Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014
Huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho đầu tư và phát triển KTXH
Trang 5
đầu tư phát triển. Với DN, nguồn vốn này quan trọng hơn rất nhiều, vì nhu
cầu đầu tư phát triển SXKD rất lớn và vốn tự có không đủ để đáp ứng.
Nhất là hiện nay, cạnh tranh ngày càng gay gắt và có tính toàn cầu, các
DN bắt buộc phải đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản
phẩm, dòch vụ … mới có thể đứng vững trong cạnh tranh.
1.1.1.2.3- Huy động thông qua đònh chế tài chính :
Các đònh chế tài chính là những tổ chức huy động những nguồn vốn
tương đối nhỏ, phân tán, tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho các nhu
cầu đầu tư phát triển của Nhà nước, của DN, các chủ thể trong nền kinh tế
và những nhu cầu chi tiêu khác của xã hội.
Các đònh chế tài chính gồm các đònh chế tài chính NH và đònh chế
phi NH (i) Các đònh chế NH là khâu tài chính quan trọng, thực hiện các
quan hệ vay trả trong nền kinh tế với các chức năng : Huy động những
nguồn vốn nhỏ lẻ, phân tán, tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thành
nguồn vốn tập trung rất lớn, đáp ứng nhu cầu cho đầu tư phát triển SXKD,
lưu thông hàng hoá và dòch vụ, tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu
KTXH, tham gia vào thò trường tài chính, góp phần ổn đònh hệ thống tiền
tệ. (ii) Đònh chế tài chính phi NH là những đònh chế tài chính trung gian
không nhận tiền gửi, như các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư…
được hình thành từ những khoản đóng góp dưới nhiều hình thức, bắt buộc,
tự nguyện và được bù đắp khi rủi ro ốm đau, thất nghiệp, mất sức … Các
quỹ đầu tư được hình thành từ việc phát hành cổ phần ra công chúng, cung
cấp cho công chúng sản phẩm đầu tư đã được đa dạng hoá, giảm rủi ro và
có khả năng thu hút khoản tiết nhỏ từ dân cư.
1.1.1.2.4- Huy động vốn thông qua thò trường tài chính :
Thò trường tài chính gồm thò trường tiền tệ và thò trường vốn. TTCK
là một bộ phận quan trọng nhất của thò trường vốn, là nơi các chứng khoán
được phát hành và trao đổi. Hàng hoá giao dòch trên TTCK là các loại
chứng khoán dài hạn, như các loại trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu
tư, công cụ phái sinh - các hợp đồng tương lai, quyền chọn … Qua TTCK
các công ty có thể dễ dàng huy động vốn trực tiếp bằng cách phát hành
chứng khoán ra thò trường. Chính phủ và chính quyền các đòa phương cũng
Trang 6
có thể huy động vốn trên thò trường này bằng cách phát hành các loại trái
phiếu, công trái.
1.1.2.5- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) :
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư bản nước ngoài trực tiếp
đầu tư cho SXKD ở nước nhận vốn. Đây là nguồn vốn lớn, có ý nghóa quan
trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt đối với những nước đang phát triển,
ở những nước này nhu cầu đầu tư cao, nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền
kinh tế lại hạn hẹp. Ngày nay, FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong điều
kiện hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa. Không một quốc gia nào lại không
cần đến nguồn vốn đầu tư này và tất cả đều coi đó là nguồn vốn quan
trọng cần khai thác để từng bước hoà nhập vào cộng đồng quốc tế. Ngay
cả những quốc gia có tiềm lực kinh tế như Mỹ, Nhật bản, dưới tác động
của KHCN hiện đại ngày nay cũng không tự mình giải quyết được những
vấn đề KTXH đã, đang và tiếp tục đặt ra. Chỉ có hợp tác, trong đó FDI là
loại hình đầu tư, hợp tác có hiệu quả.
1
1.1.1.2.6- Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) :
Nguồn vốn ODA là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức của
một nước , một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm
thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này. ODA
được thực hiện trên cơ sở song phương hoặc đa phương với các nội dung :
Viện trợ không hoàn lại; Viện trợ hỗn hợp; Viện trợ có hoàn lại, thực chất
là vay tín dụng ưu đãi.
ODA là nguồn vốn cực kỳ quan trọng cho công cuộc phát triển kinh
tế của các nước đang phát triển. Thông qua dự án ODA, cơ sở hạ tầng kinh
tế của nước tiếp nhận được nâng lên một bứơc. Nếu sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn ODA sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
1.1.2- Phát triển bền vững
Ngày nay, trong đầu tư phát triển người ta không chỉ quan tâm đến
vấn đề tăng trưởng kinh tế cao mà quan trọng hơn là đầu tư để phát triển
kinh tế có tính bền vững, nhân văn, thân thiện với thiên nhiên, môi trường
1
Giáo trình Kinh tế Phát triển – GS.TS Vũ Thò Ngọc Phùng - Chủ biên – NXB Lao động Xã hội - 2005
Trang 7
… Trong quá trình phát triển kinh tế, người ta đã nhận thấy mặt trái của sự
tăng trưởng nhanh, đó là sự cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi
trường, những vấn nạn xã hội, bất bình đẳng, nghèo đói và bệnh tật …
những điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai phát triển của nhân loại
và vấn đề “Phát triển bền vững” được đặt ra. Theo y ban môi trường và
phát triển thế giới (WCED) : Phát triển bền vững là sự phát triển để đáp
ứng những nhu cầu của hôm nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp
ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm về phát triển
bền vững trong Chiến lược phát triển KTXH của đất nước đến năm 2010 là
“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”. Nghò quyết Đại hội X của Đảng
một lần nữa khẳng đònh : Việc đầu tư cho phát triển KTXH của chúng ta
phải nhằm tới mục tiêu (1) Tăng trưởng kinh tế cao, ổn đònh, đảm bảo
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. (2) Đảm bảo giải
quyết tốt vấn đề xã hội, công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, phát triển
nguồn nhân lực, phát triển phải mang tính nhân văn, mọi người cùng tham
gia vào quá trình phát triển và cùng được hưởng lợi từ quá trình phát triển
đó. (3) Phát triển bền vững về môi trường, bảo vệ môi trường sống trong
lành, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên. (4)
Đảm bảo ổn đònh chính trò, giữ vững an ninh – quốc phòng. Đây là yếu tố
đặc biệt quan trọng, là niền tin của các nhà đầu tư, là yếu tố đảm bảo cho
thành quả của phát triển không bò tàn phá bởi khủng bố, đảo chính, chiến
tranh …
1.1.3- Vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế – xã hội.
1.1.3.1- Vốn đầu tư :
Vốn đầu tư gồm : Tư bản, thể hiện dưới các hình thức như tiền, các
loại tài sản, nguyên vật liệu…; Tài nguyên thiên nhiên; Vốn con người.
Những yếu tố trên tác động với nhau tạo thành quá trình kinh tế vận động
không ngừng, nối tiếp nhau làm cho của cải ngày tăng lên và do đó tạo
dựng thêm vốn mới. Vốn mới lại tạo ra những yếu tố vật chất mới, công
nghệ mới, sức lao động và trí tuệ mới … của cải tạo ra ngày càng nhiều
hơn, vốn mới được tạo ra nhiều hơn. Theo nghóa rộng, vốn được hiểu là
Trang 8
những yếu tố đầu vào của sản xuất như : Tiền, lao động, tài nguyên, công
nghệ, vật tư hàng hoá … Theo nghóa hẹp, vốn là tiền tích luỹ của xã hội,
của các DN, của dân cư và huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử
dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, khoản tích luỹ này
phải sử dụng cho mục đích đầu tư sinh lợi thì mới được gọi là vốn. Tiền
đem tiêu dùng hoặc đưa vào cất trữ thì không gọi là vốn.
1.1.3.2- Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế – xã hội
:
Cơ sở hạ tầng tốt, thiết bò mới hiện đại cùng với nguồn nhân lực có
trình độ phù hợp là hai nhân tố có tác động mạnh mẽ, có tính quyết đònh
đến năng suất, chất lượng và hiệu quả SXKD. Vốn đầu tư tham gia vào
các hoạt động đầu tư đóng vai trò quan trọng hình thành lên cơ sở hạ tầng,
hình thành lên các tài sản, máy móc thiết bò, công nghệ, tác động đến chất
lượng nguồn nhân lực. Như vậy VĐT có vai trò quyết đònh đối với sự phát
triển nền KTXH, nó không chỉ tác động làm tăng năng suất, sản lượng mà
còn có tác động mạnh đến chất lượng nguồn lao động, yếu tố có vai trò
quyết đònh nhất trong nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững.
Về vai trò của VĐT, hai nhà kinh tế học là Roy Harrod và Evsay
Domar cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa VĐT và tăng
trưởng Harrod – Domar, nhấn mạnh vai trò của vốn đầu tư (từ tiết kiệm),
như sau :
k
s
g =
Trong đó : g là tốc độ tăng trưởng kinh tế, yếu tố đầu ra (GDP)
s = St/Y : là tỷ lệ tiết kiệm trong nền kinh tế.
Y : GDP; It : đầu tư; St : tiết kiệm
Với giả đònh, các khoản tiết kiệm trong nền kinh tế được các kênh
huy động và chuyển tải toàn bộ đến các hoạt động đầu tư. Khi đó, đầu tư
bằng tiết kiệm (It=St), như vậy s=It/Y.
k : Hệ số gia tăng giữa vốn và sản lượng (còn gọi là hệ số ICOR).
Trang 9
Mô hình này cho biết rằng, tăng trưởng có quan hệ thuận với tỷ lệ
vốn đầu tư (s). Với một hệ số ICOR nhất đònh, tỷ lệ vốn đầu tư tăng lên sẽ
tạo tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ngược lại.
Nhưng chúng ta muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh, ổn đònh
và có tính bền vững thì việc tăng VĐT chỉ là điều kiện cần, vấn đề còn lại
là hiệu quả đầu tư (ICOR) và đầu tư phải cân đối, hài hoà về cơ cấu
ngành, vùng kinh tế. Vì vậy, VĐT phải được phân bổ và sử dụng nhằm
khai thác tốt các nguồn lực tiềm năng, tài nguyên, vật lực, … đặc biệt là
nguồn vốn con người, tạo ra tổng lực, đẩy mạnh sự chuyển dòch cơ cấu
theo hướng hiện đại hoá và bền vững.
1.2- CÁC KÊNH CHỦ YẾU HUY ĐỘNG VỐN CHO HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI
Để có vốn cho đầu tư phát triển KTXH, phải huy động các nguồn
tiết kiệm từ các chủ thể trong nền kinh tế. Trong hội nhập kinh tế quốc tế,
một nền kinh tế mở, ngoài những nguồn vốn huy động trong nước thì
nguồn vốn từ nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng, đặc biệt đối với các
nước đang phát triển.
1.2.1- Các kênh trong nước :
Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia.
Nguồn vốn này có tính ổn đònh, bền vững, giảm thiểu được những rủi ro và
hậu quả xấu do những tác động từ bên ngoài. Nguồn vốn trong nước chủ
yếu được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể kinh tế trong nước, nghóa
là từ Chính phủ, các doanh nghiệp và hộ dân cư.
1.2.1.1- Tiết kiệm từ NSNN :
Tiết kiệm từ NSNN, là số chênh lệch dương giữa các khoản thu ngân
sách trừ đi phần chi tiêu thường xuyên của Chính phủ, phần tiết kiệm này
hình thành nên nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Nguồn tiết kiệm NSNN
hình thành trên cơ sở tăng thuế hoặc cắt giảm chi tiêu thường xuyên của
Chính phủ, nó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của nền kinh tế và thu nhập
bình quân đầu người. Tăng thuế, có thể làm cho tiết kiệm ngân sách tăng
trong điều kiện chi tiêu không thay đổi, nhưng lại tạo thêm gắng nặng cho
Trang 10
các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư và có thể sẽ có những tác động
ngược như : không khuyến khích hoạt động đầu tư SXKD, hiệu quả SXKD
sụt giảm, hay tạo ra phản ứng tìm cách gian lận thuế … và như vậy nguồn
thu NSNN lại giảm xuống. Giảm chi tiêu thường xuyên cuả Chính phủ
cũng làm tăng tiết kiệm NSNN, tuy nhiên lại tác động làm tổng cầu xã hội
giảm và điều đó làm nhu cầu đầu tư, nhất là khu vực tư nhân giảm sút. Do
đó, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi Nhà nước
phải gia tăng tiết kiệm NSNN, trên cơ sở chính sách thuế hợp lý để tăng
nguồn thu và có chính sách tiết kiệm chi tiêu một cách hợp lý. Nguồn tiết
kiệm từ NSNN phải được sử dụng đầu tư một cách hiệu quả nhằm tạo ra
những cơ hội đầu tư tốt hơn, như : nâng cao cơ sở hạ tầng giao thông, cảng
biển, viễn thông, cơ sở hạ tầng tài chính … khuyến khích tiết kiệm và đầu
tư đối với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế.
1.2.1.2- Tiết kiệm từ khu vực DN :
Nguồn vốn này được hình thành từ khâu tài chính DN. Đó là những
quan hệ tài chính phục vụ cho quá trình SXKD. Khoản tiết kiệm này chủ
yếu được hình thành từ lợi nhuận của DN, là nguồn vốn cơ bản để DN có
thể đầu tư mở rộng và phát triển, tái sản xuất mở rộng DN. Quy mô tiết
kiệm của DN phụ thuộc vào kết quả SXKD, chính sách phân phối lợi
nhuận của DN, chính sách thuế Nhà nước và các chính sách kinh tế vó mô
khác.
Tiết kiệm từ khu vực DN là nguồn lực tiềm năng rất lớn cung cấp
nguồn tài chính quốc gia. Một hệ thống DN đông đảo, lớn mạnh, vững
mạnh, những tập đoàn kinh tế kinh doanh có hiệu quả … ngoài việc tạo ra
nguồn vốn lớn để phát triển mở rộng DN, nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế, còn là cơ sở vững chắc tăng thu cho NSNN. Đó cũng là nền tảng
cho nền kinh tế có tốc độ phát triển cao, ổn đònh trong dài hạn.
1.2.1.3- Tiết kiệm từ khu vực dân cư :
Đây là phần thu nhập còn lại của các hộ gia đình sau khi đã phân
phối và sử dụng cho mục đích chi tiêu của họ. Quy mô của khoản tiết kiệm
này phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế và chòu ảnh hưởng
trực tiếp của các yếu tố như thu nhập bình quân đầu người; yếu tố lãi suất;
Trang 11
chính sách thuế; sự ổn đònh của kinh tế vó mô… Nguồn tiết kiệm trong khu
vực này thường rất lớn nhưng lại phân tán trong dân cư. Do vậy để chuyển
hoá tiết kiệm này thành vốn đầu tư cần phải phát triển hệ thống tài chính
và thò trường tài chính.
1.2.1.4- Các đònh chế tài chính :
Các đònh chế trung gian tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc tích tụ và chuyển các quỹ tiền tệ tiết kiệm trong nền kinh tế đến các
nhà đầu tư. Trình độ phát triển của các đònh chế trung gian tài chính cũng
như tính đa dạng, hiệu quả của những sản phẩm mà các tổ chức này cung
cấp cho nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển của nền
KTXH. Sự linh hoạt và hiệu quả của các đònh chế tài chính có thể tạo ra
nguồn vốn đủ lớn để tài trợ nhanh chóng cho những dự án lớn có hiệu quả
KTXH cao, đồng thời dòng vốn cũng được lưu chuyển một cách linh hoạt
trong nền kinh tế. Do đó, có tác động tích cực đối với sự phát triển KTXH.
Ngược lại, sự kém hiệu quả, thiếu linh hoạt của các đònh chế tài chính kéo
theo khó khăn cho hoạt động đầu tư vì những nguồn tiết kiệm từ những
người không có cơ hội đầu tư không đến được những người có nhu cầu đầu
tư, gây khó khăn cho phát triển KTXH.
1.2.1.5- Thò trường tài chính trong nước :
Đây là kênh huy động và tài trợ vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển. Sự phát triển của thò trường tài chính sẽ có tác động mạnh đến việc
thu hút, huy động các nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư
phát triển KTXH; khuyến khích tiết kiệm và đầu tư; thúc đẩy, nâng cao
hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính; và góp phần tạo môi trường thực
hiện các chính sách tài chính – tiền tệ của Chính phủ. Chính vì vậy, khai
thông thò trường tài chính, đặc biệt là TTCK sẽ tạo ra kênh huy động và tài
trợ vốn linh hoạt, hiệu quả cho đầu tư, từ đó có tác động tích cực đến sự
phát triển nền kinh tế.
1.2.2- Các kênh nước ngoài :
Nguồn vốn nước ngoài luôn là nguồn vốn quan trọng đối với sự phát
triển KTXH của một nước. Với các nước đang phát triển, nhu cầu VĐT
Trang 12
phát triển KTXH rất lớn, trong khi tiết kiệm trong nước không đủ đáp ứng,
thì nguồn VĐT nước ngoài có vai trò quan trọng hơn. Nguồn vốn này được
hình thành chủ yếu từ dòng vốn FDI, vốn FPI, vay nợ nước ngoài.
1.2.2.1- Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn VĐT trực tiếp nước ngoài (FDI) là vốn do các nhà đầu tư
nước ngoài đem vào trong nước để trực tiếp đầu tư bằng việc tạo ra những
DN, dưới dạng liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư, hoặc thành lập những
DN 100% vốn nước ngoài.
Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, những rào
cản trong hoạt động đầu tư được dỡ bỏ. Ở các nước đang phát triển nhu cầu
vốn đầu tư cho phát triển KTXH là rất lớn, trong khi nguồn tiết kiệm nội
đòa lại rất hạn chế. Vì vậy, nguồn vốn FDI đối với những nước này lại trở
lên đặc biệt quan trọng. Vai trò của vốn FDI không chỉ đơn thuần nhằm bù
đắp những thiếu hụt vốn đầu tư phát triển kinh tế trong nước mà nó còn có
ý nghóa tích cực khác như (i) bên cạnh sự dòch chuyển các quỹ đầu tư, là
sự chuyển giao của hàng loạt các nhân tố khác như : chuyển giao vốn máy
móc, thiết bò làm tăng cường năng lực sản xuất, công nghệ, kỹ thuật,
phong cách, kỹ năng quản lý tiên tiến hơn, giúp nâng cao năng suất, chất
lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh (ii) FDI cũng góp phần trong các
đònh hướng phát triển KTXH và có tác động làm chuyển dòch cơ cấu kinh
tế theo hướng hiện đại và bền vững. (iii) Các DN FDI góp phần tăng xuất
khẩu, mở rộng thò trường, đẩy nhanh tiến trình hội nhập, tham gia vào phân
công lao động quốc tế, tăng nguồn thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh
toán, tăng nguồn thu NSNN, góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn
lao động, tạo ra hiệu ứng lan toả, động lực làm gia tăng hiệu quả của đầu
tư trong nước … Kích thích chuyển giao công nghệ; cải thiện cơ sở hạ tầng;
gây áp lực cải thiện thể chế, môi trường pháp luật trong nước phù hợp với
luật pháp và thông lệ Quốc tế.
Ngoài những mặt tích cực của FDI, thì nguồn vốn này cũng có những
hạn chế, như : (i) FDI có khuynh hướng làm phát sinh sự tăng trưởng không
bình thường trong một số ngành của nền kinh tế, đưa đến sự mất công
bằng trong phân phối thu nhập, độc quyền sản xuất, thất nghiệp và thiểu
Trang 13
dụng việc làm theo cấu trúc, dẫn đến sự mất cân đối, kém linh hoạt … cản
trở phát triển cân đối, hài hoà nền kinh tế. (ii) FDI cũng có thể sử dụng
công nghệ lạc hậu, lỗi thời, sản xuất sản phẩm không phù hợp, gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ, đến chất lượng cuộc sống con
người, cản trở mục tiêu phát triển hài hoà, bền vững, nhân văn. (iii) FDI
thường phân bố tập trung ở các đô thò lớn, nơi tập trung những tiện ích
cuộc sống, gần bến cảng, cơ sở hạ tầng tốt, gần nguồn lao động, gần nơi
tiêu thụ, làm tăng sự cách biệt giữa nông thôn và thành thò, gia tăng
khoảng cách giàu nghèo, tạo làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thò, tạo
ra mất cân đối phát triển vùng. (iv) FDI có thể làm cán cân ngoại hối bò
thâm hụt. (v) Hoạt động chuyển giá cũng là một thách thức đối với nước
nhận FDI.
Trong những năm gần đây, với sự xuất hiện ngày càng rõ nét nền
kinh tế tri thức, với vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn vốn con người
trong hoạt động sáng tạo và công nghệ. Sự khác biệt trong tăng trưởng của
các quốc gia không chỉ giải thích ở luận điểm “sự khác biệt về hiệu quả
đầu tư” mà được giải thích nhiều ở luận điểm sự khác biệt về “tri thức” và
“nguồn vốn con người”. FDI còn được hiểu là sự chuyển giao tri thức, và
tích tụ nguồn vốn con người. Do đó, những tác động tích cực hay tiêu cực
đến sự phát triển kinh tế xã hội của FDI còn tuỳ thuộc vào nguồn vốn con
người với tri thức của họ, nếu con người thấp, thì rất có thể FDI lại có tác
động ngược đối với phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, việc thu hút các dòng vốn đầu tư FDI cần đặc biệt quan
tâm thu hút những dòng vốn có chất lượng, nhằm phát huy những mặt tích
cực, đồng thời giảm tối đa những tác động cản trở đối với phát triển
KTXH. Để làm được điều đó, ngoài việc xây dựng môi trường đầu tư ổn
đònh, minh bạch; xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tốt nhằm đònh hướng thu
hút FDI theo ngành, lónh vực, vùng kinh tế cần phát triển, nước tiếp nhận
FDI cần đặc biệt chú trọng phát triển nguồn vốn con người có đủ năng lực,
kỹ năng có thể tiếp cận tốt và phát huy nguồn FDI phục vụ cho phát triển
KTXH của đất nước.
1.2.2.2- Thò trường tài chính quốc tế :
Trang 14
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự lới lỏng kiểm soát, giảm
bớt rào cản, mở cửa, tự do hoá thò trường tài chính. Thò trường tài chính mà
chủ yếu là thò trường chứng khoán đã trở thành kênh quan trọng thu hút
các dòng vốn đầu tư từ nước ngoài thông qua các giao dòch chứng khoán
(FPI). Từ kênh này, nhà đầu tư sẽ có thêm cơ hội để đa dạng hoá danh
mục đầu tư, giảm rủi ro, giảm chi phí vốn và kỳ vọng tỷ suất sinh lợi cao,
dòng vốn quốc tế lưu thông một cách dễ dàng, nhanh chóng theo lý thuyết
“nước chảy vào chỗ trũng”, tạo áp lực cải thiện chất lượng thông tin và
hiệu quả của TTCK. Tuy nhiên, dòng vốn này phải đối mặt với nhiều rủi
ro, đầu cơ, lũng đoạn, sự vào ra nhanh chóng, khó kiểm soát và rất có thể
dẫn đến sự “bay hơi” tài chính. Khủng hoảng tài chính Đông Nam năm
1997 là một điển hình.
1.2.2.3- Vay nợ nước ngoài :
Chính phủ cũng như các DN có thể lựa chọn nhiều hình thức huy
động vốn : gián tiếp (vay thương mại) thông qua các ngân hàng, quỹ tín
dụng nước ngoài, vay trực tiếp bằng cách phát hành giấy nợ (trái phiếu)
trên thò trường vốn quốc tế. Vay nước ngoài thường có lãi suất rất cao, việc
sử dụng kém hiệu quả khoản vay có thể dẫn đến mất khả năng chi trả, vỡ
nợ, ảnh hưởng đến uy tín quốc gia. Khoản vay này phụ thuộc vào mức độ
tín nhiệm quốc gia, nếu mức độ tín nhiệm cao, các khoản vay có thể được
hưởng lãi suất thấp hơn và ngược lại.
1.2.2.4- Nguồn vốn ODA :
Đây là dòng vốn viện trợ phát triển chính thức của các tổ chức quốc
tế, của Chính phủ hoặc phi chính phủ cho các nước đang phát triển, nhằm
thúc đẩy sự phát triển của các nước này, nâng cao phúc lợi xã hội … Dòng
vốn này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, vì
ở các nước này cơ sở hạ tầng thường yếu kém, nhu cầu đầu tư cao nhưng
lại rất thiếu vốn, đặc biệt là vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
1.2.3- Mối quan hệ giữa các dòng vốn :
Một nền kinh tế muốn có sự phát triển với tốc độ cao, theo xu hướng
ổn đònh, bền vững cần phải có một cơ cấu huy động và sử dụng các nguồn
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét