Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh hàng may mặc của Cty dệt may Hà Nội trên thị trường EU

của mình với giá thị trờng. Nh vậy họ phải chấp nhận giá thị trờng có sẵn và
dù họ có tăng giảm lợng hàng hoá bán ra thì cũng không có tác động gì đến
giá cả thị trờng. Không có trở lực gì quan trọng ảnh hởng đến việc gia nhập
vào một thị trờng hàng hoá, nói cách khác là không có sự cấm đoán do luật lệ
quy định hoặc do tính chất của sản phẩm đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật cao,
mức đầu t quá lớn. Theo thị trờng này mỗi doanh nghiệp chỉ là một phần tử
trong tổng thể vì vậy các quyết định của doanh nghiệp không ảnh hởng đến thị
trờng. Mặt khác việc định giá của doanh nghiệp không cách nào khác hơn là
phải tự thích ứng với giá cả hiện có trên thị trờng. Muốn có lãi doanh nghiệp
phải giảm thấp chi phí sản xuất.
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo sẽ có tác dụng thúc đảy các doanh nghiệp
không ngừng cải tiến cơ cấu sản phẩm cho phù hợp với thị hiếu ngời tiêu dùng
nhng đồng thời phải tìm cách giảm chi phí sản xuất xuống mức thấp nhất có
thể để phục vụ ngời tiêu dùng những sản phẩm tốt nhất với giá rẻ nhất. Khi đó
doanh nghiệp mới có khả năng tồn tại đợc trong thị trờng cạnh tranh hoàn hảo.
Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thế giới hiện nay rất khó tìm thấy hình thái
này.
2.1.2. Cạnh tranh không hoàn hảo.
Thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh bình thờng vì
nó phổ biến trong điều kiện hiện nay. Đây là thị trờng mà phần lớn các sản
phẩm là không đồng nhất. Cùng sản phẩm có thể chia làm nhiều thứ loại, nhiều
chất lợng Sản phẩm tơng tự có thể đợc bán với nhiều nhãn hiệu khác nhau,
mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau. Mặc dù, sự khác biệt
giữa các sản phẩm không đáng kể (sự khác biệt mang ý nghĩa quan niệm, tâm
lý là chính): các điều kiện mua bán hàng hoá cũng là khác nhau. Ngời bán có
thể có uy tín độc đáo riêng biệt đối với ngời mua do nhiều lý do khác nhau:
khách hàng quen, gây đợc lòng tin hay các cách thức quảng cáo cũng có thể
ảnh hởng tới ngời mua, làm ngời mua thích mua của một nhà cung ứng này hơn


5
của một nhà cung ứng khác.
Đờng cầu của thị trờng là đờng không co dãn. Việc mua và bán sản phẩm
đợc thực hiện trong bầu không khí có tính chất giao thơng rất lớn, điều này
khác hẳn với thị trờng cạnh tranh hoàn hảo. Ngời bán có thể thu hút khách
hàng bởi nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại, phơng thức bán hàng, cung cấp
dịch vụ, tín dụng, hoặc có nhiều điều khoản u đãi Do đó, trong giá có sự phân
biệt, xuất hiện hiện tợng nhiều giá. Có thể nói giá cả nên xuấng thất thờng tuỳ
khu vực, tuỳ nguồn cung ứng, tùy ngời mua.
2.1.3. Cạnh tranh độc quyền.
Cạnh tranh độc quyền:
Trong thị trờng cạnh tranh độc quyền, các doanh nghiệp cạnh tranh với
nhau bằng việc bán sản phẩm phân biệt, các sản phẩm có thể thay thế cho nhau
ở mức độ cao nhng không phải là thay thế hoàn hảo. Nghĩa là độ co dãn của
cầu là cao chứ không phải là vô cùng.Vì những lý do khác nhau (chất lợng,
hình dáng, danh tiếng ) ngời tiêu dùng coi mặt hàng của mỗi doanh nghiệp
khác với của các doanh nghiệp khác. Do đó một số khách hàng sẵn sàng trả
giá cao hơn cho sản phẩm mình thích, trong ngắn hạn khó ra nhập thị trờng
nhng dài hạn thì có thể . Nhà sản xuất định giá nhng không thể tăng giá một
cách bất hợp lý, về dài hạn thì không thể trở thành thị trờng độc quyền đợc.
Cạnh tranh độc quyền sử dụng các hình thức cạnh tranh phi giá nh quảng cáo,
phân biệt sản phẩm .
Độc quyền tập đoàn:
Trong thị trờng độc quyền tập đoàn, sản phẩm có thể giống nhau hoặc
khác nhau và chỉ có một số doanh nghiệp sản xuất toàn bộ hay hầu hết toàn bộ
tổng sản lợng.Tính phụ thuộc giữa các doanh nghiệp là lớn, hành vi của doanh
nghiệp này ảnh hởng tới doanh nghiệp khác. Nếu một doanh nghiệp giảm giá
sẽ dẫn đến tình trạng phá giá do các doanh nghiệp dễ kết cấu với nhau. Nhng
vì cạnh tranh bằng giá không có lợi do vậy ngời ta chuyển sang cạnh tranh
bằng chất lợng sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm. Trong thị trờng độc quyền tập


6
đoàn, một số hoặc tất cả các doanh nghiệp đều thu hút đợc lợi nhuận đáng kể
trong dài hạn thì có các hàng rào ra nhập làm cho các doanh nghiệp mới không
thể hoặc khó mà ra nhập thị trờng. Về dài hạn có thể dẫn đến độc quyền. Trong
độc quyền tập đoàn, các nhà sản xuất cũng sử dụng nhiều hình thức cạnh tranh
phi giá nh quảng cáo hoặc phân biệt sản phẩm giống nh trong cạnh tranh độc
quyền.
2.2. Căn cứ vào các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trờng:
Cạnh tranh giữa ngời
bán và ngời mua :
Là cuộc cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua diễn ra theo quy luật mua rẻ
bán đắt trên thị trờng.Ngời bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất,
ngợc lại ngời mua muốn mua với giá thấp nhất. Giá cuối cùng là giá thống
nhất giữa ngời mua và ngời bán sau một quá trình mặc cả với nhau mà theo đó
hoạt động mua bán đợc thực hiện.
Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau :
Là cuộc cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu. Khi lợng cung một loại
hàng hoá, dịch vụ nào đó quá thấp so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh
giữa những ngời mua sẽ trở nên quyết liệt. Lúc đó giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ
tăng vọt nhng do hàng hoá khan hiếm nên ngời mua vẫnsẵn sàng trả giá cao
cho hàng hoá mình cần. Kết qủa là ngời bán thu đợc lợi nhuận cao còn ngời
mua thì bị thiệt. Đây là cuộc cạnh tranh mà theo đó những ngời mua sẽ bị thiệt
còn những ngời bán đợc lợi .
Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau :
Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, chiếm đa số trên thị tr-
ờng.Thực tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển càng có nhiều ngời
bán dẫn đến cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên nhiều phơng diện và nhiều
hình thức đa dạng khác nhau. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật
một mặt tác động đến các nhà sản xuất, một mặt làm thay đổi nhu cầu của ngời
mua, do đó nó dần làm biến đổi vị trí của các yếu tố cạnh tranh. Một cách


7
chung nhất cạnh tranh là sự ganh đua ở các giác độ : chât lợng, giá cả, nghệ
thuật tổ chức tiêu thụ và thời gian. Giá là yếu tố thứ nhất của cạnh tranh, đây là
hình thức cạnh tranh đợc sử dụng nhiều nhất. Khi nhu cầu con ngời phát triển
cao hơn thì yếu tố chất lợng sản phẩm chiếm vị trí chính yếu. Đến nay vào
những năm cuối của thế kỷ 21

thì với các doanh nghiệp lớn họ có với nhau sự
cân bằng về giá cả thì yếu tố thời gian và tổ chức tiêu thụ sản phẩm là quan
trọng nhất.
3. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp.
3.1. Cạnh tranh bằng giá cả.
Theo lý thuyết về cung cầu, giá cả đợc hình thành bởi sự gặp gỡ của cung
và cầu, nhng doanh nghiệp hoàn toàn có thể định giá cho sản phẩm của mình
tuỳ theo mục đích kinh doanh cụ thể, chỉ cần mức giá đó bù đắp đợc chi phí sản
xuất và có lãi. Do vậy, doanh nghiệp thờng chọn giá cả làm công cụ cạnh tranh
của mình. Trong kinh doanh nói chung và kinh doanh quốc tế nói riêng- để
giành đợc phần thắng trong cuộc chạy đua kinh tế thì các doanh nghiệp thờng
đa ra một mức giá thấp hơn giá của các đối thủ cạnh tranh nhằm lôi cuốn khách
hàng, qua đó tiêu thụ nhiều hơn hàng hoá và dich vụ. Các đối thủ cũng hoàn
toàn có thể phản ứng lại bằng cách hạ giá thấp hơn. Phơng thức cạnh tranh này
khi đã trở nên gay gắt thì nó sẽ biến thành cuộc chiến tranh về giá cả giữa các
doanh nghiệp.
3.2. Cạnh tranh bằng chất lợng.
Khi thu nhập và đời sống của dân c ngày càng cao thì phơng thức cạnh
tranh bằng giá xem ra không có hiệu quả. Chất lợng của sản phẩm và dịch vụ là
mối quan tâm của khách hàng, nên nếu nh hàng hoá có chất lợng thấp thì dù có
bán giá rẻ cũng không tiêu thụ đợc. Để nâng cao khả năng cạnh tranh bằng
hàng hoá và dịch vụ, doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải nâng cao
chất lợng sản phẩm và dịch vụ. Chất lợng đợc thể hiện qua nhiều yếu tố của sản
phẩm, nếu doanh nghiệp không đủ điều kiện phát triển mọi yếu tố chất lợng thì


8
vẫn có thể đi sâu khai thác thế mạnh một hoặc một vài yếu tố nào đó.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và kỹ thuật cũng nh sự
bành trớng của các công ty đa quốc gia, thì vấn đề cạnh tranh bằng chất lợng
trở nên gay gắt khi các sản phẩm đa ra thị trờng đều đảm bảo chất lợng cao.
Chính vì vậy, đối với các quốc gia có trình độ sản xuất còn nhiều hạn chế sẽ rất
khó có khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
3.3. Cạnh tranh bằng dịch vụ.
Ngoài phơng thức cạnh tranh bằng giá cả, cạnh tranh chất lợng thì trên
thực tế các doanh nghiệp còn cạnh tranh với nhau bằng dịch vụ. Đây là phơng
thức cạnh tranh hết sức phổ biến trên thị trờng quốc tế- đó có thể là dịch vụ trớc
khi bán hàng, dịch vụ bán hàng tận nơi cho khách, dịch vụ sau khi bán hàng.
Các phơng thức dịch vụ ngày càng đợc sử dụng rộng rãi và đa dạng hơn, nhất là
khi lĩnh vực dịch vụ đang tăng dần tỷ trọng trong cơ cấu nền kinh tế. Cạnh
tranh bằng dịch vụ có hiệu quả rất cao vì khi đó khách hàng thấy mình đợc tôn
trọng hơn và do đó họ sẽ có cảm tình với sản phẩm và doanh nghiệp.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể sử dụng các phơng thức kết hợp hoặc biến
tấu dựa trên các phơng thức cơ bản. Các phơng thức về marketing (chiêu hàng,
tiếp thị, quảng cáo, nghiên cứu và phân tích thị trờng) cũng đợc sử dụng nh
một công cụ cạnh tranh, bởi nó ảnh hởng lớn tới hiệu quả việc tiếp cận và
chiếm lĩnh thị trờng của doanh nghiệp.
4. Mô hình cạnh tranh của M. Porter.
Theo quan điểm của M.Porter, các nhân tố ảnh hởng tới sức cạnh tranh
của hàng hoá có thể tổng hợp 5 nhóm nhân tố cơ bản và đợc coi là 5 sức mạnh
tác động đến sức cạnh tranh của nó trên thị trờng .
Hình 1: Mô hình năm nhân tố cạnh tranh của M.Porter




9
Những đối thủ
tiềm tàng.
Các đối thủ cạnh tranh
trong nội bộ ngành.
Ngời cung cấp.
Ngời mua.

4.1. Sự đe doạ của những đối thủ cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng vì các
đối thủ cạnh tranh sẽ quyết định tính chất và mức độ tranh đua. Nếu các đối thủ
này yếu doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá bán và kiếm đợc nhiều lợi nhuận
hơn. Ngợc lại, khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá
là không đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn tới tổn hại cho các
bên.
Bàn về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành sản xuất ta th-
ờng nói tới những nội dung chủ yếu nh: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng
cầu của ngành và các hàng rào lối ra.
+ Cơ cấu cạnh tranh của ngành dựa vào số liệu và khả năng phân phối sản
phẩm của doanh nghiệp trong ngành sản xuất. Cơ cấu cạnh tranh thay đổi từ
ngành sản xuất phân tán tới ngành sản xuất tập trung. Bản chất và mức độ cạnh
tranh đối với các ngành tập trung là rất khó phân tích và dự đoán.
+ Tình trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnh
liệt trong cạnh tranh nội bộ ngành. Thông thờng, cầu tăng tạo cho doanh
nghiệp một cơ hội lớn để mở rộng hoạt động. Ngợc lại, cầu giảm dẫn đến cạnh
tranh khốc liệt để các doanh nghiệp giữ đợc phần thị trờng đã chiếm lĩnh.
+ Hàng rào lối ra là mối đe doạ cạnh tranh nghiêm trọng khi cầu của ngành
giảm mạnh. Đó là kinh tế, chiến lợc và là quan hệ tình cảm giữ doanh nghiệp
trụ lại. Nếu hàng rào lối ra cao, các doanh nghiệp có thể bị khoá chặt trong một
ngành sản xuất không a thích.
Hàng rào lối ra thờng bao gồm: Đầu t nhà xởng và thiết bị, chi phí trực
tiếp cho việc rời bỏ ngành là cao, quan hệ chiến lợc giữa các đơn vị chiến lợc
kinh doanh, hay đó là chi phí xã hội khi thay đổi nh khó khăn về sự sa thải
nhân công, chi phí đào tạo lại.


10
Các sản phẩm thay
thế.
Do vậy nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh
giá chính xác khả năng của những đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là những đối thủ chính
để xây dựng cho mình chiến lợc cạnh tranh thích hợp với môi trờng chung.
4.2. Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại cha cạnh
tranh trong cùng một ngành sản xuất, nhng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa
chọn và quyết định gia nhập ngành. Đây là đe doạ cho các doanh nghiệp hiện
tại. Các doanh nghiệp hiện tại cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn ra
nhập ngành vì càng nhiều doanh nghiệp có trong một ngành sản xuất thì cạnh
tranh càng khốc liệt hơn. Với sự mong muốn chiếm lĩnh một thị phần nào đó
các đối thủ mới có thể làm giá bán bị kéo xuống hoặc chi phí của các công ty
đi trớc có thể bị tăng lên và kết quả làm giảm mức lợi nhuận. Sự xâm nhập vào
một ngành, với dự định xây dựng một vị trí trên thị trờng kiểu đó có lẽ cần đợc
coi nh một sự nhập cuộc của đối thủ mới. Việc tạo ra hàng rào hợp pháp ngăn
cản sự xâm nhập từ bên ngoài hoặc sự phản ứng khôn khéo của các doanh
nghiệp đang cạnh tranh sẽ làm giảm bớt mối hiểm hoạ hoặc do doanh nghiệp
mới xâm nhập gây ra. Những rào cản chủ yếu đợc xác định là:
+ Những u thế tuyệt đối về chi phí: Có thể đó là u thế về các sáng chế, việc
làm chủ một công nghệ riêng đặc thù hoặc có một nguồn nhân lực chuyên
nghiệp, làm chủ đợc nguồn nguyên vật liệu cũng nh kinh nghiệm cho phép có
đợc các chi phí thấp hơn.
+ Hoặc đó có thể là lợi thế về chi phí cố định vì các đối thủ cạnh tranh hiện
tại thờng có những lợi thế chi phí mà các đối thủ mới không thể nào có đợc, lợi
thế này không phụ thuộc vào quy mô doanh nghiệp nh: Bản quyền về công
nghệ và sản phẩm, lợi thế về nguồn cung cấp nguyên vật liệu, lợi thế về vị trí
địa lý, hay kinh nghiệm và kĩ năng trong sản xuất.
+ Ngoài ra có thể kể đến những loại chi phí khác nh chi phí đặt cọc, tiền cợc.
Đây là một khoản tiền lúc đầu buộc khách hàng mua sản phẩm của một doanh
nghiệp lúc đầu phải trả nếu họ không mua sản phẩm của ngành đó nữa và


11
chuyển sang mua sản phẩm của một doanh nghiệp khác hay là chi phí phạt do
thay đổi hãng hợp đồng tiêu thụ hoặc cung cấp vật t. Hầu hết các khách hàng
đều phải thực hiện việc bồi thờng trừ phi các nhà cung cấp mới những cải tiến
có lợi về chi phí và thực hiện.
+ Sự khác biệt hoá của sản phẩm khiến cho khách hàng trung thành với nhãn
hiệu sản phẩm của các doanh nghiệp có vị thế uy tín vững vàng hoặc đã đứng
vững.Thờng các doanh nghiệp này có u thế cạnh tranh về chất lợng sản phẩm,
về dịch vụ hậu mãi hoặc về khả năng chuyên biệt hoá sản phẩm Sự trung
thành với nhãn hiệu là nguồn rào cản khiến cho các doanh nghiệp mới tham gia
khó lòng giành giật thị phần trên thơng trờng. Các doanh nghiệp có tiềm năng
hẳn phải tốn kém rất nhiều để bẻ gãy lòng u ái đã đợc củng cố của khách hàng
với các nhãn hiệu đã có uy tín trớc đó.
+ Kinh tế quy mô hay còn gọi là kinh tế bậc thang: Các chi phí về sản xuất,
phân phối, bán, quảng cáo, dịch vụ nghiên cú sẽ giảm bớt với sự gia tăng của số
lợng bán. Hay nói cách khác số lợng sản xuất và bán tăng lên thì chi phí cho
một đơn vị sản phẩm càng giảm đi.
+ Kênh phân phối chủ yếu đã đợc thiết lập của các doanh nghiệp hiện tại
cũng là một vật cản đối với các doanh nghiệp muốn nhảy vào chia sẻ thị trờng.
Để tham gia vào mạng lới phân phối đã đợc thiết lập các doanh nghiệp mới
thông thờng phải chia sẻ các chi phí quảng cáo hoặc hỗ trợ bán hàng. Mọi chi
phí này sẽ làm giảm lợi nhuận của các đối thủ mới; Trong khi đó các đối thủ
cạnh tranh hiện tại có thể giữ chặt các các kênh phân phối dựa trên cơ sở các
mối quan hệ lâu dài, chất lợng phục vụ cao Nh vậy buộc doanh nghiệp mới
phải tạo ra một mạng lới phân phối mới và đó là một cản trở đáng kể.
+ Phản ứng lại của các doanh nghiệp hiện tại trong lĩnh vực kinh doanh. Nếu
việc phản ứng lại tích cực và khôn khéo một lối vào trong lĩnh vực đó là có thể
đợc. Nhng nếu phản ứng lại bằng một cuộc chiến tranh giá cả thì cái giá phải
trả là quá đắt để nhập ngành bởi các đối thủ cạnh tranh hiện tại phản ứng quyết
liệt, liên kết lại với nhau để đối phó.
4.3. Khách hàng (ngời mua).


12
Khách hàng hay ngời mua hàng là một bộ phận không thể tách rời trong
môi trờng cạnh tranh.Khách hàng tác động đến doanh nghiệp thể hiện mối t-
ơng quan về thế lực nếu nghiêng về phía nào thì phía đó có lợi.Các doanh
nghiệp cần phải làm chủ mối tơng quan này, thiết lập đợc mối quan hệ với
khách hàng để giữ khách hàng (thông qua số lợng, chất lợng, giá cả, điều kiện
giao nhận và dịch vụ sau bán hàng). Khách hàng có u thế là có thể làm cho lợi
nhuận của ngành hàng giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòi hỏi chất lợng
cao hơn và phải làm nhiều công việc dịch vụ hơn.
Khách hàng có thể đợc xem nh một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc
daonh nghiệp phải giảm giá hoặc có nhu cầu chất lợng cao và dịch vụ tốt hơn.
Ngợc lại khi ngời mua (khách hàng) yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ hội
để tăng giá kiếm đợc lợi nhuận nhiều hơn. Ngời mua gồm: Ngời tiêu dùng cuối
cùng, các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ) và các nhà mua công nghiệp.
áp lực của họ thờng đợc
thể hiện trong những trờng hợp sau:
+ Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp .Trong khi
đó ngời mua là số ít và có quy mô lớn, nó cho phép ngời mua chi phối các công
ty cung cấp.
+ Khách hàng mua một khối lợng lớn sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp và
sử dụng đó làm lợi thế để mặc cả cho sự giảm giá không hợp lý.
+ Khách hàng có thể vận dụng chiến lợc liên kết dọc, tức là họ có xu hớng
khép kín sản xuất, tự sản xuất , gia công các bộ phận chi tiết, bán sản phẩm cho
mình.
+ Khách hàng có đầu đủ các thông tin về thị trờng nh nhu cầu, giá cả của các
nhà cung cấp thì áp lực mặc cả của họ càng lớn.
+ Để nâng cao khả năng cao khả năng cạnh tranh thì doanh nghiệp phải giảm
tối đa sức ép trên và tạo môi trờng với các khách hàng qua các chính sách giá,
chất lợng sản phẩm, dịch vụ, biến họ trở thành ngời cộng tác tốt.
4.4. Ngời cung ứng.


13
Đó là những nhà cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, tiền vốn,
lao động đôi khi gây đe doạ khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc
giảm chất lợng các sản phẩm dịch vụ mà họ cung cấp. Qua đó làm giảm lợi
nhuận của doanh nghiệp. Họ thờng gây sức ép trong những tình huống nh:
- Họ độc quyền cung cấp vật t.
- Khi các vật t dợc cung cấp không có khả năng thay thế
- Không có điều khoản ràng buộc hoặc bảo đảm trong các hợp đồng kinh tế đã
kí kết.
- Khi vật t đó quan trọng, quyết định trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
- Khi họ có khả năng khép kín sản xuất.
Vì vậy, doanh nghiệp cần thiết lập quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp và
đa ra các biện pháp rõ ràng buộc với nhà vật t để giảm bớt các ràng buộc họ
có thể gây nên với mình.
4.5. Sản phẩm thay thế.
Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự biến
động của nhu cầu thị trờng theo hớng ngày càng đa dạng hơn, phong phú và
cao cấp hơn, và chính nó lại làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị
thay thế.
Một doanh nghiệp có thể hoạt động thu đợc nhiều lợi nhuận khi trong
ngành kinh doanh đó có các các cản trở xâm nhập cao, mức độ cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp hiện có là thấp, không có sản phẩm thay thế, thế lực khách
hàng yếu và thế lực nhà cung cấp cũng yếu. Ngợc lại, một doanh nghiệp tiến
hành kinh doanh trong một ngành hàng có các cản trở xâm nhập thấp, cạnh
tranh mạnh mẽ, có một số sản phẩm thay thế, thế lực và của khách hàng và nhà
cung cấp mạnh thì kinh doanh của doanh nghiệp sẽ chật vật và lợi nhuận thấp.
Các nhà quản lý cần phải phân tích và hiểu rõ đợc các thế lực trong môi trờng
cạnh tranh, từ đó tận dụng cơ hội và tìm vị trí có lợi nhất cho doanh nghiệp
trong môi trờng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nhận xét về mô hình M.Porter: Đây là mô hình đợc nhiều nhà nghiên cứu và


14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét