Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phác thảo chân dung văn hoá Việt Nam - Một công trình khoa học có
giá trị lớn
Minh Hải
Đúng vào dịp kỷ niệm 55 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc
khánh 2-9, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã cho ra mắt độc giả cuốn
sách Phác thảo chân dung văn hoá Việt Nam. Với gần 800 trang in khổ
lớn, cuốn sách là một công trình khoa học có giá trị lớưn, với sự tha gia
của đông đảo các nhà hoạt động chính trị, văn hoá, khoa học và các nhà
quản lý.
Cuốn sách có ba phần chính. Phần thứ nhất: Văn hoá và sức mạnh
của văn hoá; Pphần thứ hai: Phác thảo chân dung văn hoá Việt Nam;
Phần thứ ba: Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, dậm đà bản
sắc dân tộc. Xuất phát từ những yếu tố cấu thành và sức mạnh của nền
văn hoá trong quá trình dựng nước và giữ nước, nội dung cuốn sách đã
phản ánh khá phong phú những nét chính yếu, in đậm dấu ấn trong văn
hoá vật chất và văn hoá tinh thần của nhân dân ta, tiêu biểu là chủ nghĩa
yêu nước truyền thống. Và, ngày nay nó được kế thừa và nâng lên tầm cao
mới trong thời đại Hồ Chí Minh - thời đại của độc lập dân tộc, là nền tảng
để dân tộc ta có thể phát triển nhanh, bền vững thành một nước công
nghiệp; Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sánh
vai cùng bầu bạn khắp năm châu ở những thập niên đầu thế kỷ 21.
Trong lời tựa cuốn sách, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu viết: “Nhìn lại
lịch sử hàng nghìn năm từ thời các vua Hùng dựng nước đến nay, Việt
Nam thường xuyên phải đối mặt với thiên tai và địch hoạ. Trước những thử
thách ấy, để tồn tại và phát triển, ông cha ta đã sớm biết khơi nguôn sức
mạnh từ chiều sâu của nền văn hoá dân tộc - một nền văn hoá có bề dày
lịch sử, không ngừng được hun đúc, phát triển và làm giàu thêm bằng chắt
lọc tinh hoa các nền văn hoá tiên tiến của nhân loại để tạonê những giá trị
văn hoá cao đẹp, mang đậm bản sức dân tộc, thấm đượm tính nhân văn.
Đó là một nền văn hoá giàu lòng nhân ái, nặng nghĩa đồng bào, ý chí quật
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cường, tinh thần bao dung và lòng tự tin dân tộc, v.v… Điều đó giải thích
rõ vì sao dân tộc Việt Nam đất không rộng, người không đông, kinh tế
chậm phát triển, lại bị hàng nghìn năm phong kiến nước ngoài thống trị và
ra sức đồng hoá mà vẫn anh dũng, kiên cường đấu tranh bảo vệ chủ quyền
dân tộc, đã nhiều phen làm cho kẻ thù khiếp sợ và vẫn giữ vững bản sắc
văn hoá của mình. Minh chứng gần đây nhất là chiến công chói lọi đánh
thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ . Nguyên nhân có nhiều, nhưng trước
hết phải kể đến sức mạnh của chính nghĩa, của khát vọng được sống trong
độc lập tự do, của truyền thống dựng nước và giữ nước, của bản lĩnh, trí
tuệ và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, có thể tóm tắt đó là sức mạnh của
văn hoá Việt Nam được vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử và được phát
huy cao độ ở thời đại Hồ Chí Minh. Sức mạnh ấy được kết tinh trong câu
nói bất hủ của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.
Trải qua trường kỳ của lịch sử, dân tộc ta đã sản sinh ra biết bao
anh hùng hào kiệt tiêu biểu cho dòng dõi con lạc, cháu hồng. Trên lĩnh
vực văn hoá, đã có những nhân vật kiệt xuất được tôn vinh là danh nhân
văn hoá thế giới, đã góp phần làm rạng rỡ non sông đất nước ta, truyền
thống văn hiến của dân tộc ta như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí
Minh…
Đảng ta, ngay từ khi ra đời đã ý thức rõ về vai trò và sức mạnh to
lớn của văn hoá, đã coi văn hoá là một trong những mục tiêu và động lực
cơ bản của cách mạng Việt Nam. Suốt 70 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng
đã có nhiều chỉ thị và nghị quyết về vấn đề văn hoá, mà gần đây nhất là
nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá
VIII) Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc.
“Hiện nay, sau mười năm năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất
nước ta đang chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở
thành một nước công nghiệp. Đây là một sự nghiệp to lớn có nhiều thuận
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
lợi nhưng cũng khong ít khó khăn. Có những khó khăn của bước trưởng
thành, có những khó khăn tuộc cả chủ quan lẫn khách quan của thời kỳ
mới. Một trong những khó khăn và thách thức lớn hiện nay là đẩy lùi và
xoá bỏ những tệ nạn xã hội, những hiện tượng tha hoá, biến chất về tiếp
tuyến, đạo đức, lối sống đang có nguy cơ gia tăng trong xã hội ta, làm
nhức nhối lương tri và xói mòn niềm tin vào con đường mà Đảng, Bác Hồ
và nhân dân ta đã lựa chọn. Hơn lúc nào hết, việc phát huy mạnh mẽ năng
lực nội sinh của dân tộc, sức mạnh của truyền thống văn hoá dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, đang là nhiệm vụ vừa quan trọng vừa
cấp bách góp phần bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước
giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Điều cốt lõi của bản sắc văn hoá Việt Nam .
Trà Hải
Lâu nay tôi được nghe khá nhiều về ý kiến tranh luận về “bản sắc
văn hoá dân tộc Việt Nam”. Nhiều kiến giải khác nhau được đưa ra.
Người đi vào triết học, người đi vào văn hoá dân gian (Folklore), người đi
vào đời sống tâm linh (việc thờ cúng tổ tiên, thần linh, lễ hội ), có người
đi vào những di sản vật chất như kiến trúc, điêu khắc đình chùa v.v… để
chứng minh bản sắc văn hoá Việt Nam. Một số người khác lại duy danh
định nghĩa và thường chứng minh bản sắc văn hoá Việt Nam là sự tiếp thu
có chọn lọc tinh hoá văn hoá nhân loại để biến thành của Việt Nam; Nói
cách khác đã “Việt Nam hoá” các tôn giáo: Nho, Phật, Lão và cả triết học
phương Tây. Những kiến giải nêu trên đều đúng về một phương diện nào
đó, nhưng chưa phải đã tìm được cái góc, cái bản chất của bản sắc văn
hoá. Cái ta đang cần tìm phải là cốt lõi, cái bản chất của bản sắc văn hoá
Việt Nam.
Tôi cho rằng một trong những điều cốt lõi nhất của bản sắc văn hoá
Việt Nam chính là “lòng yêu nước Việt Nam”.
Tất nhiên, trên thế giới, dân tộc nào cũng có lòng yêu nước. Song
lòng yêu nước mỗi dân tộc cũng có chỗ khác nhau, và ở đây tôi nhấn
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
mạnh “bản sắc văn hoá Việt Nam là lòng yêu nước Việt Nam”, bởi lòng
yêu nước của dân tộc Việt Nam không giống bất kỳ một dân tộc nào khác
trên thế giới. Lịch sử thế giới chưa có một dân tộc nào giống như Việt
Nam: bị nghìn năm Bắc thuộc, mười năm Minh thuộc, gần trăm năm Pháp
thuộc, và có lẽ phải kể hai mươi năm Mỹ thuộc trên nửa nước. Lịch sử thế
giới chứng minh số phận nhiều dân tộc bị đô hộ rồi bị đồng hoá luôn, chỉ
trong thời gian rất ngắn (nghĩa là mất dân tộc). Tính từ đầu Công nguyên
đến nay (2000 năm) chưa có một dân tộc nào bị đô hộ đến hơn một nửa
thời gian và đã qua bốn lần ở những thời kỳ khác nhau nhưng không
những không bị đồng hoá, mà lại vùng dậy tự giải phóng được mình như
dân tộc Việt Nam.
Thử hỏi có dân tộc nào trên thế giới lại có chung một mộ Tổ và có
một ngày giỗ Tổ như ở nước ta? Ngày giỗ Tổ, ở đền Hùng, con cháu cả
nước hành hương về để tưởng niệm ông cha, và có những hình thức sinh
hoạt văn hoá cộng đồng, thể hiện rất rõ nét bản sắc văn hoá của mình. Có
dân tộc nào trên thế giới lấy từ “đồng bào” làm đại từ chung và trong ứng
xử xã hội thì theo đạo lý “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” hoặc “thương
người như thể thương thân”. Các dân tộc trên thế giới có lẽ cũng có những
truyền thuyết về sự hình thành dân tộc mình. Nhưng theo tôi nghĩ không
có dân tộc nào có một truyền thuyết kiểu “bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ”
như của Việt Nam? Và mặc dầu ai cũng biết đó chỉ là huyền thoại, vậy mà
ai cũng thấy thiêng liêng, ai cũng muốn tin là thật. Trong bản Tuyên ngôn
độc lập (1945) cũng đã được Bác Hồ mở đầu bằng câu “Thưa đồng bào”.
Và cảm động hơn khi Bác nhắc lại: “Tôi nói đồng bào nghẽ rõ không?”.
Có trường hợp như Lý Long Tường - Hoàng tử triều Lý sang lập nghiệp
tận Hàn Quốc gần 800 năm mà giờ đây con cháu vẫn lần theo gia phả và
di chúc tìm về cội nguồn. Và những người mới rời Tổ quốc vài chục năm
nay đang họp cộng đồng dựng đền thờ Tổ Vua Hùng tại Mỹ. Nhiều người
châu Âu hiện đang cho rằng miền đất nào đời sống sung sướng là Tổ
quốc. Nhiều quốc gia khác người ta đầu có khái niệm “Tổ quốc” thiêng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
liêng như Việt Nam! Còn ở nước ta ngay từ năm 40 Hai Bà Trưng khi
dựng cờ khởi nghĩa đã ra tuyên ngôn:
Một xin rửa sạch quốc thù.
Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng.
Ba khỏi oan ức lòng chồng.
Như vậy thù riêng chỉ xếp vào hàng thứ ba mà thôi, còn quốc thù
mới là trọng!
Đến “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, Lý Thường Kiệt khẳng định
rạch ròi bờ cõi tự sách trời. Tổ quốc đây không trìu tượng. Tổ quốc đây là
bờ cõi Việt Nam do ông cha tạo dựng !
Những áng hùng văn ki cổ ấy ta còn gặp nhiều trong các thế hệ sau
như “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn
Trãi, Hịch của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ, Thư trả lời quân
Pháp của Nguyễn Quang Bích và đến cách mạng cận đại, Nguyễn Thái
Học khi lên đoạn đầu đài còn dõng dạc đọc thơ bằng tiếng Pháp:
Mourir pour Sa patrie
C’est le sort le plus beau
Le plus digne d’envie…
Nghĩa là:
Chết vì Tổ quốc
Cái chết vinh quang
Lòng ta sung sướg trí ta nhẹ nhàng…
Từ thế hệ nho học chuyển sang tân học, người thanh niên Việt Nam
vốn chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp lại dùng văn hoá Pháp để chống lại
bọn thực dân và khi chọn cái chết cũng là chết vì Tổ quốc. Chúng ta có
thể kể ra biết bao nhiêu những tấm gương yêu nước, anh dũng hy sinh cho
Tổ quốc qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, nhất là sau khi Đảng ta thành
lập và lãnh đạo nhân dân làm cách mạng.
Trước khi đặt bút viết bài này, tôi có đọc lại cuốn “Văn hoá và đổi
mới” của Cố vấn Phạm Văn Đồng. Thật là có lý khi ông viết về sự đổi
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
mới của văn hoá hôm nay mà không quên nhắc lại lịch sử, ca ngợi thời
dựng nước của vua Hùng, đến thời kỳ đấu tranh của dân tộc nghìn năm
Bắc thuộc và thời kỳ phong kiến tự chủ. Nhưng ông cũng phê phán triều
Nguyễn: “Trong lịch sử nước ta… không bao giờ dân tộc Việt Nam gặp
cảnh yếu hàn như vậy, mất nước dễ dàng như vậy… Dưới thời Tự Đức lực
lượng viễn chinh Pháp chẳng có bao nhiêu, đồng thời chúng gặp phải rất
nhiều khó khăn trong lĩnh vực hậu cần. Cái nghịch lý đau buồn là nhà vua
đầu hàng và ngăn cấm phong trào đánh giặc cứu nước. Đó thật là một điều
ô nhục trong lịch sử nước ta”. Và ông kết luận: “Triều đại nhà Nguyễn là
những trang sử đau buồn trái với những truyền thống oai hùng của dân tộc
Việt Nam ta…”
(1)
.
Ngày nay, những mặt trái của cơ chế thị trường cũng như của quá
trình hội nhập, mở cửa, quốc tế hoá, đang có tác động một cách tiêu cực
đến đời sống văn hoá tinh thần của chúng ta. Nếu chúng ta không tin
tưởng, tỉnh táo, dễ bị vàng thau lẫn lộn. Ai cũng biết Phan Thanh Giản là
người yêu nước trung quân, nhưng ông bất lực và đã cam tâm ký hiệp ước
cắt đất cho Pháp. Song ông còn biết tự trọng, thấy cái lỗi của mình với
dân, với nước. Ta thương ông, lập đền thờ ông, song việc phục hồi tên
phố mang tên ông cần hết sức cân nhắc và thận trọng ! Còn có một số
nhân tài khác trong phái chủ hoà (thực ra là đầu hàng giặc) có viết được
vài ba cuốn sách nay được ai đó xếp hạng “danh nhân” có vội vàng quá
không? Có người còn muốn đề cao Trần Trọng Kim (vì ông có trước tác
Nho giáo Việt Nam); Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, A-lếch-xan Đơ -
Rốt (Aexandre De. Rhodes), Pê-tơ-ruýt Ký … ca ngợi họ là những người
có công, như những người yêu nước. Điều đó thực khó hiểu khó tin về
“thiện ý” và “sự công bằng” của họ.
Mọi người ai cũng phấn khởi khi thấy truyền hình đưa tin Uỷ ban
nhân dân TP Hồ Chí Minh vừa dựng đài tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh
trong trận tiến công vào toà đại sứ Mỹ (Tết Mậu Thân). Việc làm đó ai
(
1)
Phạm Văn Đồng: Văn hoá và đổi mới, Bộ Văn hoá thông tin xuất bản, 1995, tr 27
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cũng thấy đúng và đều đồng tình, bởi vì đó là thể hiện sự kính trọng và
ghi nhớ công ơn của những người yêu nước, hy sinh vì Tổ quốc, lòng tự
trọng dân tộc và đó chính là thể hiện cụ thể bản sắc văn hoá Việt Nam.
Trở lại vấn đề A-lếch-xan-Đơ Rốt, Pê-tơ-ruýt Ký và một số nhân vật
khác, tôi nghĩ ta nên hết sức thận trọng. Ta không phủ định những cống
hiến khoa học về một mặt nào đó của họ. Song cứ lấy cái tiêu chí “lòng
yêu nước” làm “tia hồng ngoại” mà rọi thì rất dễ phân định. A-lếch-xan
Đơ Rốt có công rất lớn về văn hoá, là một trong những người sáng tạo ra
chữ Việt ta tinh hoa ngày nay. Về mặt khoa học ngôn ngữ ta không quên
ơn, nhưng đọc lại “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc và
những tác phẩm của Phan Bội Châu thì ta mới thấy cái nhục mất nước và
cái thâm độc về chính sách cai trị và truyền giáo của Chủ nghĩa thực dân.
Như vậy ông ta có đồng sàng với Chủ nghĩa thực dân không? Hay chí ít
cũng là công cụ cho mục tiêu của chúng. Xét theo tiêu chí khóa học theo
tôi ta nên dựng bia ghi công, còn dựng tượng đài ông, có lẽ ta nên để tiền
của công sức dựng tượng các vị anh hùng dân tộc xả thân cứu nước. Ta
không bảo thủ hẹp hòi theo tư tưởng Dân tộc chủ nghĩa. Song ta cũng
quyết không để lại những dấu ấn mà ngàn năm sau cháu con chúng ta
không hiểu nổi.
Nếu Đảng ta nêu vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
và lấy lòng yêu nước làm hệ quy chiếu thì tôi tin rằng mây mù sẽ phải tan
trong nắng sớm.
*
* *
Tôi cho rằng với chủ đề : “Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc để bước
vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, có lẽ không
gì bằng phát động lòng yêu nước Việt Nam để làm động lực, đặc biệt là
trong thế hệ trẻ. Lòng yêu nước ấy sẽ làm được tất cả, hạn chế tiêu cực,
đẩy lùi tham nhũng, đặc biệt là sẽ tự miễn dịch và chống được văn hoá
độc hại. Cần tạo cơ hội cho thanh niên say sưa đi vào nghiên cứu, lao
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
động sáng tạo để phục hưng đất nước. Hãy khơi dậy trong mỗi người lòng
tự hào và tự trọng dân tộc, trả hận non sông của một đất nước đã bốn lần
bị làm thuộc địa, bị đè đầu cưỡi cổ, và cứ mỗi lần như thế đã kéo lùi lịch
sử phát triển dân tộc hàng thế kỷ so với các dân tộc khác.
Hành trang của ta bước vào thế kỷ 21, bước vào Hiện đại hoá và
Công nghiệp hoá, có lẽ về khoa học kỹ thuật, về kinh tế ta còn thua xa
bạn bè, song ta tự hào vì ta có một nền văn hoá, có bề dầy văn hoá, mà
nền văn hoá ấy được hun đúc từ lòng yêu nước Việt Nam. Bản sắc văn
hoá Việt Nam, cái cốt lõi chính là lòng yêu nước Việt Nam.
“Làm lớn”
Nguyễn Văn Lộc
Lâu nay chuyện cán bộ “làm lớn” thường được nhiều người quan
tâm bàn luận. Nhiều người khen ông này tuy “làm lớn” nhưng vẫn khiêm
tốn giản dị, vẫn giữ vững phẩm chất tốt đẹp của nhiều năm về trước.
Nhiều người kêu ông nọ vừa “làm lớn” được ít lâu đã trở thành một người
khác trước, không còn được bạn bè, đồng nghiệp và tập thể quý mến như
trước nữa. Quả là trong vấn đề “làm lớn” đang có nhiều điều đáng suy
nghĩ thật.
Nhiều người tuy giữ những chức vụ lãnh đạo, quản lý quan trọng
nhưng vẫn luôn luôn sống mẫu mực, để lại cho tập thể, cho những người
chung quanh những tình cảm và kỷ niệm tốt đẹp khó quên. Ngay trong
hoàn cảnh mới hiện nay, nhiều đồng chí vẫn quen với nếp sống giản dị,
vẫn giữ đức cần, kiệm, liêm, chính. Từ nhà ở đến phương tiện đi lại, làm
việc, sinh hoạt, cơ quan bố trí, sắp xếp thế nào thì các đồng chí ấy sử
dụng như vậy, không hề đòi hỏi gì. Một số người còn từ chối, không nhận
những tiêu chuẩn cao như xe ô tô loại sang trọng đắt tiền chẳng hạn. Một
số đồng chí thì ngại ngùng cả việc đi dự những buổi chiêu đãi, tiếp tân trừ
khi thật cần thiết. Một lần nhân dự bữa cơm ở nhà một người bạn thân,
đang lúc nói về chuyện “làm lớn”, chủ nhà giới thiệu với tôi một người.
Anh nói: Ông này cũng “làm lớn” đây nhưng rất bình dân, sống chan hoà
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
với bạn bè, với tập thể, nhà cửa tài sản chẳng có gì đặc biệt. Những
chuyện về những mẫu người “làm lớn” như vậy hiện nay trong xã hội ta
có rất nhiều và rất đáng để chúng ta học tập.
Nhưng mặt khác cũng có không ít người khi “làm lớn” thì thay đổi
rất nhanh. Có người vừa được đề bạt chưa lâu, cơ quan đang cân nhắc suy
tính xem nên bố trí đổi nhà, đổi phòng làm việc cho đồng chí ấy như thế
nào cho thích hợp thì đồng chí ấy đã vội vã đốc thúc, nhiều khi với thái
độ rất không hay. Có người từ khi “làm lớn” thì tỏ ra khệnh khạng, quan
cách, trông đến khó coi. Một số người chỉ thích tiếp xúc, chuyện trò, quan
hệ với những người ngang cấp hoặc với cấp trên, còn với những bạn bè
đồng nghiệp đã một thời thân thiết, vào sinh ra tử có nhau nhưng đang
“giẫm chân tại chỗ” thì mấy ông ấy quên đến là nhanh. Mới cách đó chưa
lâu còn hàn huyên tâm sự đủ điều mà bây giờ gặp lại, các “sếp” ấy tỏ ra
dửng dưng lạnh lùng như chưa hề quen biết. Điều làm nhiều người thắc
mắc là một số người “làm lớn” thường cho mình cái quyền muốn giải
quyết công việc thế nào cũng được, có khi nói một đằng làm một nẻo,
hoặc thiếu trách nhiệm trước những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra trong
lĩnh vực công tác của mình phụ trách. Nhưng điều làm cho nhiều người
thắc mắc hơn cả là một số người, kể cả một số người tuy chưa phải là
“lớn” lắm nhưng giàu lên nhan quá, cứ như là họ vớ được quyển sách ước
hay cây đèn thần A-La-đan vậy. Họ nổi tiếng là người “chịu chơi”, kể cả
việc nhâu nhẹt, bồ bịch. Họ không hề bận tâm gì đến những lời bàn tán
chê trách về ình. Cũng có người một thời “làm lớn”, đến nay không còn
“làm lớn” nữa nhưng ông vẫn yêu cầu cơ quan phải giải quyết chế độ này,
chế độ nọ ngoài tiêu chuẩn, chính sách và quy định của nhà nước…
Rõ ràng là chung quanh vấn đề “làm lớn” có vô số chuyện, có
chuyện nghe cứ như là bịa vậy. Rõ ràng là trong vấn đề đạo đức, phẩm
chất của một bộ phận cán bộ Đảng viên đang có những điều mà các tổ
chức Đảng, các cơ quan hữu quan cần quan tâm xem xét.
“Văn hoá hướng tới xây dựng con người mới”
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngay từ khi cách mạng còn phôi thai, Đảng ta đã đặc biệt quan tâm
đến công tác văn hoá, điều đó thể hiện ở “Bản đề cương văn hoá Việt
Nam” năm 1943. Giá trị của “Bản đề cương văn hoá Việt Nam” mãi
trường tồn cùng năm tháng bởi tính chiến lược, hoạch định cho con đường
phát triển văn hoá Việt Nam với những nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu
dài cần phải làm, cần phải vươn tới: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng,
nhằm ngày càng hoàn thiện những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người.
Kể từ đó nay, hơn 50 năm qua, Đảng và Nhà nước ta liên tục không
ngừng chăm lo công tác văn hoá, Nhà nước và nhân dân đầu tư kông ít
tiền của vào lĩnh vực này. Đặc biệt, nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII)
về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà, bản
sắc dân tộc - chiến lược về văn hoá trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá của đất nước, càng chứng minh Đảng ta rất quan tâm
đến công tác văn hoá. Và chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi
nhận.
Song, vì sao hiệu quả của công tác văn hoá chưa đáp ứng được
nguyện vọng của Đảng và nhân dân mong muốn? Chưa hoàn thành được
nhiệm vụ và mục đích đặt ra là hoàn thành nhân cách, làm cho con người
ngày càng tốt đẹp hơn.
Về những yếu kém, khuyết điểm trên lĩnh vực văn hoá. Kết luận Hội
nghị lần thứ mười ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) nêu rõ:
“So với yêu câu của thời kỳ đổi mới, trước những biến đổi ngày càng
phong phú trong đời sống xã hội những năm gần đây, những thành tựu và
tiến bộ đạt được trong lĩnh vực văn hoá còn chưa tương xứng và chưa
vững chắc, chưa đủ để tác động có hiệu quả đối với các lĩnh vực của đời
sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống. Sự suy thoái
về phẩm chất, đạo đức, lối sống tiếp tục diễn biến phức tạp, có một số mặt
nghiêm trọng hơn, tổn hại không nhỏ đến uy tín của Đảng và Nhà nước,
niềm tin của nhân dân.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Sự phát triển của văn hoá chưa đồng bộ và tương xứng với tăng
trưởng kinh tế, thiếu gắn bó với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng là
một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế
và nhiệm vụ xây dựng Đảng. Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá chưa tạo được chuyển biến rõ
rệt. Môi trường văn hoá còn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, sự lan tràn
các sản phẩm và dịch vụ văn hoá mê tín dị đoan, độc hại thấp kém, lại
càng… Sản phẩm văn hoá và các dịch vụ văn hoá ngày càng phong phú
nhưng vẫn rất thiếu những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về
tư tưởng và nghệ thuật, có ảnh hưởng tích cực và sâu sắc trong đời sống.
Có biểu hiện lúng túng, hữu khuynh trong cuộc đấu tranh giữa các khuynh
hướng tư tưởng trong lý luận - phê bình và sáng tác, trước những tác động
ngày càng phức tạp của quá trình hội nhập kinh tế và giao lưu văn hoá.
Xu hướng “thương mại hoá”, chạy theo thị hiếu thấp kém trog một bộ
phận báo chí, xuất bản, hoạt động văn hoá nghệ thuật chưa được ngăn
chặn có hiệu quả, đã làm giảm sút: Hạ thấp các chức năng nhận thức, giáo
dục, thẩm mỹ của văn hoá”.
Nguyên nhân, trách nhiệm chủ yếu thuộc về công tác lãnh đạo của
các tổ chức Đảng, quản lý Nhà nước về văn hoá còn yếu kém, bất cập.
Các cấp uỷ Đảng, chính quyền nhiều nơi chưa nhận thức đầy đủ vai trò
đặc biệt quan trọng của văn hoá… không ít cơ quan Đảng, Nhà nước, cán
bộ, đảng viên chưa thật sự là tấm gương văn hoá cho quần chúg. Năng lực
và tầm lãnh đạo văn hoá của các cấp uỷ đảng, chính quyền đoàn thể còn
nhiều hạn chế. Trong phạm vi bài này, tôi xin không nói đến những thành
tựu về văn hoá mà chúng ta đã đạt được, chỉ đề cập một số nguyên nhân
làm cho văn hoá chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong tình
hình mới và sự mong mỏi của quần chúng.
Nước ta có hàng nghìn năm văn hiến, gia tài văn hoá của cha ông để
lại vô cùng đồ sộ về cả mặt hữu hình lẫn vô hình. Nhiều di sản văn hoá
của chúng ta đã được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hoá của
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thế giới. Đó là nền tảng, cái vốn rát lớn để văn hoá nước ta phát triển
nhanh, mạnh. Trong khi đó, nền kinh tế nước ta còn nghèo, được thế giới
xếp vào khu vực các nước đang phát triển. Mấy năm qua nền kinh tế nước
ta đạt nhiều thành tựu và tiến bộ, nhưng xây dựng và phát triển văn hoá
thì chưa theo kịp nhịp độ phát triển kinh tế. Đó là một nghịch lý, có bột
mà chưa gột nên hồ.
Rõ ràng công tác văn hoá có vấn đề từ lý luận nhận thức đến năng
lực tổ chức, quản lý, điều hành, thực hiện từ vĩ mô đến vi mô, buộc chúng
ta phải nhìn thẳng vào sự thật xem xét một cách có hệ thống theo tinh
thần đổi mới của Đảng và ánh sáng thời đại để chỉ rõ những nguyên nhân
làm hạn chế tốc độ phát triển của văn hoá.
Về nhận thức: Trong quá trình hoạt động của con người, vai trò của
nhận thức là điều tiên quyết cho mọi hành vi của mỗi người, của toàn thể
xã hội dẫn đến việc làm xấu, tốt, hiệu quả hay kém hiệu quả. Trong xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế và những diễn biến cưc kỳ phức tạp trên nhiều
bình diện ngày nay, vấn đề nhận thức về vị trí, vai trò, tác dụng của văn
hoá càng đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên có lúc và ngay cả bây giờ cũng
không hiếm người cho rằng: Văn hoá chỉ là phương tiện chuyển tải các
hoạt động của xã hội nhằm một mục đích nào đó hay văn hoá quan trọng
đến mấy chăng nữa vẫn đứng sau kinh tế, chính trị. Đã có nơi, có lúc chỉ
coi công tác văn hoá là “cờ - đèn - kèn - trống”.
Từ nhận thức trên dẫn đến làm sai lệch chiến lược và đường lói văn
hoá của Đảng trong việc hoạch định các kế hoạch, chủ trương chính sách
về văn hoá từ công tác tổ chức, đầu tư, điều hành đến thái độ ứng xử
trong văn hoá, nhất là đối với anh chị em văn nghệ sĩ - những người trực
tiếp làm ra các sản phẩm văn hoá.
Những hạn chế trên được biểu hiện như sau:
Bệnh hình thức là căn bệnh chung của nhiều ngành, nhiều cấp,
nhưng biểu hiện rõ là ở ngàn văn hoá. Các hoạt động văn hoá chỉ sôi nổi
vào các ngày lễ, tết, hội hè, nhất là những dịp kỷ niệm lớn là do lãnh đạo
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
các ngành, các cấp tập trung chỉ đạo. Tất nhiên hoạt động văn hoá trong
những ngày này là cần thiết vì nó tạo nên bộ mặt của xã hội. Các hoạt
động này cũng không ngoài mục đĩch nhằm làm cho con người ngày càng
tốt đẹp lên: Yêu thương, đoàn kết, biết trân trọng những thành quả do cha
ông để lại. Rất tiếc, phần cơ bản này lại bị coi nhẹ. Phải chăng, hoạt động
văn hoá được chú trọng trong những ngày lễ, tết, kỷ niệm vì được Nhà
nước cấp một nguồn “kinh phí”, ngoài dự toán ngân sách hằng năm nên
được “rộng tay” chi tiêu. Chúng ta nên nhớ rằng ngay sau những ngày lễ,
hội, dư luận quần chúng không phải không xì xào về số kinh phí bỏ ra có
đúng và hợp lý trong khi nước ta còn nghèo? Đấy là không kể hiện tượng
các lễ hội bị lợi dụng biến thành dịch vụ thương mại cho một số người
kiếm lời bất chính như ở lễ hội Chùa Hương, đền Bà Chúa Kho là do năng
lực quản lý, điều hành yếu kém của ngành chức năng và các địa phương.
Số lượng và chất lượng văn hoá cơ sở về xây dựng, phát triển văn
hoá cơ sở, chúng ta mới chú ý đến phong trào mang tính số lượng, còn
xem nhẹ tính bền vững của phong trào. Thực tế chất lượng ra sao? Hiệu
quả như thế nào? Có phù hợp với yêu cầu của từng vùng, miền không?
Chúng ta chưa tiến hành tổng kết phong trào “Nhà văn hoá” ở các địa
phương được phát động và xây dựng cách đây mấy chục năm, xem thực
chất là nhà văn hoá được sử dụng ra sao? Phát huy tác dụng đến mức nào?
Mặc dù hồi đó có cả một thiết chế về mô hình, quy mô, chức năng hoạt
động của nhà văn hoá. Và đến nay, không ít các nhà văn hoá cấp huyện,
xã bị bỏ không hay dùng vào mục đích khác.
Nhìn phong trào xây dựng gia đình văn hoá thấy số lượng gia đình
đạt được danh hệu rất lớn. Song vì sao các tệ nạn xã hội ma tuý, trộm cắp,
mại dâm vẫn xảy ra ở các làng quê Việt Nam xưa vốn thuần phác? Trong
việc đầu tư xây dựng cac cơ sở văn hoá ở một số tỉnh vùng cao còn nặng
về hình thức, kém hiệu quả. ở vùng cao nhà nọ nhìn thấy nhà kia cũng
phải đi mất nửa ngày đường, huống hồ là địa bàn của một huyện. Thế mà
lại dựng nhà văn hoá trung tâm huyện. Vậy đồng bào ở các xã, các bản
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vùng xa, vùng sâu có đến? Nếu những nhà văn hoá huyện một năm chỉ tổ
chức được đôi ba lần cho các hoạt động văn hoá hay chỉ là nơi tham quan,
làm sáng cho bộ mặt của huyện, thì cần phải xem lại. Sao không biến các
chợ có sẵn để tuyên truyền vận động văn hoá mới vừa đỡ tốn kém lại thiết
thực đối với bà con các dân tộc thiểu số vì chợ là nơi giao lưu, trao đổi cả
tinh thần lẫn vật chất vốn không thể thiếu của ba con các dân tộc từ bao
đời nay?
Về các thiết bị thông tin như đài để bà con nghe, hiểu được chủ
trương chính sách của Đảng, Nhà nước đã đầu tư khá nhiều. Rất tiếc, một
số phương tiện này đến tay bà còn vùng xa lại kém chất lượng. Đài của ta
lại không bắt được sóng của ta, nên bà con đành phải nghe các đài khác.
Đấy là không nói đến nội dung tuyên truyền bằng tiếng các dân tộc thiểu
số còn sơ sài, tẻ nhạt. Sách, báo cũng vậy. Có những sách là sách tồn
đọng hay là sách không bán chạy ở các thành phố đem phân bổ về các
vùng cao. Báo thì chữ nhỏ xíu, đến được tay đồng bào cũng chẳng phát
huy tác dụng mấy bởi đời sống miền núi còn khó khăn, phần lớn đồng bào
không thạo tiếng phố thông, hỏi làm sao có thể dọc và hiểu được? Vì vậy,
hằng năm Đảng và Nhà nước đầu tư khá nhiều tiền của cho đời sống văn
hoá ở vùng cao, nhưng hiệu quả còn thấp.
Về công tác xuất bản thì buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng
thương mại hoá trong sách báo. Sách in tràn lan, không hiếm cuốn có nội
dung thiếu lành mạnh, gây thị thiếu xấu cho người đọc. Nhà xuất bản nọ
thì ăn cắp bản quyền của nhà xuất bản kia, kiện cáo nhau ầm ĩ. Có nhà
xuất bản lớn của quốc gia trực thuộc ngành chủ quan về văn hoá lại vi
phạm bản quyền nhiều nhất. Bị phạt mấy lần nhưng vẫn tái diễn. Đấy là
không nói đến sự cẩu thả trong công tác biên tập, duyệt in. Nhiều cuốn
sách mang tiếng là khoa học nhưng lại phi khoa học, sai về thuật ngữ, ngữ
nghĩa, năm, tháng… dẫn đến “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Theo báo cáo
của Thanh tra ngành văn hoá, trong sáu tháng đầu năm 2004. Thanh tra đã
phát hiện và cho tiêu huỷ 30.000 sách và văn hoá phẩm, vi phạm pháp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét