1.3
Phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ
và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối
quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài
chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh
nghiệp, nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau.
Phương pháp so sánh
Để áp dụng phương pháp này, cần phải đảm bảo các điều kiện có thể
so sánh được của các chỉ tiêu tài chính: thống nhất về không gian, nội
dung, tính chất và đơn vị tính toán tùy theo mục đích phân tích mà xác
định gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc
không gian, kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch,
giá trị so sánh có thể được lựa chọn là số tuyệt đối, số tương đối hoặc số
bình quân. Nội dung so sánh gồm:
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ
xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay
thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
So sánh giữa số thực hiện và số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu
của doanh nghiệp.
So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của
ngành của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được.
So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với
tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi
cả về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên
độ kế toán liên tiếp.
5
Nhìn chung sử dụng phương pháp này có ưu điểm là xác định rõ vị
trí và xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích, tuy nhiên phương pháp so
sánh cũng có hạn chế là không chỉ ra được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu và
để so sánh được với nhau thì các chỉ tiêu phải có điều kiện nhất định về
nội dung, phương pháp tính toán, đơn vị
1.3.1 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng
tài chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu
cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh giá
tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh
nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân
thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các
mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng
thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực
hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời.
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ
phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo
giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để
phục vụ mục tiêu phân tích của mình.
Phương pháp này được sử dụng khá nhiều trong các DN, thông qua
tính toán tỷ lệ của các chỉ tiêu tài chính cho thấy những thay đổi và xu
hướng biến động của các chỉ tiêu, hơn nữa việc tính toán các tỷ lệ tài chính
này còn cho thấy được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Tuy nhiên,
điểm hạn chế trong phương pháp này chính là việc tính toán được các
ngưỡng và tỷ lệ tham chiếu để so sánh, đồng thời phương pháp này cũng
chưa chỉ ra được mối quan hệ giữa các tỷ lệ tài chính
6
1.3.2 Phương pháp DUPONT
Phương pháp phân tích tài chính DUPONT cho thấy mối quan hệ
tương hỗ giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu. Công ty DUPONT là công ty đầu
tiên ở Mỹ sử dụng các mối quan hệ chủ yếu này để phân tích các tỷ số tài
chính. Vì vậy, nó được gọi là DUPONT. Ngày nay, phương pháp này được
sử dụng rộng rãi trong nhiều quốc gia. Phương pháp DUPONT yêu cầu
người phân tích phải có kỹ năng phân tích tốt thì mới có thể đánh giá chính
xác mối quan hệ giữa các chỉ tiêu, tỷ lệ tài chính chủ yếu
Theo phương pháp này, trước hết chúng ta xem xét mối quan hệ
tương tác giữa hệ số sinh lợi doanh thu với hiệu suất sử dụng tài sản và
được ký hiệu là Rr.
Khi đó:
R
r
=
Lợi nhuận sau thuế
x
Doanh thu thuần
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Nội dung phân tích tài chính
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, yếu tố đầu tiên doanh
nghiệp cần đó chính là vốn. Doanh nghiệp phải tiến hành tổ chức huy động,
phân phối quản lý và sử dụng có hiệu quả. Việc phân tích các chỉ tiêu tài
chính sẽ giúp cho người sử dụng nắm bắt được thông tin quan trọng nhất về
tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung chủ yếu của phân tích tài
chính bao gồm:
=
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
7
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
Phân tích các nhóm chỉ tiêu đặc trưng tài chính doanh nghiệp.
1.3.3 Đánh giá khái quát tình hình tài chính
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN sẽ cung cấp một cách
tổng quát nhất tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh. Điều đó cho phép
chủ DN biết rõ thực trạng tài chính của mình và dự đoán được chiều hướng
phát triển hay suy thoái trong tương lai. Qua đó có biện pháp hữu hiệu để
quản lý tốt vấn đề tài chính của DN.
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN trước hết phải căn cứ
vào số liệu trên BCĐKT: ta tiến hành so sánh TS, NV đầu năm và cuối kỳ
để biết được quy mô, khả năng huy động.
Theo quan điểm luân chuyển vốn, tình hình TS của DN (gồm TSNH
và TSDH) được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu DN: tức là DN sử
dụng vốn chủ sở hữu của mình để tài trợ phục vụ cho hoạt động SXKD của
mình. Mối quan hệ này được thể hiện qua đẳng thức:
Vốn chủ sở hữu = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn
Các chỉ tiêu trên được thu thập trên BCĐKT, vì thế ta có thể cụ thể
đẳng thức trên như sau:
BNV = A(I+II+IV+V)TS + B(II+III+IV+V)TS (1)
Vế trái và vế phải của cân đối (1) có thể chi tiết trên bảng sau
Bảng cân đối giữa vốn chủ sở hữu với tài sản
Vốn chủ sử hữu Tài sản
Vốn chủ sở hữu (loại B nguồn vốn) I.TSNH
1. Tiền và các khoản tương đương tiền
2. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
3. Hàng tồn kho
4. Chi phí trả trước ngắn hạn
5. TSNH khác
II. TSDH
1.TSCĐ
2. Bất động sản đầu tư
3. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
4. Chi phí trả trước dài hạn
8
5. TSDH khác
Chuyên khảo về báo cáo tài chính và lập, đọc, kiểm tra, phân tích báo cáo tài chính
PGS.TS.Nguyễn Văn Công
9
Nhìn chung cân đối (1) chỉ mang tính lý thuyết, nghĩa là với nguồn
vốn chủ sở hữu, DN đủ trang trải các loại TS cho các hoạt động chủ yếu mà
không phải di vay hoặc chiếm dụng vốn. Trên thực tế, thường xảy ra một
trong hai trường hợp sau:
Trường hợp I: vế trái > vế phải
Trường hợp này, DN thừa nguồn vốn, không sử dụng hết nên sẽ bị
chiếm dụng
Trường hợp II: vế trái < vế phải
Do thiếu nguồn vốn để trang trải TS nên chắc chắn DN phải đi vay
hay chiếm dụng vốn từ bên ngoài như. Trong quá trình hoạt động kinh
doanh, khi nguồn vốn chủ sở hữu không đáp ứng đủ nhu cầu SXKD của
DN thì DN được phép vay vốn để bổ sung nguồn vốn kinh doanh. Loại trừ
những khoản vay quá hạn thì các khoản vay ngắn, trung và dài hạn (của
NH hay các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước) chưa đến hạn trả, dùng
cho mục đích kinh doanh đều được coi là nguồn vốn hợp pháp (vay hợp
pháp). Do vậy, về lý thuyết có cân đối (2)
BNV + A nguồn vốn vay hợp pháp= A(I+II+IV+V)TS +
B(II+III+IV+V) (2)
BNV + vay, nợ ngắn và dài hạn = A(I+II+IV+V)TS +
B(II+III+IV+V) (2)
Bảng cân đối giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay trong hạn với TS
Vốn chủ sử hữu Tài sản
I. Vốn chủ sở hữu (loại B nguồn vốn)
II. Vốn vay trong hạn
1. Vay và nợ ngắn hạn
2. Vay và nợ dài hạn
I.TSNH
1. Tiền và các khoản tương đương tiền
2. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
3. Hàng tồn kho
4. Chi phí trả trước ngắn hạn
5. TSNH khác
II. TSDH
1.TSCĐ
2. Bất động sản đầu tư
3. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
4. Chi phí trả trước dài hạn
5. TSDH khác
10
Cân đối (2) thường không xảy ra mà trên thực tế xảy ra một trong hai
trường hợp sau:
Trường hợp I: vế trái > vế phải
Trong trường hợp này, do không sử dụng hết nguồn vốn nên nguồn
vốn dư thừa của DN sẽ bị chiếm dụng.
Trường hợp II: vế trái < vế phải
Ngược với trường hợp trên, trong trường hợp này, do thiếu nguồn bù
đắp cho TS nên DN buộc phải chiếm dụng vốn trong thanh toán (chiếm
dụng hợp pháp và bất hợp pháp)
Mặt khác, do tính chất cân bằng của BCĐKT nên cân đối (2) được
viết lại như sau:
BNV + A.nguồn vốn vay trong hạn(I
311
+II
324
)NV + A.nguồn vốn thanh
toán(I+II-I
311
-II
324
)NV = A(I+II+IV+V-V
152
)TS + B(II+III+IV+V-V
262
)TS +
A.TS thanh toán ngắn hạn(III+V
152
)TS + B.TS thanh toán dài
hạn(I+V
262
)TS(3)
Biến đổi cân đối (3) được:
BNV + A.nguồn vốn vay trong hạn(I
311
+II
324
)NV– A (II+III+IV+V-V
152
)TS
- B(II+III+IV+V-V
262
)TS = A.tài sản thanh toán ngắn hạn(III+V
152
)TS +
B.tài sản thanh toán dài hạn(I+V
262
)TS – A.nguồn vốn thanh toán(I+II- I
311
-
II
324
)NV (4)
Trong đó: A(I
311
)NV là khoản vay và nợ ngắn hạn
A(II
324
)NV là vay và nợ dài hạn
A(V
152
)TS là các khoản thuế phải thu
B(V
262
)TS là TS thuế thu nhập hoãn lại
Cân đối (4) thể hiện cân bằng tài chính và có thể phản ánh qua sơ đồ sau
Vốn chủ sở hữu và vốn vay
trong ngắn hạn
I. Vốn chủ sở hữu(loại B
- TSNH và TSDH
I.TSNH
1. Tiền và các khoản tương đương tiền
11
trong nguồn vốn)
II. Vốn vay trong ngắn hạn
1.Vay và nợ ngắn hạn
2.Vay và nợ dài hạn
2. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
3. Hàng tồn kho
4. Chi phí trả trước ngắn hạn
5. TSNH khác
II. TSDH
1.TSCĐ
2. Bất động sản đầu tư
3. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
4. Chi phí trả trước dài hạn
5. TSDH khác
-
Tài sản thanh toán
I. Nợ phải thu ngắn hạn
1. Các khoản phải thu
2. Thuế thu nhập phải thu
II. Nợ phải thu dài hạn
1. Các khoản phải thu dài
hạn
2. TS thuế thu nhập hoãn lại -
Nguồn vốn thanh toán
I. Nợ phải trả ngắn hạn
1. Phải trả người bán
2. Người mua trả tiền trước
3. Thuế và các khoản phải nộp cho nhà nước
4. Phải trả công nhân viên
5. Chi phí phải trả
6. Phải trả nội bộ
7. Phải trả theo tiến độ hợp đồng xây dựng
8. Các khoản phải trả, phải nộp khác
II. Nợ phải trả dài hạn
1. Phải trả người bán
2. Phải trả dài hạn nội bộ
3. Phải trả dài hạn khác
4. Thuế hoãn lại phải trả
Cân đối (4) cho thấy số vốn mà DN bị chiếm dụng (phần chênh lệch
giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp trong hạn lớn hơn TSNH và
TSDH tương ứng) đúng bằng số chênh lệch giữa số TS phát sinh trong quá
trình thanh toán ( nợ phải thu ngắn và dài hạn) với nguồn vốn chiếm dụng
trong thanh toán (phải trả ngắn và dài hạn) và ngược lại số vốn mà DN đi
chiếm dụng đúng bằng số chênh lệch giữa nguồn vốn chiếm dụng trong
thanh toán với số TS phát sinh trong quá trình thanh toán.
Ngoài ra người ta còn nghiên cứu, xem xét tỷ suất đầu tư trang bị
cho TS. Tỷ suất đầu tư phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật,
thể hiệu năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của DN.
Tỷ suất đầu tư cho TS =
TSDH
Tổng TS
Trị số này tùy thuộc vào từng loại hình kinh doanh cụ thể. Có thể coi
là hợp lý nếu trị số này đối với công nghiệp dầu mỏ là 0.9, công nghiệp
luyện kim là 0.7 nếu tỷ lệ đầu tư tăng lên thì năng lực sản xuất của DN
12
có xu hướng tăng lên. Song các chủ DN thuộc ngành thương mại, dịch
vụ thận trọng nếu tỷ lệ này quá cao, nhìn chung tỷ số này từ 0.1-0.5 là
vừa phải đối với DN thương mại, dịch vụ. Bên cạnh việc xem xét tình hình
phân bổ vốn, cần phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm đánh giá khả năng tự
tài trợ về mặt tài chính của DN
Tỷ suất tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữu
Tổng NV
Tỷ suất này thể hiện mức độ tự chủ trong kinh doanh của DN, nhìn
chung tỷ suất này càng cao càng thể hiện khả năng độc lập về mặt tài
chính, khả năng tự tài trợ của DN là tốt. Trong thực tế, nếu tỷ lệ này giảm
xuống < 0.5 tình hình tài chính là đáng báo động, dễ có khả năng đổ vỡ.
Ngoài hai tỷ suất trên, ta có thể phân tích bổ sung tỷ suất sau:
Tỷ suất tự tài trợ cho
TSDH
=
Nguồn vốn chủ sở hữu
TSDH
Tỷ suất này phải > 1 thì DN mới có điều kiện phát triển SXKD. Vì
nếu tỷ suất này = 1 thì toàn bộ vốn tự có của DN đã tài trợ hết cho TSDH,
để có được TSNH DN chỉ còn cách là đi vay mượn.
Tỷ suất tự chủ tài
chính
=
Nguồn vốn tự có
Nợ phải trả
Tỷ suất này cho biết DN có độc lập về tài chính hay không. Tỷ số
này > 1 chứng tỏ DN ít bị ràng buộc với các chủ nợ và được độc lập về mặt
tài chính
1.3.4 Phân tích các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính chủ yếu
Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính
Gia tăng lợi nhuận luôn luôn là điều mong ước của doanh nghiệp,
nhưng họ lại luôn không thích những rủi ro. Nghiên cứu cơ cấu tài chính sẽ
góp phần giải quyết vấn đề này. Trong kinh doanh, chế độ thanh toán thu
chi đã được quy định: các khoản phải thu, phải trả luôn phát sinh. Chính vì
Lâm Bỉnh Kiệt(1991).Kiểm tra kế toán.tr.78
13
vậy, các khoản nợ nần giữa các doanh nghiệp trong một khoảng thời gian
nào đó dài hay ngắn tùy thuộc vào chế độ quy định như: nộp thuế, nộp lãi
và các phương thức thanh toán được áp dụng còn phụ thuộc vào sử thỏa
thuận giữa các doanh nghiệp với nhau.
Khi một doanh nghiệp có phần vốn đi chiếm dụng lớn hơn phần vốn
bị chiếm dụng tình hình doanh nghiệp sẽ có thêm vốn để đầu tư vào sản
xuất kinh doanh. Nếu ngược lai, doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn thì họ
phải tìm kiếm nguồn vốn khác để bù đắp phần thiếu hụt đó. Đây là vấn đề
bình thường trong nền kinh tế thị trường, tuy nhiên đối với một doanh
nghiệp mà bị chiếm dụng vốn với tỷ lệ cao, hoặc đi chiếm dụng với tỷ lệ
cao thì doanh nghiệp đó cần xem xét.
Chiếm dụng vốn là một nét đặc trưng trong giao dịch thương mại,
thậm chí còn được coi là sách lược kinh doanh hữu hiệu của những đơn vị
kinh tế ngang nhiên hoạt động trên thị trường mà không hề có đồng vốn
nào cả. Bởi vậy, phân tích tình hình công nợ, tìm ra nguyên nhân tồn đọng
các khoản thanh toán nhằm tiến tới làm chủ về tài chính có ý nghĩa quan
trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Hệ số góp vốn là chỉ tiêu đặc trưng trong cơ cấu tài chính của doanh
nghiệp. Hệ số góp vốn có nhiều dạng, nhưng chủ yếu nó đo lường sự góp
vốn của những chủ sở hữu doanh nghiệp so với số tài trợ bởi những người
cho vay (ngân hàng, những người mua trái phiếu ). Trong nền kinh tế thị
trường mỗi doanh nghiệp đều phải hoạt động trong điều kiện rủi ro ít nhiều.
Nếu vốn tự có (góp cổ phần, ngân sách cấp, bổ sung bằng lợi nhuận) chỉ
chiếm một tỷ lệ nhỏ trong sự tài trợ cho doanh nghiệp, khi đó tính rủi ro
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ do những người vay gánh
chịu là chính.
Hệ số góp vốn này cung cấp một thông tin rất quan trọng cho các chủ
nợ. Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào hệ số góp vốn của chủ sở hữu công ty để
thể hiện mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho các khoản nợ.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét