ràng hơn đến quyền chọn kiểu Mỹ (cả mua và
bán), nếu như thời gian còn lại cho đến lúc đáo hạn càng dài thì giá của quyền
chọn sẽ càng cao. Xét với hai quyền chọn giống nhau về cá yếu tố khác ngoại trừ
thời gian cho đến ngày đáo hạn. Người sở hữu quyền chọn có thời gian dài hơn rõ
ràng có nhiều thời gian để lựa chọn thực hiện quyền hơn người sở hữu quyền chọn
ngắn hơn.
Với quyền chọn kiểu Châu Âu, thời gian đến ngày đáo hạn không thực sự
có ảnh hưởng đến giá quyền chọn do cả 2 quyền nói trên đều chỉ có thể thực hiện
ở thời cùng một thời điểm là ngày đáo hạn. Thậm chí trong nhiều trường hợp
quyền chọn ngắn hơn có thể có giá cao hơn, chẳng hạn như hai quyền chọn mua
có chung mọi đặc tính, một quyền sẽ đáo hạn trong 1 tháng nữa, quyền còn lại đáo
hạn trong 2 tháng. Nếu cổ phiếu có trả cổ tức và thời điểm thanh toán là 6 tuần
nữa, thì do tác động của việc trả cổ tức, quyền chọn đáo hạn trong 1 tháng hơn sẽ
có giá cao hơn.
1.4.2.2 Giá thực hiện
Giá thực hiện còn được gọi là giá điểm là mức giá tại đó tài sản trong một
quyền chọn có thể được mua hoặc bán.
Đối với option chứng khoán giá thực hiện thường được đặt cách nhau từng
khoảng là 3/2$, 5$ hoặc 10$(ngoại trừ khi có sự phân chia chứng khoán hoặc cổ
tức, thì khoảng cách được rút ngắn hơn). Qui tắc thường được nhiều trung tâm
giao dịch làm theo là sử dụng khoảng cách 3/2$cho giá thực hiên khi giá cổ phiếu
thấp hơn 25$, khoảng cách 5$ khi giá cổ phiếu nằm trong khoảng 25-200$ và
khoảng cách 10$ khi giá cổ phiếu lớn hơn 200$. Ví dụ khi giá một cổ phiếu là 12$
thì ta có thể trông chờ option được giao dịch là 10,12 và 15$; khi giá cổ phiếu là
100 chúng ta có thể hi vọng giá thực hiện là 90,95,100,105 và 110$.
Khi một ngày đáo hạn mới được đặt ra hai mức giá thực hiện gần nhất với
giá cổ phiếu hiện hành thường được chọn để trao đổi. Nếu một trong hai số đó gần
sát với giá cổ phiếu hiện tại thì mức giá thực hiện gần thứ ba với giá cổ phiếu hiện

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét