Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Kinh tế biển Việt Nam

1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

Kinh tế biển Việt Nam
I) Đặc điểm vùng biển Việt Nam
1. Giới thiệu chung về vùng biển Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam có 28 đơn vị hành chính cấp tinh, thành phố trực thuộc
Trung ương có biển với tổng chiều dài đường bờ là 3.670 km. Con số này khác
nhiều với số liệu được ghi trong các văn liệu của nước ta từ trước đến nay là 3.260
km. Còn theo CIA World Factbook , đường bờ biển Việt Nam có chiều dài là 3.444
km (xếp thứ 32 trong số
156 quốc gia và vùng lãnh thổ có biển). Với các giá trị này, tỷ lệ chiều dài đường bờ
biển so với diện tích theo số liệu thứ nhất là 11,144m/km
2
, theo số liệu thứ 2 là
10,458m/km
2
, còn số liệu thứ 3 là 9,90m/km
2
, nghĩa là trung bình khoảng
1km/100km
2
Trong khi, giá trị này trung bình cho toàn thế giới là 5,25m/km
2
, nghĩa là
khoảng 0,5km/km
2
. Toàn bộ chiều dài đường bờ này hầu như làm ranh giới phía tây
của Biển Đông. Theo Bách khoa toàn thư Địa lý Xô Viết , Biển Đông có diện tích là
3.537.000 km
2
(đứng thứ tư trong số 61 biển quan trọng của thế giới - sau biển
Philippine: 5.726.000km
2
, biển Ả Rập: 4.832.000km
2
và biển Ô Khốt: 4.068.000 km
2
).
Về mặt tự nhiên, Biển Đông hoàn toàn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa và nằm trong 2 đới: đới gió mùa nhiệt đới có mùa đông lạnh ở phía bắc và
đới gió mùa cận nhiệt đới nóng quanh năm ở phía nam. Quanh năm, nhiệt độ nước
biển đều lớn hơn 25
o
C, do đó không có băng. Các hệ thống sông lớn đổ vào Biển
Đông đều tập trung ở phía tây. Lớn nhất là hệ thống sông Mê Kông - Đồng Nai,
tiếp đến là hệ thống sông Hồng - Thái Bình đều có vùng cửa sông ở Việt Nam và
hệ thống sông Chao - Phraya ở Thái Lan. Địa hình đáy Biển Đông gồm có thềm lục
địa được xác định trong khoảng độ sâu từ 200 - 500
mét và mở rộng ở phía bắc và phía nam; sườn và chân lục địa được xác định đến
độ sâu trung bình 2.000 - 2.500 mét trên đó có 2 quần đảo quan trọng là Hoàng Sa và
Trường Sa; đáy biển thẳm khá bằng phẳng và có độ sâu trên 3.000 mét, độ sâu lớn
nhất đạt tới trên
5.000 mét. Ngoài 2 quần đảo xa bờ nêu trên, biển Việt Nam còn có tới khoảng
3.000 hòn
đảo gần bờ. Biển Đông có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú và đa
dạng.
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Về mặt địa chính trị, Biển Đông thuộc quyền sở hữu của các quốc gia và vùng
lãnh thổ sau: Bru - Nây, Campuchia, Đài Loan, Indonesia, Malaysia, Philippine,
Singapore, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam, trong đó Bru - Ney, Indonesia,
Philippine, Singapore là các quốc đảo. Do đó, Biển Đông có vị trí rất quan trọng đối
với phát triển kinh tế - xã hội và an ninh đối với các nước này, đặc biệt là các nước
trong khu vực Đông Nam Á. Các nước trong khu vực Biển Đông đang làm hết sức
mình để gìn giữ và bảo vệ về mọi mặt đối với nó với mục tiêu đạt được là hòa bình và
phát triển. Ngoài ra, Biển Đông là con đường giao thông hàng hải quan trọng đi từ
Đông Bắc Á sang Nam Á, Tây Á và các khu vực khác trên thế giới thuộc Thái Bình
dương, Ấn Độ dương vào Địa Trung hải để ra Đại Tây dương.
2. Các vùng biển - đảo của Việt Nam trên Biển Đông
Ngày 12/5/1977, sau khi thống nhất đất nước và mặc dù Công ước Quốc tế về
Luật Biển chưa được thỏa thuận, nhưng Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam đã ra tuyên bố về các vùng biển của Việt Nam trên Biển Đông. Trong
đó, các vùng biển của Việt Nam được tuyên bố như sau:
1. Lãnh hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở
phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm
ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam. Vùng biển ở phía trong đường cơ sở
và giáp với bờ biển là nội thuỷ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với
lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của
lãnh hải.
2. Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với
lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính
chiều rộng lãnh hải của Việt Nam. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm
bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khoá, đảm bảo sự tôn trọng
các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.
3. Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp
liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200
hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo
vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng
nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt
Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm
dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng
biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nước Cộng
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm
trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
4. Thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy
biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở
rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa. Nếu nơi nào bờ
ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam
không đến 200 hải lý thì thề lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở
đó. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm
dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt
Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật
thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam.
Tiếp theo tuyên bố trên, ngày 12/11/1982, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam đã tuyên bố về đường cơ sở dung để tính chiều rộng lãnh
hải, vùng tiếp giáp lành hải, vùng đặc quyên kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Theo tuyên bố này đường cơ sở của Việt Nam là đường cơ sở thẳng gồm có 11 điểm
và 10 đoạn tính từ ranh giới trên biển giữa 2 nước Việt Nam và Campuchia cho đến
đảo Cồn Cỏ (bảng 1).
Bảng 1. Hệ thống đường cơ sở của Việt Nam dùng để xác định các vùng biển chủ
quyền
Điểm
cơ sở
Tọa độ Độ dài các đoạn
(hải lý)
Khoảng cách đến
đường bờ biển
(hải lý)
Vĩ độ Kinh độ
A1
A2
A3
A4
A5
A6
A7
A8
A9
A10
A11
9
o
15’00’’ B
8
o
22’08’’ B
8
o
37’08’’ B
8
o
38’09’’ B
8
o
39’07’’ B
9
o
58’00’’ B
12
o
39’00’’ B
12
o
53’08’’ B
13
o
54’00’’ B
15
o
23’01’’ B
17
o
10’00’’ B
103
o
27’00’’ Đ
104
o
52’04’’ Đ
106
o
37’05’’ Đ
106
o
40’03’’ Đ
106
o
42’04’’ Đ
109
o
05’00’’ Đ
109
o
05’00’’ Đ
109
o
27’02’’ Đ
109
o
21’00’’ Đ
109
o
09’00’’ Đ
107
o
20’06’’ Đ
99,28
105,10
2,976
1,952
161,40
162,70
14,83
60,54
89,91
149,30
56
12
52
53
53
74
0,5
0,0
14
15
25
Để thể hiện rõ quyết tâm bảo vệ chủ quyền của mình trên các vùng biển
đã được tuyên bố, ngày 23/6/1994, tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa IX, Quốc hội
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã tuyên bố Phê duyệt Công ước
Quốc tế về Luật Biên năm
1982. Các vùng biển nêu trên còn được nhấn mạnh trong các điều 7, 8 và 9 của
Luật Biên giới quốc gia năm 2003.
Để phục vụ cho phát triển kinh tế biển và giữ vững an ninh chủ quyền trên các
vùng biển, đến nay nước ta đã ký một số thoả thuận trên biển với các nước láng
giềng: Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia (1982), Thoả thuận khai
thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam - Malaysia (1992), Hiệp định về
phân định ranh giới biển Việt Nam - Thái Lan (1997), Hiệp định phân định lãnh hải,
vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung
Quốc (2004) và Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam - Indonesia (2003).
Ngoài ra, ta cũng mở diễn đàn trao đổi về vấn đề chủ quyền hai quần đảo với
Philippin (1995), Trung Quốc (1995) và Malaysia, tham gia ký kết các văn kiện mang
tính chất khu vực về Biển Đông, triển khai một số dự án hợp tác song phương và đa
phương với các nước liên quan, trong đó có sự án nghiên cứu khoa học biển Việt
Nam - Philippin (JOMSRE).
II) Các nguồn tài nguyên biển của Việt Nam
Theo các kết quả điều tra cho thấy, Biển Đông có nguồn tài nguyên thiên nhiên
rất phong phú và đa dạng bao gồm cả tài nguyên sinh vật và tài nguyên không sinh
vật, tài nguyên trong khối nước, trên đáy và trong lòng đất dưới đáy biển.
1. Tài nguyên sinh vật (Living Resources)
Theo các số liệu thống kê, hiện có tới 11.000 loài sinh vật thuỷ sinh và
1.300 loài sinh vật trên đảo đã được biết đến trong các vùng biển - đảo Việt Nam,
trong đó có khoảng
6.000 loài động vật đáy và 2.000 loài cá. Có 83 loài sinh vật biển được ghi vào
Sách Đỏ Việt Nam (37 loài cá, 6 loài san hô, 5 loài da gai, 4 loài tôm rồng, 1 loài sam,
21 loài ốc, 6 loài động vật hai mảnh vỏ và 3 loài mực). Biển Việt Nam có 110 loài cá
kinh tế (trích, thu, ngừ, bạc má, hồng, v.v.) thuộc 39 họ, tổng trữ lượng cá biển khoảng
3 - 3, 5 triệu tấn và khả năng khai thác cho phép là trên một triệu tấn mỗi năm. Trong
số nguồn lợi về cá, thì cá nổi đóng vai trò rất lớn. Những đánh giá gần đây cho thấy,
trữ lượng cá nổi trung bình ở các vùng biển Việt Nam vào khoảng 2.744.900 tấn và
khả năng khai thác là 1.372.400 tấn. Trong đó, vịnh Bắc Bộ: trữ lượng là 433.100
tấn và khả năng khai thác là 216.500 tấn ; Trung Bộ: trữ lượng là 595.600 tấn và
khả năng khai thác là 297.800 tấn ; Đông Nam Bộ: trữ lượng là 770.800 tấn và khả
năng khai thác là 385.400 tấn; Tây Nam Bộ: trữ lượng là
945.400 tấn và khả năng khai thác là 472.700 tấn. Trữ lượng cá nổi chiếm 54,37%
tổng trữ lượng cá. Tỷ lệ cá nổi trong tổng trữ lượng cá ở vùng biển Việt Nam: vùng
biển vịnh Bắc bộ (83,3%), Miền Trung (89,0%), Đông Nam Bộ (42,9%), Tây Nam Bộ
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
(62%), các gò nổi (100,0%) và trung bình cho toàn vùng biển là 63,0% (bảng 2).
Bảng 2. Trữ lượng và khả năng khai thác cá ở biển Việt Nam
STT Vùng biển Loại cá Trữ lượng Khả năng khai
thác
Tấn % Tấn %
1 Vịnh Bắc
Bộ
Cá nổi 390.000 83,2 156.000 83,0
Cá đáy 48.409 16,8 31.364 17,0
2 Trung Bộ Cá nổi 500.000 89,0 200.000 89,0
Cá đáy 61.646 11,0 24.658 11,0
3 Đông Nam
Bộ
Cá nổi 524.000 42,9 209.600 42,9
Cá đáy 698.307 57,1 279.323 57,1
4 Tây Nam
Bộ
Cá nổi 316.000 62,0 126.000 62,0
Cá đáy 190.679 38,0 76.272 38,0
5 Gò Nổi Cá nổi 10.000 100,0 2.500 100
0,4
6
Tổng cộng Cá nổi 1.740.000 63,0 697.100 62,8 100,0
Ngoài ra, còn có nguồn lợi động vật thân mềm (hơn 2.500 loài) với trữ
lượng đáng kể, có giá trị kinh tế cao. Rong biển có hơn 600 loài (sử dụng cho chế
phẩm công nghiệp 24 loài, dược liệu 18 loài, thực phẩm 30 loài, thức ăn gia súc 10
loài và phân bón 8 loài). Trong vùng biển nước ta còn có nhiều loại động vật quý như
đồi mồi, rắn biển, chim biển và thú biển. Vì nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, trong
các vùng biển của nước ta còn có các hệ sinh thái rừng ngập mặn. hệ sinh thái cỏ
biển, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái đảo, hệ sinh thái bờ đá, hệ sinh thái cồn cát,
v.v. . Trong các hệ sinh thái này, tính đa dạng sinh học rất cao. Tiềm năng nuôi trồng
thuỷ sản nước mặn, lợ trong các vùng cửa sông, đầm phá và vũng vịnh và vùng biển
ven bờ rất lớn. Diện tích tiềm năng nuôi trồng thủy sản của nước ta khoảng 2 triệu
héc - ta (thực tế năm 2001 mới sử dụng 755.000 ha mặt nước), bao gồm 3 loại hình
mặt nước đó là nước ngọt, nước lợ và vùng nước mặn ven bờ, có thể nuôi trồng các
loại đặc sản như tôm, cua, rong câu, nuôi cá lồng Nuôi trồng sinh vật biển cũng đã
đóng góp một sản lượng lớn thuỷ sản cho thực phẩm, dược phẩm, vật liệu công
nghiệp, mỹ nghệ, v.v. phục vụ cho cuộc sống.
Theo Viện Nghiên cứu Hải sản, tổng trữ lượng hải sản biển Việt Nam dao động
trong khoảng 3,1 - 4,2 triệu tấn, với khả năng khai thác 1,4 - 1,6 triệu tấn; khoảng
0,058 triệu tấn tôm biển và 0,123 triệu tấn mực.
Tiềm năng nguồn lợi hải sản của nước ta rất lớn nhưng khả năng khai thác còn
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hạn chế: chỉ mới tập trung khai thác ở ven bờ gây nên sự mất cân đối làm cho nguồn
hải sản ven bờ nhanh chóng bị cạn kiệt. Để khai thác được nguồn lợi hải sản xa bờ có
hiệu quả, từ năm
1997, Nhà nước ta đã có chủ trương và cung cấp vốn ưu đãi cho việc đóng tàu, mua
sắm trang bị đánh bắt xa bờ, đồng thời cũng ban hành một số cơ chế chính sách ưu đãi
nhằm đẩy mạnh chương trình khai thác hải sản ở các vùng biển xa bờ.
2. Tài nguyên không sinh vật (Non - Living Resources)
Nguồn tài nguyên không sinh vật của biển Việt Nam rât lớ bao gồm tài nguyên
khoáng sản, tài nguyên năng lượng và các loại tài nguyên vị thế khác.
- Tài nguyên khoáng sản. Nguồn tài nguyên khoáng sản có cả trong khối nước,
trên đáy và trong lòng đát dưới đáy biển. Trong các vùng biển và thềm lục địa
nước ta đã xác định được nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể
Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá là có triển vọng dầu khí và điều kiện khai
thác thuận lợi nhất, với tổng trữ lượng ước tính khoảng 10 tỉ tấn dầu quy đổi. Cùng
với dầu - khí, trong các bể trầm tích ở thềm lục địa nước ta còn có trữ lượng than rất
đáng kể (bảng 3).
Bảng 3. Trữ lượng tiềm năng dự báo than trên thềm lục địa Việt Nam
Bể trầm tích Trữ lượng
Mét khối (x10
9
m
3
) Tấn (x10
9
tấn )
Bể Sông Hồng 543,2 977,8
Bể Cứu Long 81,5 146,7
Bể Nam Côn Sơn 1126 2027,8
Bể Malay - Thổ Chu 656,7 1182,1
Tổng 2407,4 4334,4
Các loại sa khoáng ven bờ như ilmenit với trữ lượng dự đoán khoảng 13
triệu tấn; cát thủy tinh, trữ lượng ước tính hàng trăm tỷ tấn. Ngoài ra, còn một khối
lượng lớn vật liệu xây dựng khổng lồ có thể được khai thác từ đáy biển (cát sạn sỏi
cho xây dựng hoặc san lấp) để thay thế cho nguồn này trên lục địa đang bị cạn kiệt
dần. Ngoài ra còn có cát thủy tinh ở Vân Hải (Quảng Ninh), Ba Đồn (Quảng Bình),
Cam Ranh (Khánh Hòa), v.v với trữ lượng nhiều tỷ tấn. Trên sườn lục địa - chân lục
địa và đáy biển sâu còn có tiểm năng các kết hạch sắt - mangan, bùn đa kim rất đáng
kể mà đến nay chưa thể xác định được trữ lượng. Một loại khoáng sản khác rất có
triển vọng trong trầm tích đáy biển Việt Nam được các nhà địa chất mới phát hiện
trong thời gian gần đây là khí cháy (Hydrat methan). Nguồn tài nguyên khoáng sản
trong khối nước biển có trữ lượng lớn nhất là muối với trữ lượng rất lớn bởi vì độ
muối trung bình của nước biển là khoảng 32%o và đường bờ biển dài khoảng
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3.500km. Đây là loại khoáng sản dễ khai thác phục vụ cho công nghiệp và đời sống rất
thiệt thực.
- Tài nguyên năng lượng. Thủy triều, sóng và gió là nguồn năng lượng tái tạo
tiềm năng trên các vùng biển - đảo Việt Nam. Theo Bùi Văn Đạo, tiềm năng điện gió
ở Việt Nam rất lớn. Riêng dải duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ có khả
năng sản xuất tới
5x10
9
Kw/gi
ờ.năm.
3. Các nguồn tài nguyên đặc biệt (Remarkable Resources)
Khác với 2 loại tài nguyên trên có thể đánh giá được bằng trữ lượng, còn một
số điều kiện tự nhiên không thể đánh giá định lượng được, nhưng lại được con người
sử dụng, thậm chí từ rất lâu đời, trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của
mình đều có thể xếp vào loại tài nguyên đặc biệt này. Đó chính là địa hình bờ và
đảo cũng như khoảng không mặt biển.
Không không gian mặt biển. Như đã nói, vùng biển - đảo nước ta hoàn
toàn nằm trong vùng nhiệt đới và có diện tích rộng tới khoảng 3,5 triệu km
2
, quanh
năm nước không đóng băng. Đây chính là điều kiện để giao thông - thương mại phát
triển. Biển Việt Nam nói riêng và Biển Đông nói chung nằm ở vị trí có nhiều tuyến
đường biển quan trọng của khu vực cũng như của thế giới, giữ một vai trò rất lớn
trong vận chuyển lưu thông hàng hóa thương mại phục vụ đắc lực cho xây dựng nền
kinh tế của nước ta cũng như các nước quanh bờ Biển Đông. Biển Việt Nam nối thông
với nhiều hướng, từ các hải cảng ven biển của Việt
Nam thông qua eo biển Malakka để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, Châu Âu,
Châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật
Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippin, Indonesia, Singappor
đến Australia và New Zealand, v.v Đây là điều kiện rất thuận lợi để ngành giao
thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nước ta
với các nước khác trong khu vực và trên thế giới
Địa hình bờ và đảo. Địa hình mặt đất nói chung cũng như địa hình bờ biển
và đảo nói riêng là “sân khấu” để cho thế giới sinh vật, trong đó có con người “trình
diễn” cuộc sống. Địa hình bờ biển của nước ta rất đa dạng và độc đáo do được phát
triển trên các loại đất đá khác nhau trong điều kiện khí hậu có sự phân hóa rõ rệt
theo chiều bắc - nam. Trên bờ biển của nước ta lại có nhiều mũi đá nhô ra sát biển tạo
nên các “hoành sơn thiên nhiên tráng lệ”, như Đèo Ngang, đèo Hải Vân, Đèo Cả. Đó
là địa hình karst phát triển trên đá vôi ở vịnh Hạ Long và Bái Tử Long (vịnh Hạ Long
đã 2 lần được UNESCO công nhận là di sản thế giới và đang được đề nghị mở rộng
khu di sản sang cả vịnh Bái Tử Long), ở Hòn Đỏ (Ninh Thuận), địa hình “karst giả”
phát triển trên cát đỏ ở khu vực Suối Tiên - Mũi Né (Bình Thuận), “karst giả” phát
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
triển trên đá granit ở khu vực mũi Kê Gà và một số nơi khác của tỉnh khác ở Trung
Bộ. Các vách đá hùng vĩ ở mũi Đá Vách, mũi Đại Lãnh, đèo Hải Vân, “gành đá
đĩa” phát triển trên đá bazan ở Phú Yên. Có nhiều bãi tắm đẹp với cát mịn và sạch rải
rác từ Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh) đến Bãi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang) và nhiều
bãi tắm còn rất hoang sơ trên các đảo (Ngọc Vừng, Quan Lạn ở Quảng Ninh; Hòn La
ở Quảng Bình, Côn Đảo, Phú Quốc, v.v.). Đường bờ biển của nước ta lại rất khúc
khuỷu. lại được các đảo che chắn (vịnh Hạ Long và Bái Tử Long), có nhiều vũng
vịnh (Vũng Áng, vịnh Đà Nẵng, An Hòa, Dung Quất, Quy Nhơn, Xuân Đài, Vũng
Rô, Vân Phong, v.v.) và nhiều cửa sông lớn đổ trực tiếp vào Biển Đông .
Vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó vùng biển đông bắc
có trên
3.000 đảo, bắc Trung Bộ trên 40 đảo, còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển
Tây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Căn cứ vào vị trí địa lý so với bờ
có thể chia thành các đảo và quần đảo gần bờ (nằm trong phạm vi từ vùng tiếp giáp
lãnh hải trở vào) và các đảo và quần đảo xa bờ (nằm trong vùng đặc quyền kinh tế).
Các đảo và quần đảo gần bờ có ý nghĩa rất to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội, xây dựng đất nước và đảm bảo an ninh trên biển và bờ biển nước ta (Chẳng
hạn các đảo Cô Tô, Cái Bầu, Chàng Tây, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Cù Lao
Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, v.v.). Còn các đảo và quần đảo xa bờ
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng và chủ quyền toàn
vẹn lãnh thổ của quốc gia (các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Thổ Chu).
Các thành tạo địa hình bờ biển và đảo trên đây có ý nghĩa rất quan trọng trong
phát triển kinh tế biển. Đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ cho khai thác - chế biến hải sản, giao thông vận tải đường biển, du lịch - thể thao -
nghỉ dưỡng, v.v Ngoài ra, một số thành tạo địa hình có giá trị thẩm mỹ còn được sử
dụng trực tiếp cho khách tham quan phong cảnh. Mặt khác, các thành tạo địa hình bờ
biển và đảo còn là kho lưu trữ các loại tài nguyên khác của biển như thổ nhưỡng và
sinh vật.
III) Phát triển kinh tế biển Việt Nam
Từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên được trình bày trên đây và tùy thuộc
vào tầm văn hóa chung của cộng đồng cũng như cách nhìn nhận về biển của từng thời
đại, mà con người Việt Nam đã khai thác và sử dụng nó phục vụ cho cuộc sống hàng
ngày của mình từ nhiều năm trước đây.
1. Phát triển kinh tế biển ở Việt Nam từ 1945 đến trước thời kỳ đổi mới.
Trong khoảng thời gian kéo dài gần 40 năm (trong đó giai đoạn 1945 - 1954 cả
nước thực hiện cuộc kháng chiến chống Pháp và giai đoạn 1954 - 1975 đất nước bị
chia cắt thành
2 miền), kinh tế biển của Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định, song vẫn trong tình
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trạng lạc hậu trong nền kinh tế tự túc tự cấp với phương thức “săn bắn - hái lượm”
bằng các dụng cụ thô sơ và nhỏ bé chỉ thực hiện được ở gần bờ. Sau khi hòa bình lập
lại, ở Miền Bắc, đảng và Chính phủ đã quan tâm đến phát triển kinh tế biển, song tập
trung chủ yếu cho nghề khai thác thủy sản. Lúc này, ngoài việc thành lập các Viện
Nghiên cứu biển và Viện nghiên cứu Hải sản để điều tra nguồn lợi cá biển và các
nghiên cứu cơ bản khác, các tập đoàn đánh cá như Hạ Long, Việt - Đức, Việt - Trung
và nhà máy cá hộp Hạ Long đã ra đời. Còn ở các vùng nông thôn ven biển, các hộ ngư
dân cá thế được tổ chức lại thành các hợp tác xã đánh cá. Tuy nhiên, do trình độ khoa
học kỹ thuật và kinh nghiệm trong quản lý kinh tế còn thấp, nên hiệu quả phát kinh tế
biển nói chung và nghề cá nói riêng còn rất thấp. Trước tình hình như vậy, vào giữa
những năm 1980, Đảng và Chính phủ đã quyết định thay đổi cơ chế quản lý trong mọi
lĩnh vực của xã hội, trong đó có phát triển kinh tế biển – bước vào thời kỳ Đổi mới.
2. Phát triển kinh tế biển của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Bước vào thời kỳ Đổi mới, đường lối phát triển một nền kinh tế độc lập tự chủ,
toàn diện và vững mạnh, trong đó có kinh tế biển đã được xác định. Trong giai đoạn
này, kinh tế biển đã được xây dựng với đầy đủ các lĩnh vực, bao gồm: 1) nghề cá
(đánh bắt, nuôi trồng và chế biến); 2) khai thác khoáng sản; 3) hàng hải (đóng tàu,
chuyên chở, xây dựng cảng);
4) du lịch và giải trí biển; 5) dịch vụ biển (sản xuất các thiệt bị, phương tiện làm việc
trong biển); 6) an ninh - quốc phòng (quản lý vùng biển). Trong đó, 4 lĩnh vực đầu sẽ
được trình bày dưới đây. Bởi vì 4 lĩnh vực này đã đóng góp tới 98% trong số các lĩnh
vực kinh tế biển nêu trên (khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản 14%; giao thông vận
tải 11% và du lịch biển trên 9%. Chiến lược phát triển kinh tế biển từ nay đến 2020
của Việt Nam đã được xác định rõ trong Nghị quyết 4 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” với
mục tiêu “kinh tế biến đóng góp 53 - 55% GDP, 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu của
cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của
nhân dân vùng biển và ven biển”
1) Nghề cá. Trong khoảng thời gian 20 năm qua, nghề cá của nước ta bao
gồm cả đánh bắt và nuôi trồng đều có xu hướng liên tục tăng cả đánh bắt và nuôi
trồng. Theo số liệu thống kê, đến năm 2007, cả nước đã có 21.130 tàu đánh bắt xa
bờ (tăng 593 chiếc so với năm 2005) với tổng công suất là 3.091,6x10
3
CV (tăng
290,5x10
3
CV so với năm 2005). Do đó, sản lượng khai thác liên tục tăng từ năm
1981 đến nay. Cụ thể năm 1981 sản lượng là gần 420.000 tấn, năm 2007 là
1.422,3x10
3
tấn (tăng 54,8x10
3
tấn so với năm 2005 và
347,0x10
3
tấn so với năm 2000). Giá trị khai thác hải sản đã đạt dược khoảng trên
28 ngàn
tỷ đồng (tăng 5,5 ngàn tỷ so với năm 2005 và 13 ngàn tỷ so với năm 2001). Về nuôi
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trồng, từ năm 1986 đến nay, diện tích và sản lượng nuôi trồng hải sản nược lợ, mặn
liên tục tăng lên. Các hình thức và chủng loại nuôi trồng cũng trở nên đa dạng hơn
(nuôi tôm, cua, cá trong đầm; trong lồng, bè - đối với một số cá đặc sản và tôm hùm;
nuôi các lạo thân mềm như ốc hương, vẹm xanh, tu hài, ngao, v.v.). Phương thức
nuôi cũng càng ngày càng hiện đại hơn: từ nuôi quảng canh sang thâm canh và nuôi
công nghiệp. Do đó, các sản phẩm đạt chất lượng cao hơn và được xuất khẩu rộng rãi
hơn thông qua chế biến. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê giai đoạn 1981 - 2005,
hiệu suất khai thác liên tục bị giảm: từ 0,92 tấn/CV.năm (1981) còn 0,34
tân/CV.năm (2005); năng suất lao động bình quân đầu người cũng giảm mạnh từ 3,24
tấn/lao động.năm (1990) xuống còn 1,65 tấn/lao động.năm [1].
2) Khai thác khoáng sản biển. Ngành khai thác dầu thô và khí thiên nhiên trên
biển ở nước ta còn rất trẻ và có tấn dầu thô đầu tiên vào năm 1986. Đến nay, đã 21
năm và đứng hàng thứ 44 trong cộng đồng các quốc gia khai thác dầu mỏ trên thế giới
và đứng thứ 4 ở Đông Nam Á. Hiện nay chúng ta đang khai thác mỏ Bạch Hổ, Rồng,
Đại Hùng, Ruby, Rạng Đông, Sư Tử Đen , đã phát hiện được trên 20 vị trí có tích tụ
dầu khí. Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trở thành một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong
những ngành khai thác biển; đồng thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu và
thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước. Ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển
kéo theo sự phát triển của một số ngành khác như công nghiệp hoá dầu, giao thông
vận tải, thương mại trong nước và khu vực. Trong những năm qua, giá trị khai thác
dầu mỏ và khí thiên nhiên liên tục tăng. Năm 1996 là 15.002,7 tỷ đồng, năm 2000 là
45.401,6 tỷ đồng, năm 2005 đạt 86.379,1 tỷ đồng và năm 2006 là 93.645,7 tỷ đồng.
Ngành công nghiệp dầu khí đã đóng góp một phần đáng kể cho sản phẩm xuất khẩu
và tăng GDP cho đất nước.
3) Giao thông vận tải biển. Như đã trình bày ở phần trước, nước ta có nhiều
điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải biển. Hệ thống cảng của nước ta
gồm cảng biển và cảng sông với khoảng trên 90 cảng lớn nhỏ và được phân bố tương
đối đều dọc theo bờ biển từ bắc vào nam. Hệ thống cảng biển của nước ta được chia
thành 6 nhóm:
- Nhóm cảng biển phía bắc (cảng Hải Phòng, Cái Lân, Cửa Ông, Hòn Gai, v.v.);
- Nhóm cảng biển Bắc Trung Bộ (các cảng quan trọng là Nghi Sơn, Vũng Áng);
- Nhóm cảng biển Trung Trung Bộ (từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi gồm các
cảng chính Hòn La, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất);
- Nhóm cảng biển Nam Trung Bộ (từ Bình Định đến Bình Thuận có cảng
Quy Nhơn, Nha Trang, tương lai là Vân Phong);
- Nhóm cảng vùng Đông nam Bộ (cảng Sài Gòn, Vũng Tàu- Thị Vải và cảng
Cái mép đang xây dựng)
- Nhóm cảng đồng bằng sông Cửu Long. Cùng với hệ thống cảng, kho bãi, biển
Việt Nam thông với 2 đại dương lớn là Thái Bình dương và Ấn Độ dương và đội tàu
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ngày càng vững mạnh, trong những năm vừa qua vận tải hàng hóa bằng đường biển đã
tăng lên đáng kể từ 7.306,9x10
3
tấn năm 1995 tăng lên 15.552,5x10
3
tấn năm 2000 và
42.639,4x10
3
tấn năm 2006. Như vậy tổng lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường
biển trong 12 năm qua (1995 - 2006) đã tăng gần 6 lần.
4) Du lịch và giải trí biển. Du lịch và giải trí biển là một lĩnh vực hoạt động
kinh tế không mới ở nước ta. Tuy nhiên, trong khoảng 10 năm trở lại đây, đặc biệt từ
năm 2000, du lịch và nghỉ dưỡng cũng như giải trí biển đã được mở rộng đáng kể.
Hiện nay, nước ta có nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận
lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á, như: Vũng Tàu, Phan Thiết, Nha
Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh Một số loại hình du lịch biển mới
cùng đã được dưa vào nước ta như lướt ván, thuyền buồm, v.v. Song, tắm biển vẫn
là hình thức phổ biến nhất, bởi vì dọc theo chiều dài bờ biển nước ta ở đâu cũng có
bãi cát từ bãi Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh) đến Bãi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang).
Doanh thu từ du lịch và số lượt khách du lịch người nước ngoài (du lịch nói chung)
cũng tăng theo thời gian. Doanh thu từ du lịch nói chung trong giai đoạn
2000 - 2006 tăng lên gần 5 lần: năm 2000 là 3.458,5 tỷ đồng, năm 2006 là 16.732,0 tỷ
đồng. Còn số lượt khách nước ngoài đã vượt con số 2 triệu kể từ năm 2005 (2005 là
2.038,5x10
3
lượt người, năm 2006 là 2.068,9x10
3
lượt người và năm 2006 là
2.605,7x10
3
).
Các hoạt động kinh tế biển trên đây đã góp phần giải quyết được đáng kể về
thu nhập từ quy mô Nhà nước cho đến người lao động. Một số vấn đề xã hội cũng
được giải quyết, như: tăng việc làm giảm lao động thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội,
xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh trật tự, chủ quyền quốc gia trên các vùng biển
của Tổ quốc. Tuy nhiên, trong quá trình này cũng bộc lộ một số vấn đề về môi trường
bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Đó là việc sử dụng các nguồn
tài nguyên biển chưa hợp lý (quy hoạch sử dụng đất đai chưa phù hợp, khai thác
nguồn lợi hải sản quá mức, v.v.) dẫn đến sự suy thoái môi trường (ô nhiễm và các tai
biến thiên nhiên) tự nhiên của biển và vùng đất ven biển, đặc biệt là đối với vùng
duyên hải (đới bờ biển). Đó là sự xung đột giữa các lĩnh vực kinh tế biển với nhau
(nghề cá - phát triển công nghiệp - giao thông vận tải - du lịch) và ngay trong một lĩnh
vực (chẳng hạn giữa đánh bắt - nuôi trông - chế biến hải sản, giữa cảng và tàu, giữa
xây dựng hạ tầng cơ sở và cảnh quan trong du lịch biển, v.v.). Đây là những vấn đề
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển ở nước ta.
Như vậy, phát triển kinh tế biển ở Việt Nam chưa được coi là bền vững.
Trong khi đó, mục tiêu hiện nay của cộng đồng quốc tế nói chung và của từng quốc
gia ven biển nói riêng là phát triển bền vững như Chương trình Nghị sự 21, chương 17
của Liên Hợp quốc đã đưa ra . Để giải quyết vấn đề này, trước tiên cần phải đánh giá
và dự báo những biến động về các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, kinh
tế - văn hóa - xã hội của toàn bộ các vùng biển và thềm lục địa cũng như dải đất liền
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ven biển. Tiếp theo, từ những cơ sở khoa học này tiến hành xây dựng quy hoạch chiến
lược phát triển kinh tế biển bền vững chung cho cả nước. Trên cơ sở mục tiêu chiến
lược chung của cả nước, các địa phương, các ngành sẽ xây dựng quy hoạch hành động
riêng cho địa phương mình, ngành mình.
IV) Thực trạng và thách thức:
1. Thực trạng
Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình
quân đạt khoảng 47-48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt
khoảng 20-22% tổng GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các
ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải sản,
hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), du lịch biển. Các ngành kinh tế có liên
quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế
biến thủy, hải sản, thông tin liên lạc, bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô còn
rất nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước), song trong
tương lai sẽ có mức gia tăng nhanh hơn.
Gần đây, kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển nhờ chính sách di dân và
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo (hệ thống giao thông, mạng lưới điện, cung
cấp nước ngọt, trường học, bệnh xá ). Tuy vậy, có thể nhận định một cách khái quát
rằng, sự phát triển của kinh tế biển còn quá nhỏ bé và nhiều yếu kém. Quy mô kinh tế
biển Việt Nam chỉ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD; trong khi sản lượng kinh tế biển của thế
giới ước 1.300 tỷ USD, Nhật Bản là 468 tỷ USD, Hàn Quốc là 33 tỷ USD. Cơ sở hạ
tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu. Hệ thống cảng biển nhỏ
bé, manh mún, thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp. Các
chỉ tiêu hàng thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực (chỉ
bằng 1/140 của Singapore, 1/7 của Malaysia và 1/5 của Thái Lan).
Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển, nối
liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệ thống kinh tế
biển liên hoàn. Các sân bay ven biển và trên một số đảo nhỏ bé. Các thành phố, thị trấn,
khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển còn nhỏ bé, đang trong thời kỳ bắt đầu xây dựng.
Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học-công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế
biển, các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo thời thiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm
cứu hộ, cứu nạn, còn nhỏ bé, trang bị thô sơ.
Du lịch biển là một tiềm năng kinh doanh lớn. Vùng biển và ven biển tập trung
tới 3/4 khu du lịch tổng hợp và 10/17 khu du lịch chuyên đề. Tuy nhiên, ngành du lịch
biển vẫn thiếu những sản phẩm dịch vụ biển-đảo đặc sắc có tính cạnh tranh cao so với
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khu vực và quốc tế và chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế. Khai thác
hải sản và nuôi thuỷ sản nước lợ vốn là lĩnh vực kinh tế đặc trưng của biển đã đóng góp
khoảng hơn 3 tỷ USD trong tổng giá trị thuỷ sản xuất khẩu (2008) và tạo việc làm cho
hơn 1 triệu lao động đánh cá trực tiếp, nuôi thuỷ sản và 50 vạn lao động dịch vụ liên
quan.
Đối với các lĩnh vực kinh tế liên quan trực tiếp đến biển như chế biến sản phẩm
dầu, khí; chế biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối biển công
nghiệp, các dịch vụ kinh tế biển và ven biển (như thông tin, tìm kiếm cứu nạn hàng hải,
dịch vụ viễn thông công cộng biển trong nước và quốc tế, nghiên cứu khoa học-công
nghệ biển, xuất khẩu thuyền viên, ) hiện chủ yếu mới ở mức đang bắt đầu xây dựng,
hình thành và quy mô còn nhỏ bé.
Như vậy, việc sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững. Trình độ
khai thác và sử dụng tài nguyên biển của nước ta vẫn đang ở tình trạng lạc hậu nhất
trong khu vực.Việt Nam tuy là một quốc gia biển, song đến nay, chúng ta vẫn chưa thực
sự dựa vào biển để phát triển đúng tiềm năng và thế mạnh.
2. Thách thức
Lịch sử phát triển của thế giới cho thấy những bước đột phá phát triển mang tầm
thế giới cho đến nay hầu như đều bắt nguồn từ những quốc gia -biển (đại dương). Đó là
Italia, Anh, Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc Ngày nay, thế giới đang bước vào giai
đoạn bùng nổ phát triển mới với xu hướng ngày càng khẳng định tầm quan trọng to lớn
của biển và đại dương.Tình trạng khan hiếm nguyên liệu, năng lượng trở nên gay gắt
hơn bao giờ hết, dẫn tới cạnh tranh thị trường, tranh chấp lãnh thổ và xung đột quốc gia
thường xuyên và gay gắt. Vươn ra biển, khai thác đại dương đã trở thành khẩu hiệu
hành động mang tính chiến lược của toàn thế giới.
Tuy nhiên, trong vấn đề phát triển kinh tế biển có nhiều thách thức đang được
đặt ra. Đó là tài nguyên biển thuộc dạng tài nguyên chia sẻ , chứa đứng “yếu tố không
gian”, là tiền đề phát triển đa ngành. Song, việc quản lý biển, đảo đến nay vẫn theo cách
tiếp cận mở kiểu “điền tư, ngư chung” và chủ yếu quản lý theo ngành. Trong một thời
gian dài, quản lý biển đã thuộc về nhiều ngành, cơ quan và chủ yếu quan tâm đến vấn đề
chủ quyền, an ninh trên biển,…quản lý tài nguyên và môi trường biển xem như còn bỏ
trống. Các phương thức,cách tiếp cận mới chậm được áp dụng, nếu đã áp dụng cũng
chưa có khả năng nhân rộng, như: tiếp cận hệ thống, tổng hợp, liên ngành trong quản lý
biển và vùng bờ, quản lý dựa vào hệ sinh thái và đồng quản lý.
Khu vực Biển Đông đang có tranh chấp gay gắt, nên việc hợp tác và hội nhập
14
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quốc tế để phát triển kinh tế ở khu vực này còn gặp không ít khó khăn. Việc giải quyết
các tranh chấp liên quan đến biển, những vi phạm trong quá trình sử dụng, khai thác tài
nguyên biển chưa có các quy định cụ thể mang tính pháp quy như trong quản lý sử dụng
đất trên đất liền và còn nhiều bất cập.
Ngoài ra, nước ta là một trong 5 nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi
khí hậu và dâng cao mực nước biển, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ. Các hệ
sinh thái ven biển, các giá trị dịch vụ của chúng, người dân ven biển và trên các đảo là
những đối tượng dễ bị tổn thương và bị tác động mạnh mẽ nhất, nhưng đến nay còn
thiếu những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này, cũng như chưa có giải pháp lồng ghép và
mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển.
Để quản lý và khai thác biển có hiệu quả, Chính phủ đã quyết định thành lập
Uỷ ban Biên giới quốc gia và Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Nghị định số
25/2008/NĐ-CP ngày 4 tháng 3 năm 2008). Tổng cục này có chức năng quản lý nhà
nước thống nhất và tổng hợp về biển và hải đảo - vấn đề còn rất mới mẻ với các nhà
quản lý và hoạch định chính sách của Việt Nam.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế đang gặp phải nhiều khó khăn. Do đó
mà kinh tế biển càng phải vượt qua nhiều thách thức. Để giàu từ biển, mạnh lên từ biển
nước ta cần phải xây dựng được một nền khoa học - công nghệ biển hiện đại; phát triển
được một nền kinh tế biển hiệu quả, bền vững và có khả năng hội nhập quốc tế; có một
phương thức quản lý tổng hợp biển và bảo đảm được an ninh chủ quyền vùng biển.
V) Kết luận
Từ những điều trình bày trên đây, có thể rút ra mộ vài kết luận sau:
1. Việt Nam có đường bờ biển kéo dài trên 13
o
vĩ tuyến án ngữ gần như toàn bộ
bờ phía tây của Biển Đông. Các vùng biển của Việt Nam đã được Chính phủ tuyên bố
bao gồm vùng nội thủy (phía trong đường cơ sở), lãnh hải (rộng 12 hải lý tính từ
đường cơ sở), vùng tiếp giáp lãnh hải (rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở), vùng đặc
quyền kinh tế (rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở) và thềm lục địa (mở rộng đến bờ
ngoài của rìa lục địa, nơi nào hẹp hơn thì mở rộng đến 200 hải lý).
2. Các vùng biển của Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cả
trong khối nước, trên đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển bao gồm tài nguyên
sinh vật (động, thực vật), tài nguyên khoáng sản (dầu mỏ, khí thiên nhiên, than, các
loại sa khoáng, vật liệu xây dựng, ), tài nguyên năng lượng (thủy triều, sóng, gió, mặt
trời, v.v.) và các tài nguyên đặc biệt khác (không gian mặt biển, địa hình bờ và đảo,
các cảnh quan, v.v.).

Xem chi tiết: Kinh tế biển Việt Nam


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét