Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Mở rộng hoạt động cho vay trả góp tại NHTM cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam

Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. NHTM: Ngân hàng thương mại
2. CVTG : Cho vay trả góp
3. CBTD : Cán bộ tín dụng
4. TSĐB : Tài sản đảm bảo
5. NV A/O: Nhân viên tín dụng
6. NHNN: Ngân hàng nhà nước
Đỗ Thị Thuỷ Lớp TCDN 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế
giới, Việt Nam cũng đã có những bước đi riêng của mình, phù hợp với xu thế hội
nhập quốc tế. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu
thế giới, tình hình chính trị ổn định nhờ đó mà đời sống người dân cũng không ngừng
được nâng cao.
Theo điều tra nghiên cứu gần đây nhất về mức thu nhập của các hộ gia đình ở
thành thị tại 36 thành phố lớn trong cả nước, tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập trên 3 triệu
đồng một tháng tăng từ 36% năm lên 64% năm 2005, và hiện nay trên 75%. Tuy vậy,
thực tế lại cho thấy rằng, với mức thu nhập ấy, các hộ gia đình chỉ có thể đáp ứng
được các nhu cầu thiết yếu, còn những công việc hay nhu cầu có chi phí lớn, thì họ
phải tích cóp hàng chục năm mới có thể có được. Họ mong muốn làm sao để sử dụng
nguồn tài chính sẽ tiết kiệm được trong tương lai phục vụ cho nhu cầu hiện tai, nhằm
phát huy tối đa giá trị sử dụng và lợi ích sản phẩm mà họ cần.
Một trong những giải pháp có thể sử dụng nhằm giải quyết vấn để trên là sự
tham gia của các NHTM. Các NHTM sẽ tài trợ cho các tổ chức cá nhân trong nền
kinh tế bằng hình thức cho vay trả góp. Tức là ngân hàng sẽ cho khách hàng vay số
tiền cần thiết ở hiện tại và khách hàng sẽ thanh toán dần số tiền gốc và lãi vào các
thời điểm trong tương lai sao cho phù hợp với nguồn thu nhập của mình và đúng với
yêu cầu của ngân hàng.
Trải qua nhiều thăng trầm trong quá trình hình thành và phát triển, NHTM cổ
phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) đang ngày càng lớn
mạnh và khẳng định vị trí của mình trong ngành ngân hàng Việt Nam. Trong thời đại
hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, VPBank đã chọn lối đi riêng cho mình
để vượt qua phân khúc thị trường phía trước. Với mục tiêu trở thành ngân hàng bán
lẻ hàng đầu Việt Nam thì cho vay trả góp đang là một sản phẩm chủ lực của ngân
hàng. Tuy nhiên việc xây dựng và phát triển sản phẩm trong một điều kiện nền kinh
tế đang có nhiều biến động, VPBank vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong mở rộng và
phát triển loại hình cho vay hấp dẫn này. Vì thế, em đã chọn đề tài:
Đỗ Thị Thuỷ Lớp TCDN 46Q
1
Chuyên đề tốt nghiệp
“Mở rộng hoạt động cho vay trả góp tại NHTM cổ phần các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh Việt Nam” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm
có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động cho vay trả góp của ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay trả góp tại VPBank
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay trả góp tại VPBank
Em xin chân thành cảm ơn ngân hàng VPBank, khoa Ngân hàng - Tài chính
trường Đại học Kinh tế quốc dân và đặc biệtt là sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Lê
Hương Lan đã hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập và tạo điều kiện cho em
hoàn thành chuyên đề này. Do hạn chế về nhiều mặt, bài viết của em không tránh
khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các anh
chị công tác tại ngân hàng VPBank.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đỗ Thị Thuỷ Lớp TCDN 46Q
2
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO
VAY TRẢ GÓP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của
nền kinh tế. Có thể định nghĩa ngân hàng qua chức năng, dịch vụ hoặc vai trò mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề ở chỗ là các yếu tố trên đang không ngừng
thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các công ty kinh doanh
chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng
đầu đều đang cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng đang đối
phó với các đối thủ cạnh tranh bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất
động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ
tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
Cách tiếp cẩn thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện
những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Theo cách tiếp cận hiện đại nhất: “Ngân
hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng
nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng
tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. (Ngân
hàng thương mại - PGS.TS. Phan Thị Thu Hà)
Một số định nghĩa khác lại dựa vào các hoạt động chủ yếu. Ví dụ: Luật các tổ
chức tín dụng của nước cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: “Hoạt động ngân
hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường
xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch
vụ thanh toán”.
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của NHTM
Bản chất của NHTM là các trung gian tài chính, vì thế các NHTM có chức
năng cơ bản là luân chuyển tài sản, trung gian thanh toán và thông qua hai chức năng
này NHTM còn thực hiện chức năng tạo tiền. Với mục tiêu làm gia tăng giá trị tài sản
Đỗ Thị Thuỷ Lớp TCDN 46Q
3
Chuyên đề tốt nghiệp
cho các chủ sở hữu, thông qua mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, các NHTM tiến hành các
hoạt động kinh doanh và không ngừng phát triển các hoạt động đó. Sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, phong phú về chủng loại, tiện ích nhưng cốt lõi đều
là hình thức biểu hiện của các hoạt động chủ yếu sau của NHTM
 Hoạt động huy động vốn.
Muốn thực hiện các hoạt động cho vay đáp ứng mục tiêu kinh doanh thu lợi
nhuận, các ngân hàng thương mại cần phải huy động được một lượng vốn nhất định.
Đây là hoạt động tiền đề có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân các ngân hàng
thương mại nói riêng và đối với toàn xã hội nói chung.
Ngân hàng mở các dịch vụ tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết trả
đúng hạn. Để tìm và thu hút đựơc các khoản tiền gửi, các NHTM thường đưa ra
những mức lãi suất huy động khá hấp dẫn như là phần thưởng cho khách hàng về
việc sẵn sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng
tạm thời để kinh doanh. Sau khi thu hút được các khoản tiền gửi
 Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn của NHTM là hoạt động cơ bản, có ý nghĩa lớn đối
với nền kinh tế xã hội, vì thông qua hoạt động này mà hệ thống NHTM cung cấp một
khối lượng vốn rất lớn cho nền kinh tế , nhờ đó mà nền kinh tế phát triển nhanh hơn,
bền vững hơn. Một số hoạt động cụ thể của hoạt động sử dụng vốn như:
 Hoạt động tín dụng
Nếu các NHTM thực hiện nghiệp vụ huy động vốn để thu hút tiền từ dân cư
và các tổ chức trong nền kinh tế thì hoạt động tín dụng sẽ quyết định việc sử dụng
nguồn tiền huy động đó. Tín dụng là tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở hầu hết các
NHTM. Đồng thời nó cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất của NHTM.
Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các NHTM. Điều này thể hiện rõ vị trí
trung gian tài chính của các NHTM là người dẫn vốn từ nơi có vốn đến nơi cần vốn,
từ đó gia tăng lợi ích chung cho nền kinh tế.
 Hoạt động bảo lãnh
Đỗ Thị Thuỷ Lớp TCDN 46Q
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là hoạt động mà ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về việc
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng, khi khách hàng
không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lãnh thường có 3 bên: Bên hưởng
bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh. Bảo lãnh của ngân hàng có nghĩa ngân
hàng là bên bảo lãnh, khách hàng của ngân hàng là người được bảo lãnh và người
hưởng bảo lãnh là bên thứ 3.
Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình để phát hành chứng
khoán, mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ở các ngân hàng ngày càng đa dạng và
phát triển mạnh.
 Cho thuê tài sản
Cho thuê tài sản của ngân hàng là hoạt động trong đó ngân hàng mua tài sản
cho khách khàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu đủ giá trị của tài sản
cho thuê cộng lãi (thời hạn cho thuê thường chiếm 80% - 90% đời sống kinh tế của
tài sản). Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó hoặc trả lại cho ngân
hàng. Ngân hàng cũng phải đối đầu với nhiều rủi ro khi khách hàng kinh doanh
không có hiệu quả, không trả được tiền thuê đầy đủ và đúng hạn. Ngày nay, các ngân
hàng thường có xu hướng tách riêng công ty cho thuê tài sản (leasing) ra hoạt động
độc lập với ngân hàng.
 Hoạt động trung gian
Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường tài chính đòi hỏi các NHTM
phải không ngừng mở rộng các danh mục đầu tư của mình. Bên cạnh các nghiệp vụ
truyền thống, các NHTM hiện đại đã và đang phát triển nhiều nghiệp vụ khác như
thanh toán, tư vấn tài chính, quản lý tiền mặt
 Quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và
nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách
hàng. Với kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân,
nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó
Đỗ Thị Thuỷ Lớp TCDN 46Q
5
Chuyên đề tốt nghiệp
ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu
tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi hay các khoản tín
dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
 Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng hay các vật có giá khác cho khách
hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách hàng tờ biên nhận
(giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho
giấy chứng nhận của ngân hàng, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền,
dùng để thanh toán cho khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành.
Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán bằng giấy thay cho kim loại đã
khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đổi lấy chứng nhận của ngân
hàng. Đó chính là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng. Ngày nay, vật có giá
được tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảo quản.
 Mua bán ngoại tệ
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua,
bán) ngoại tệ. Tức là, một ngân hàng đã đứng ra để mua bán một loại tiền này (chẳng
hạn USD, EURO ) để lấy một loại tiền khác (như VNĐ, Yên Nhật ) và hưởng phí
dịch vụ. Sự trao đổi này có vai trò rất quan trọng, nhất là đối với khách du lịch, vì họ
sẽ cảm thấy thuận lợi hơn rất nhiều khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay
thành phố nơi mà họ đến. Tuy nhiên, mức độ rủi ro của những giao dịch này rất cao,
đồng thời nó cũng đòi hỏi một trình độ chuyên môn nhất định.
 Cung cấp các dịch vụ môi giới chứng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính cho
phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do khiến các
ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng
cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán có giá mà không phải đến người
kinh doanh chứng khoán. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều thành lập ra công ty
chứng khoán trực thuộc, phục vụ tốt nhất cho khách hàng của ngân hàng.
Đỗ Thị Thuỷ Lớp TCDN 46Q
6
Chuyên đề tốt nghiệp
 Cung cấp các dịch vụ uỷ thác tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có nhiều chuyên gia về
quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý
tài sản và quản lý tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ
thác đầu tư, uỷ thác phát hành Thậm chí, các ngân hàng còn đóng vai trò là người
được uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách
công bố tài sản, bảo quản cá tài sản có giá. Nhiều khách hàng coi ngân hàng như một
chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính,
về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
 Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó
đảm bảo việc hoàn trả trong truờng hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro
trong hoạt động, mất khả năng thanh toán.
1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại
 Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Với vai trò là cầu nối, là ngưới dẫn vốn cho các tổ chức cá nhân trong nền
kinh tế. Cùng với hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt
động truyền thống và cơ bản nhất, tạo ra nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng và giúp
ngân hàng sử dụng vốn huy động một cách hiệu quả nhất.
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc
NHNN Việt Nam về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng, hoạt động cho vay được hiểu như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín
dụng, theo đó NHTM giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào
mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi”.
Khả năng cho vay đối với khách hàng chính là lý do cơ bản để ngân hàng
được các cơ quan quản lý cấp giấy phép hoạt động. Mọi người mong muốn các ngân
hàng hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng địa phương thông qua việc cung cấp tín
Đỗ Thị Thuỷ Lớp TCDN 46Q
7
Chuyên đề tốt nghiệp
dụng, đáp ứng nhu cầu tài chính doanh ngiệp và của người tiêu dùng với một mức lãi
suất hợp lý. Rõ ràng, cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của ngân hàng - để tài
trợ cho chi tiêu của doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức cơ quan chính phủ. Hoạt
động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế
tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh
nghiệp, tạo cơ hội cho người dân nâng cao đời sống, từ đó tạo ra sức sống cho nền
kinh tế. Hơn nữa, thông qua các khoản vay của ngân hàng, thị trường sẽ có thêm
thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng nhờ đó giúp họ có khả năng
nhận thêm các khoản tín dụng mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn.
 Nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại
Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chủ yếu, song nó cũng chứa
đựng nhiều rủi ro hơn bất cứ hoạt động nào khác của ngân hàng. Vì vậy NHNN đã
quy định phải quản lý tiền cho vay một cách chặt chẽ theo 2 nguyên tắc sau:
Thứ nhất, khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích .
Khách hàng cam kết phải sử dụng vốn vay theo đúng mục đích đã thảo thoả
thuận với ngân hàng, không được trái với quy định của pháp luật nhà nước và quy
địng của ngân hàng. Mục đích của việc cho vay phải được ghi trong hợp đồng tín
dụng nhằm đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái phép và việc tài
trợ đó là phù hợp với quy định của ngân hàng.
Thứ hai, khách hàng phải cam kết trả cả vốn lẫn lãi đúng thời hạn.
Đây là điều quy định bắt buộc đối với khách hàng nhận tiền vay của ngân
hàng đồng thời thời cũng là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển. Trong hợp
đồng tín dụng luôn ghi rõ thời hạn hoàn trả gốc và lãi, khách hàng phải cam kết hoàn
trả đúng thời hạn đó.
1.2.2 Các hình thức cho vay của NHTM
Có thể phân loại cho vay theo nhiều tiêu thức khác nhau như dựa vào thời hạn
của khoản vay, vào mục đích sử dụng tiền vay, phương thức cho vay, căn cứ vào tài
sản đảm bảo và một số tiêu thức phân loại khác. Với mỗi tiêu thức, cho vay lại được
phân thành nhiều loại khác nhau .
Đỗ Thị Thuỷ Lớp TCDN 46Q
8
Chuyên đề tốt nghiệp
 Căn cứ vào thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu
nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vay đã được thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng. Căn cứ vào tiêu thức này, cho vay
được phân thành ba loại gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
 Cho vay ngắn hạn
Là các khoản vay có thời hạn cho vay dưới 1 năm, được sử dụng để bù đắp sự
thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá
nhân. Cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của NHTM.
 Cho vay trung hạn
Là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ
yếu dùng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ mở
rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu
hồi vốn nhanh.
 Cho vay dài hạn
Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 5 năm, tối đa có thể lên tới 20 -30
năm, thậm chí 40 năm. Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng
nhu cầu dài hạn như: xây dựng các công trình dân dụng, công trình công nghiệp, mua
sắm dây chuyền sản xuất, xây dựng các dự án đầu tư cơ bản.
 Căn cứ vào đối tượng tham gia quy trình cho vay
 Cho vay trực tiếp
Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người vay, và
người vay trực tiếp trả nợ cho ngân hàng.
 Cho vay gián tiếp
Là hình thức cho vay thông qua các các tổ chức trung gian như: cho vay qua
nhóm sản xuất, qua các tổ hội (hội phụ nữ, hội thương binh, hội nông dân ), qua các
tổ chức tín dụng khác dưới hình thức đồng tài trợ hoặc những người bán lẻ.
 Căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay
 Cho vay tiêu dùng
Đỗ Thị Thuỷ Lớp TCDN 46Q
9

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét