phải là hậu quả trực tiếp từ hành vi gây thiệt hại. tuy nhiên mối quan hệ này
trên thực tế cần phải được xác định rõ ràng cụ thể để xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại.
II. CƠ SỞ XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE, TÍNH
MẠNG BỊ XÂM PHẠM
1. Cơ sở pháp lý
1.1. Xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại
Sức khỏe không thể định giá bằng một khoản tiền. Nhưng khi người
nào gây thiệt hại phải bồi thường mang tính chất bù đắp thiệt hại. thực chất
bồi thường thiệt hại về sức khỏe có ý nghĩa đền bù một phần thiệt hại về vật
chất, tạo điều kiện cho nạn nhân hay gia đình họ khắc phục khó khăn do tai
nạn gây nên và trong một số trường hợp có ý nghĩa là một trợ cấp cho nạn
nhân và gia đình nạn nhân. Xác định thiệt hại về sức khỏe bị xâm hại được
quy định tại Điều 609 BLDS 2005 bao gồm thiệt hại cả về vật chất và thiệt
hại về tinh thần. Cách xác định thiệt hại khi sức khỏe bị xâm hại được hướng
dẫn cụ thể theo nghị quyết 03 của HĐTP- TANDTC ngày 08/07/2006.
a. Đối với thiệt hại về vật chất
Xác định thiệt hại về vật chất được quy định tại khoản 1 điều 609 gồm
những thiệt hại về tài sản sau:
Thứ nhất, Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi
sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại. “ Chi phí
hợp lý” là những chi phí phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp
với giá cả ở từng địa phương. Đó là những chi phí cho việc cứu chữa, bồi
dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt
hại có thể bao gồm: chi phí hợp lí cho việc cứ chữa bồi dưỡng phục hồi sức
khỏe như tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y
5
tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp
cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu theo chỉ định
của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục
hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực
tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại.
Đồng thời người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn phải bồi
thường khoản tiền chi phí cho việc phục hồi chức năng bị mất, bị giảm sút của
người bị thiệt hại như: các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua
xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ để hỗ trợ hoặc thay thế
một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.
Trên thực tế, có trường hợp người bị thiệt hại được đưa ra nước ngoài
điều trị hoặc giữa các bên có tranh chấp phát sinh liên quan đến việc cứu
chữa, điều trị người bị thiệt hại Bởi thực sự người bị thiệt hại đã mất đi một
số chi phí cứu chữa thực tế rất lớn để phục hồi sức khỏe của mình. Tuy nhiên
chi phí hợp lí không đồng nhất với chi phí thực tế mà người bị thiệt hại phải
chịu. Chi phí hợp lí để cứu chữa, phục hồi sức khỏe chỉ là chi phí phù hợp với
tính chất và mức độ của thương tích, phù hợp với điều kiện thực tế của địa
phương và của đất nước.Trong trường hợp này nếu xét thấy cần thiết và theo
yêu cầu của một trong các bên, tòa án có thể trưng cầu giám định để xác định
thiệt hại (chi phí điều trị) cho hợp lí. Chẳng hạn như anh X đâm xe vào chị K
bị tai nạn trấn thương, bị liệt nửa người. xác định thiệt hại gồm tiền đưa bệnh
nhân đi bệnh viện, Chụp X- quang, chụp cắt lớp, tất cả chi phí về thuốc men
phục vụ chữa chạy cho K; tiền chăm sóc K và cả tiền đi mua xe lăn cho K.
Nếu bác sĩ cố tình kê cho K những loại thuốc rất đắt tiền, kéo dài thời gian
điều trị thì khi xác định thiệt hại phải dựa theo một ca điều trị trung bình trong
nước. Do vậy khoản tiền không hợp lý ấy sẽ không được tính khi xác định
thiệt hại.
6
Thứ hai là thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị
thiệt hại (điểm b, khoản 1 Điều 609). thu nhập được tính để làm căn cứ bồi
thường phải là những thu nhập thực tế. Điều này có nghĩa là trước khi sức
khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có được thu nhập này, tuy nhiên sau khi
sức khỏe bị xâm phạm thì thu nhập đó họ không thu được nữa (bị mất) hoặc
chỉ thu được một phần ( bị giảm sút). Sau khi xác định được thu nhập thực tế,
người bị thiệt hại sẽ được bồi thường thiệt hại này nếu họ thuộc trường hợp bị
mất thu nhập hoặc được hưởng phần chênh lệch thu nhập từ việc thu nhập thu
được sau khi bị thiệt hại về sức khỏe thấp hơn thu nhập trước đó. Thu nhập
thực tế để làm căn cứ xác định mức bồi thường được tính như sau:
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập
ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn
cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm
sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của
người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và
hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau,
thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì
của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều
trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập
thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu
nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định
khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc
và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 609 BLDS.
7
Như vậy theo hướng dẫn của Nghị quyết 03, thu nhập thực tế bị mất
hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại phải được tính vào thiệt hại thực tế khi
đó là những thu nhập bị mất, giảm sút thực sự. Tức là trước khi bị thiệt hại về
sức khỏe thì người đó có thu nhập là bao nhiêu, và khi bị thiệt hại, người đó
không còn được hưởng hoặc hưởng không đủ khoản thu nhập đó. Vậy là điều
kiện tiên quyết để tính thu nhập bị mất hoặc giảm sút khi xác đinh thiệt hại là
phải có thu nhập thật sự trong thực tế. Nếu thực tế không có khoản thu nhập
ấy thì không buộc bên có nghĩa vụ phải bồi thường.
Thời gian hưởng bồi thường thu nhập thực tế cũng là một vấn đề rất
quan trọng. Bởi khi xác định được thu nhập bị mất hoặc giảm sút ấy còn phải
tính được khoảng thời gian thu nhập ấy bị mật, bị giảm sút. Trường hợp thứ
nhất, nếu người bị thiệt hại không bị mất hoàn toàn khả năng lao động thì thời
điểm xác định thu nhập nói trên từ khi sức khỏe bị xâm hại đến khi sức khỏe
được phục hồi. Trường họp thứ hai, căn cứ vào khoản 1 Điều 612 “Trong
trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị
thiệt hại được hưởng bồi thường cho đến khi chết”, thời gian tính thu nhập bị
mất, bị giảm là từ khi sức khỏe bị thiệt hại cho đến khi người đó chết. Trong
trường hợp thực tế giá trị khoản thu nhập thường là rất lớn. Do vậy thực tế
thiệt hại do người có năng lực chịu TNBTTH gây ra chỉ làm thiệt hại đến sức
khỏe như mất khả năng lao động nhưng lại cố ý làm chết người bị thiệt hại để
không phải chịu mức bồi thường thu nhập cũng như các chi phí khác cho cứu
chữa, phục hồi sực khỏe, thu nhập bị mất, bị giảm sút của người đó đến khi họ
chết lại thường lớn hơn chi phí khi gây thiệt hại làm chết một người.
Thứ ba là chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế của người chăm
sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị (điểm c, Khoản 1 Điều 609).
Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động
như bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường
hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng
8
lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên và cần có người thường xuyên chăm sóc thì
phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Chi phí
hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng
tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho
người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại. Chi phí hợp lý này được tính
bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa
phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt
hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.
b. Đối với thiệt hại về tinh thần
Cơ sở pháp lý xác định thiệt hại về tinh thần được quy định tại Khoản 2
Điều 609 BLDS 2005:
Khác quy định về BLDS 1995,thiệt hại về tinh thần chưa phải là thiệt
hại bắt buộc phải xác định mà chỉ có thể phải xác định trong từng trường hợp.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 609 BLDS 2005: “Người xâm phạm sức khoẻ
của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này
và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh
chịu”, vấn đề thiệt hại về tinh thần bắt buộc phải được xác định. Trong mọi
trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường
khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. khoản tiền này phải được bồi thường
cho chính người bị thiệt hại. chẳng hạn bị hủy hoại khuôn mặt hay cụt tay
nhất định sẽ gây tổn hại không nhỏ đến tinh thần của người bị hại.
Trên thực tế việc xác định mức độ bồi thường thiệt hại tinh thần khi sức
khỏe bị xâm hại là một vấn đề còn rất khó xác định. Bởi những thiệt hại thực
tế có thể rất lớn nên có rất nhiều tranh cãi về vấn đề này.Theo hướng dẫn tại
điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết 03 để xác định mức độ tổn thất
về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần
cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội,
9
sinh hoạt gia đình và cá nhân… Như vậy, xác định mức bồi thường thiệt hại
cần phải dựa vào các cán cứ như: hậu quả của hành vi xâm phạm đối với
chính bản thân người bị hại. Tức là người bị hại không chỉ bị thương tích
hoặc bị tổn hại nặng đến sức khỏe vừa chịu đau dớn về thể xác, mà còn chịu
thiệt hại về tinh thần (chịu những hậu quả xấu về thẩm mỹ, quan hệ xã hội,
nghề nghiệp )
Thực tế thường có thể xảy ra hai trường hợp: một là, sức khỏe bị thiệt
hại trầm trọng, cố tật trầm trọng, tàn phế sự thiệt hại này khiến tổn thất cho
gia đình cũng như chính nạn nhân là rất lớn. Hai là thiệt hại tinh thần khi phụ
thuộc vào điều kiện kinh tế ,độ tuổi, vị trí công việc, dung mạo cũng là
những trường hợp thiệt hại về tinh thần khó có thể định lượng được.
Về mức bồi thường được quy định như sau: “Mức bồi thường bù đắp
tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì
mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.
Nếu các bên không thể tự thỏa thuận được thì tòa án sẽ quyết định nhưng
không quá ba mươi tháng lương tối thiểu, tức là dưới 20.000.000đ.
1.2. Xác định Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Tính mạng của con người là vô giá không thể định giá được bằng tiền.
Do vậy bồi thường khi tính mạng bị xâm hại thực chất cũng là bồi thường vật
chất phải bỏ ra liên quan đến cái chết của người bị thiệt hại. cơ sở pháp lý xác
định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm được quy định trong Điều 610
BLDS 2005 cũng là thiệt hại về vật chất và tổn thất về tinh thần bao gồm:
a. Đối với thiệt hại về vật chất
Trước tiên là Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm
sóc người bị thiệt hại trước khi chết. Đó là những chi phí hợp lý có thể chấp
nhận được phát sinh do người bị thiệt hại bị xâm hại nhưng chưa chết ngay.
Xác định những chi phí cứu chữa, chăm sóc người bị hại trước khi chết phải
10
rất cần thiết. Những khoản này được tính như đối với xác định chi phí hợp lý
cho cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại khi sức khỏe bị xâm
hại. Chính vì thế bởi cộng những thiệt hại gồm chi phí cứu chữa, rồi tiếp đến
các chi phí ma chay sẽ lớn hơn là làm người ấy thiệt hại tính mạng mang
ngay. điển hình một vụ án mới xảy ra năm 2009, Đặng Văn A cố ý lái xe lăn
ba lần lên H gây hậu quả chết người. một trong những lí do là để không phải
bồi thường các chi phí, cứu chữa, chăm sóc H với những thiệt hại gây ra theo
quy định của pháp luật.
Thứ hai Chi phí hợp lý cho việc mai táng nạn nhân là khoản chi phí
tương đối phức tạp, nó phụ thuộc vào phong tục tập quán của từng địa
phương. Xác định chính xác những chi phí này liên quan đến truyền thống
đạo đức, tâm linh của dân tộc ta. Thực tế ở mỗi vùng khác nhau có nhưng
phong tục mai táng đặc thù, nhiều khi rất tốn kém. Nhà nước ta vẫn thừa nhận
một số phòng tục ma chay ấy. Vì thế để tính chi phí hợp lí là không đơn giản.
Hiện nay Nghị quyết 03 của HĐTP- TANDTC hướng dẫn về các chi phí mai
táng gồm: “các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm
liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ
cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp
nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ ”
Căn cứ vào cơ sở pháp lý trên. Trong hoạt động xét xử, tòa án chỉ chấp
nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của gia đình bị hại trong giới hạn sự kiệt kê
của nghị quyết 03. Những yêu cầu về khoản tiền ăn uống ba ngày, bốn chín
ngày, một trăm ngày theo phong tục, tiền cũng bái, xây mộ không được chấp
nhận. Tòa án không dựa trên những thể hiện của người nhà bị hại mà nâng
cao chi phí mai táng buộc người có trách nhiệm phải bồi thường. Tức là mặc
dù các chi phí cúng bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ là thiệt hại mà người nhà
nạn nhân phải chịu trên thực tế, nhưng đó không phải là căn cứ để xác định
chi phí mai táng. Chi phí mai táng thực tế ấy phải được luật quy định buộc
11
người có trách nhiệm bồi thường phải đền bù thì mới được tính làm cơ sở xác
định thiệt hại.
Thứ ba, Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có
nghĩa vụ cấp dưỡng là Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị
thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết nếu trước khi tính mạng bị xâm
phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Căn cứ
theo Điểm a Khoản 1 Điều 610 và nghị quyết 03, những người đang được
người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương
ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ
nuôi dưỡng thì họ được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với
thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của
người được bồi thường.
Đối tượng được hưởng cấp dưỡng là: Con chưa thành niên hoặc con đã
thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi
mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;
Cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; Vợ
hoặc chồng không có khả năng lao động. Ngoài ra những đối tượng khác như
ông bà, anh em cũng được hưởng cấp dưỡng nếu trước khi nạn nhân chết họ
được người ấy nuôi dưỡng cho đến thời điểm họ chết thì họ vẫn không có khả
năng lao động hoặc không thể tự nuôi sống bản thân.
Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm
phạm. Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết
và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười
tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám
tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân; Người đã
thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng
cho đến khi chết.
12
b. Đối với thiệt hại về tinh thần
Thiệt hại về tính mạng là những đau đớn, mất mát về tình cảm mà
không gì có thể bù đắp được. Những thiệt hại ấy do những người thân thích
của người thiệt mạng gánh chịu. Tổn thật này rất khó xác định thành tiền và
xác định người thân thích của nạn nhân có bị thiệt hại hay không gặp rất
nhiều khó khăn. khác với quy định tại BLDS1995, tất cả các trường hợp thiệt
hại về tinh thần đều phải bồi thường. Khoản tiền bồi thường tổn hại về tinh
thần khi tính mạng bị xâm phạm do những người thân thích của người bị thiệt
hại nhận (Khoản 2 Điều 610 BLDS 2005). Việc xác định mức độ tổn thất về
tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối
quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của
người bị thiệt hại…
Việc xác định mức bồi thường tổn thất về tinh thần ở từng trường hợp
phức tạp. Tòa án phải căn cứ vào tổn thất thực tế mà người thân người bị hại
phải gánh chịu để xác định mức độ bồi thường. Mức độ bồi thường trước hết
do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không
quá 60 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết
bồi thường.
2. Cơ sở thực tiễn
Xác định thiệt hại dựa trên cơ sở pháp lý do luật định sẽ không có ý
nghĩa nếu trên thực tế không có thiệt hại xảy ra. Khi xác định thiệt hại do sức
khỏe tính mạng bị xâm hại vừa dựa trên cơ sở pháp lí cũng như cơ sở thực
tiễn. Cơ sở thực tế ấy phải được pháp luật thừa nhận. Tức là dù thực tế người
bị thiệt hại phải chịu những tổn thất do sức khỏe tính mạng bị xâm hại. Nhưng
những tổn thất ấy không được pháp luật quy định thì cũng không thể trở thành
cơ sở xác định thiệt hại. Để tìm hiểu rõ cơ sở thực tế khi xác định thiệt hại
13
trong trường hợp này, có thể dựa trên phân tích những vụ việc xảy ra trên
thực tế dưới đây.
a. Vụ việc thứ nhất: xác định thiệt hại do tính mạng sức khỏe bị xâm
phạm.
Nội dung vụ việc: vì ghen tuông Nguyễn thị Y nấp vào ở cổng nhà chị
L, bất ngờ tạt axit chị Nguyễn thị L ( là ca sĩ). Chị L bị tạt a xít vào mặt và
người gây tổn hại cho sức khỏe 40%. Bà H phải vào viện điều trị trong thời
gian 30 ngày với mức viện phí hết 22.000.000đ. Chi phí chăm sóc phục hồi
sức khỏe của H trong vòng ba tháng hết 9.000.000đ. Tiền bồi thường tổn thất
về tinh thần do các bên thỏa thuận là 15.000.000đ. Do bị biến dạng về khuôn
mặt và cơ thể, bà L đã đi phẫu thuật chỉnh hình hết ở nước ngoài gồm chi phí
đi lại, chi phí sinh hoạt, chi phí phẫu thuật hết 300.000.000đ. Trước khi bị tạt
axít L có thu nhập là 12.000.000đ/tháng. Xác định thiệt hại trong vụ việc này?
Trong vụ việc này có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại vì có:
thiệt hại xảy ra là sức khỏe bị tổn hại 40%. Hành vi trái pháp luật của Y là
hành vi tạt axit lên mặt và người L. Lỗi cố ý, có sự chuẩn bị từ trước. Tổn hại
sức khỏe của L là kết quả hành vi tạt axit của Y. Do vậy Y phải chịu trách
nhiệm bồi thương thiệt hại.
Xác định thiệt hại gồm:
- Chi phí cho việc cứu chữa điều trị : 22.000.000đ
- Chi phí chăm sóc phục hồi sức khỏe của L : 9.000.000đ
- Thu nhập bị mất là: 12.000.000 x 4 tháng = 48.000.000đ
- Mức tổn thất về tinh thần là: 15.000.000đ
Đây là những chi phí hợp lí cho việc chăm sóc, phục hổi sức khỏe, thu
nhập bị mất của L khi bị xâm hại về sức khỏe. Đây là mức chi phí mà pháp
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét