MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế , chính trị khoa học và kỹ
thuật. Tuy nhiên chúng ta đang đối mặt với rất nhiều trở ngại và thách thức
lớn . Một trong các vấn đề lớn đó chính là những hành vi tham nhũng, quan
liêu đã ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế đất nước. Quy mô lớn, thủ
đoạn ngày càng diễn biến phức tạp gây thiệt hại vô cùng to lớn cho sự phát
triển kinh tế nên việc chống tham nhũng là vấn đề vô cùng cấp bách hiện
nay. Và đó chính là lý do nhóm chọn phân tích đề tài.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu các khái niệm về tham nhũng, quan liêu ở nước Việt Nam.
Nghiên cứu những ảnh hưởng và hậu quả mang lại của những hành vi tham
nhũng , tác động đến nền kinh tế nước ta. Thông qua đó đưa ra biện pháp
phòng chống, hạn chế tối thiểu những hành vi tham nhũng, quan liêu ,lãng
phí .
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các khái niệm và thực trạng tham nhũng tại Việt Nam và một
số nước khác trên thế giới ,chủ thể của tội phạm tham nhũng ,các mặt chủ
quan của tham nhũng ,nguyên nhân dẫn đến tham nhũng tìm hiểu tính khả
thi phòng ngừa và ngăn chặn tham nhũng.
4. KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
Tham nhũng đã có từ lâu đời từ các nước trên thế giới ,không riêng gì Việt
Nam. Tham nhũng là vấn đề quốc nạn ,làm xói mòn lòng tin của nhân dân
đối với đảng và nhà nước ,ảnh hưởng và kèm hãm sự phát triển của nền
kinh tế . Tìm hiểu được các vấn đề cơ bản về tham nhũng,thực trạng tham
nhũng tại một số nước nói chung và việt nam nói riêng
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Sự phát triển và giàu có của một quốc gia không phải chủ yếu là do nó có
tài nguyên giàu có, cũng không phải chỉ do sự cần cù của số đông người lao
động. Mà chủ yếu là do những yếu tố kích thích, gắn kết bên trong những
thể chế về quản lý và tổ chức, cho phép thúc đẩy đầu tư và phát triển. Một
Trang 5
sự phát triển lâu bền không thể dựa trên một thể chế quản lý bị lũng đoạn
bởi tham nhũng. Và một nền kinh tế lạc hậu không phải là không bao giờ
có thể đuổi kịp các nước tiên tiến. Vấn đề là phải tạo lập cho được hệ thống
công quyền tích cực, nhằm bảo đảm quyền sở hữucủa các cá nhân, và thúc
đẩy sự tiến bộ của xã hộ cũng như sự ổn định vững vàng của chế độ chính
quyền cũng như độc lập an ninh của Tổ quốc.
Nhận thức được những hậu quả của tội phạm tham nhũng gây ra chúng ta
cần phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm đấu tranh phòng chống vấn
nạn này, làm trong sạch bộ máy chính quyền, lấy lại niềm tin trong nhân
dân và một môi trường phát triển lành mạnh cho kinh tế Việt Nam.
Trang 6
CHƯƠNG I : TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM NHŨNG
1.1 Khái Niệm Về Tham Nhũng
Tham nhũng “là hành vi của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý
làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân” (1)
Trong Pháp lệnh chống tham nhũng, tại Chương I, Điều 1 có xác định:
“Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức
vụ, quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ
vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm
phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức” (2).
Chống tham nhũng của Nhà nước ta (có hiệu lực thi hành từ ngày
01/6/2006) đã ghi: "Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền
hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” (3).
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực cùng với sự xuất hiện của
nhà nước . Nó biểu hiện sự sa thái trong bộ phận quan chức nhà nước .
Tham Nhũng có thể coi như một hiểm họa của đất nước: Tham nhũng –
Giặc nội xâm!
1.2 Khái Niệm Về Tội Phạm Tham Nhũng
Tham nhũng gồm những ai . Tham nhũng là hành vi của kẻ có chức quyền.
kẻ tham nhũng là viên chức trong hệ thống cầm quyền. Tham nhũng nhỏ
xảy ra ở người có chức quyền nhỏ. Tham nhũng lớn ở người có chức quyền
lớn. Tuy không có quy định thành văn nhưng trong thực tế từ cán bộ cấp
trưởng ấp, trưởng khu phố đến phó trưởng phòng của phường xã, đều phải
là đảng viên. Do vậy bệnh tham nhũng trong thực tế lại chính là bệnh của
đảng viên từ thôn ấp cho tới những cơ quan cao nhất! Nhiều đảng viên
không làm công tác chính quyền, nhưng với cơ chế Đảng lãnh đạo toàn
diện, họ có điều kiện tham nhũng còn hơn cả viên chức chính quyền. Vậy
tham nhũng là bệnh của Đảng, của cả hệ thống chính trị.
Cho tới nay, tham nhũng một hiện tượng xã hội tiêu cực để trở thành một
quốc nạn của toàn xã hội, nó gây tác động tiêu cực, không nhỏ đối với xã
hội, gây trong lòng dân làn sóng bất bình, nó là biểu hiện của sự suy thoái
đạo đức, vi phạm pháp luật… khi mà những hành vi tham nhũng đó gây ra
thiệt hại đáng kể cho xã hội đủ các dấu hiệu để cấu thành tội phạm thì phải
Trang 7
bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo Bộ luật Hình sự 1999 (4) thì loại tội
phậm này được quy định ở Mục A - Chương XXI, bao gồm các tội sau:
− Tội tham ô tài sản (Điều 278)
− Tội nhận hối lộ (Điều 279)
− Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản (Điều 280)
− Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều
281)
− Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282)
− Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để
trục lợi (Điều 283)
− Tội giả mạo trong công tác (Điều 284)
Muốn đưa ra được khái niệm về tội tham nhũng, trước hết chúng ta phải
nắm được khái niệm tội phạm nói chung. Theo khoản 1 - Điều 8 - Bộ luật
Hình sự quy định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất
toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế,
nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích
hợp pháp khác của công dân; xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa".
Qua khái niệm về tội phạm nói chung và phần các tội phạm về tham nhũng
được ghi nhận tại Mục A - Chương XXI có thể hiểu khái niệm về tội phạm
tham nhũng như sau: "Các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có chức vụ,
quyền hạn để lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn của mình thực
hiện trong khi thi hành công vụ một cách cố ý trực tiếp xâm phạm vào hoạt
động đúng đắn và uy tín của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân nhằm trục lợi".
1.3 Các Dấu Hiệu đặc Trưng Về Tội Phạm Tham Nhũng
Chủ thể của tội phạm tham nhũng là một loại chủ thể đặc biệt, đòi hỏi đó
phải là những người có chức vụ, quyền hạn. ở đây, ngoài hai dấu hiệu
Trang 8
thông thường là độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự, bắt buộc phải có
dấu hiệu thứ ba là người có chức vụ, quyền hạn. Điều 277 - BLHS 1999
(4) quy định: " Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp
đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng
lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất
định trong khi thực hiện công vụ".
Có thể thấy người có chức vụ quyền hạn có một só đặc điểm như sau:
− Là người được giữ chức vụ thường xuyên hoặc tạm thời trong cơ
quan Nhà nước, tổ chức xã hội. Chức vụ này có thể do bổ nhiệm
hoặc do bầu cử, hợp đồng hay hình thức khác (uỷ quyền, đại diện),
có hưởng lương hoặc không hưởng lương của Nhà nước.
− Là người thực hiện một trong các chức năng: đại diện quyền lực Nhà
nước, tổ chức điều hành quản lý hành chính; hoặc chức năng tổ chức
sản xuất kinh doanh theo công vụ được được giao cho họ.
− Là những người thực hiện trách nhiệm nhất định theo thẩm quyền
chuyên môn mà họ đảm nhận.
Trong các tội phạm tham nhũng, người có chức vụ quyền hạn đã nhận thức
được tính chất nguy hiểm cho Nhà nước, cho xã hội, cho công dân của hành
vi trái luật do mình gây ra và thấy trước được hậu quả xảy ra. Khi người có
chức vụ quyền hạn nhận thức được hành vi của mình là trái với công vụ
được giao thể hiện người đó đã vì lợi ích của riêng mình chứ không hoạt
động vì lợi ích chung, chỉ biết đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể, họ
có thể làm bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau cốt sao mang lại
những lợi ích mà họ mong muốn. Như vậy, đương nhiên tội phạm tham
nhũng luôn được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, nhằm động cơ
vụ lợi cá nhân.
Trang 9
1.4 Tội Phạm Tham Nhũng và Vi Phạm Luật Của Người Có Chức
Quyền
Ta có thể căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây để thấy rõ hơn sự khác
nhau chủ yếu giữa tội phạm tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật
do người có chức vụ quyền hạn thực hiện:
Đối với các tội phạm về tham nhũng thì phạm vi khách thể thường hẹp hơn
so với phạm vi khách thể bị xâm hại của các vi phạm pháp luật do người
có chức vụ quyền hạn thực hiện.
− Tính trái pháp luật của hành vi: Đây chính là đặc điểm khác nhau cơ
bản, quan trọng nhất để xác định hành vi nào là tội phạm về tham
nhũng và hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật do người có chức
vụ quyền hạn thực hiện. Tội phạm tham nhũng là sự vi phạm điều
cấm của Luật Hình sự và người phạm tội bị đe doạ xử lý bằng biện
pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được quy định đặc thù trong
ngành luật này. Còn hành vi vi phạm pháp luật do người có chức vụ
quyền hạn thực hiện chỉ là sự vi phạm các quy định của từng ngành
luật tương ứng khác và có thể không bị coi là tội phạm.
− Hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi: chủ thể chịu trách
nhiệm hình sự đối với tội phạm về tham nhũng nếu bị kết án và bị áp
dụng hình phạt thì bị coi là có án tích. Còn chủ thể chịu trách nhiệm
pháp luật của hành vi vi phạm pháp luật do người có chức vụ quyền
hạn thực hiện được quy định trong từng ngành luật tương ứng và
không bao giờ bị coi là án tích.
Như vậy, không phải tất cả những vi phạm pháp luật do người có chức vụ
quyền hạn thực hiện đều là các tội phạm về chức vụ nói chung, và tội phạm
về tham nhũng nói riêng.
Trang 10
1.5 Các Nguyên Nhân Dẫn Đến Tham Nhũng
Trách nhiệm và trình độ quản lý của thủ trưởng đơn vị quá kém; cơ chế
kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng, quản lý, luân chuyển tài sản có nhiều sơ
hở;.giao tài sản cho nhân viên quản lý nhưng không có biện pháp kiểm tra,
giám sát chặt chẽ; gian lận trong công tác để chiếm đoạt tài sản; các quy
định về nhà đất, thủ tục đền bù giải tỏa không được công khai, rõ ràng
khiến người dân có suy nghĩ phải "đút lót, trà nước" mới xong và cũng là
cơ hội cho cán bộ sách nhiễu. Có sự cấu kết của nhiều người trong nhiều cơ
quan khác nhau. Thủ đoạn này rất tinh vi, nguy hiểm, vì tài sản thất thoát
khó phát hiện, kiểm tra và khó phục hồi.
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG THAM NHŨNG VÀ NHỮNG ẢNH
HƯỞNG TỚI NỀN KINH TẾ
2.1 Thực Trạng Tham Nhũng Ở Một Số Nước
Tham nhũng đã trở thành một mối lo ngại lớn mang tính toàn cầu. Năm
2008, chỉ số nhận biết tham nhũng (viết tắt là CPI), được Tổ chức minh
bạch quốc tế thực hiện sau khi nghiên cứu 85 quốc gia, đã cho thấy, tham
nhũng không chỉ là mối lo của các nước đang phát triển mà còn là của các
nước đang phát triển. Có đến 50 quốc gia không đạt điểm 5 trong thang
điểm từ cấp độ 1 (mức tham nhũng cao nhất) đến cấp độ 10 (mức tham
nhũng thấp nhất). Rất nhiều quốc gia, bao gồm các nước Châu Phi, Châu Á,
Trung Âu và Đông Âu có số điểm thấp hơn cấp độ 3. Một số nước công
nghiệp phát triển như I-ta-li-a, Bỉ và Nhật Bản cũng bị đánh giá là có tỉ lệ
tham nhũng cao.
Kết quả một cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy:
Khoảng 56% số người được hỏi trong cuộc khảo sát đối với 90.000 người ở
86 quốc gia của Tổ chức Minh bạch quốc tế cho biết đất nước họ ngày càng
nhiều tham nhũng. Tổ chức này đặt Afghanistan, Nigeria, Iraq và Ấn Độ
vào danh sách nhiều tham nhũng nhất, theo sau đó là Trung Quốc, Nga và
nhiều nơi ở Trung Đông.
Trang 11
Theo cuộc điều tra của tổ chức Minh bạch quốc tế, các đảng chính trị được
coi là nơi tham nhũng nhất và 50% số người tin rằng chính phủ của họ
không hiệu quả khi đối phó với vấn đề này.
Cứ 4 người được hỏi thì một người cho biết đã đút lót trong năm trước đó
và cảnh sát là người nhận phổ biến. 29% tiền hối lộ được đưa cho cảnh sát,
20% cho các quan chức làm công việc đăng ký và cấp phép và 14% vào tay
các thành viên trong lĩnh vực tư pháp.
Các đảng chính trị từ lâu được cho là nơi nhiều tham nhũng nhất, họ đứng
đầu danh sách của Tổ chức Trong sạch năm 2004 với tỷ lệ 71%. Trong
cuộc khảo sát năm nay, 80% số người cho rằng họ tham nhũng.
Số người cho rằng các tổ chức tôn giáo tham nhũng tăng vọt từ 28% năm
2004 đến 53% năm 2010. Người dân Afghanistan, Nigeria, Iraq và Ấn Độ
nằm trong số những người nhận tham nhũng cao nhất thế giới.
Phần trăm số người đi hối lộ tại các quốc gia trong năm trước (2010)
Phần Trăm (%) Nước
>50 Afghanistan, Cambodia, Cameroon, India, Iraq,
Liberia, Negeria,
30-49.9alestine,
Senegal, Sierra
Leone, Uganda
Azerbaijan, Bolivia,
20-29.9I
Salvador, Ghana,
Kenya, Lebanon,
Lithuania,
Mexico,
Moldova,
Mongolia, Pakist
n, Ukraina,
Vietnam, Zambia
Armenia, Belarus, bosnia& Herzegovina, Chile,
Colombia, FYR Macedonia, Hungary, Papua New
Guinea, Peru, Romania, Russia, Solomon islands,
Thailand, Turkey, Venezuela
6-19.9 Argentina, Austria, Bulgaria, China, Czech
republic, fiji, Luxembourg, Malaysia, Indonesia,
Italy, Japan, Kosovo, Latvia, France, Greeve,
Poland, Philipinesm Serbia, Singapore, Taiwan,
Vanuatu
<6 Australia, Brazin, Canada, Croatia, Denmark,
Trang 12
filand, Georgia, Germany, Hong Kong, Iceland,
Ireland, Israel, South Korea, Netherlands, New
Zealanf, Norway, Norway, Portugal, Slovenia,
Spain, Switzerland, UK, US
(Nguồn: Transparency international Global Corruption Barometer 2010)
Ít nhất một nửa số người được hỏi tại các quốc gia này nói rằng đã đi hối lộ
trong năm vừa qua.
Trong khi đó người dân từ Campuchia (84%), Liberia (89%) lại là người dễ
đi hối lộ nhất. Tỷ lệ này ở Đan Mạch là 0%.
Tính về khu vực thì vùng tiểu Sahara châu Phi là nơi mà người dân dễ đi
hối lộ nhất (56%). Trong khi đó, tỷ lệ này ở các nước châu Âu là thấp nhất
(5%) mặc dù cả 2 khu vực này đều lo lắng hơn về vấn đề tham nhũng.
Các nhà phân tích cho rằng sự lo lắng ngày càng tăng đối với cuộc khủng
hoảng tài chính đã làm giảm lòng tin của người dân vào chính phủ, ngân
hàng và các tổ chức kinh tế.
2.2 Một Số Đặc Trưng Tham Nhũng hiện Nay
Tham nhũng đã trở thành phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh
vực. Đặc biệt là ở các cơ quan, đơn vị quản lý một khối lượng lớn tiền,
hàng, vật tư quý hiếm, ngoại tệ mạnh như Ngân hàng, Tài chính, Thương
nghiệp, Xây dựng cơ bản, Giao thông vận tải Tham nhũng xuất hiện ở cả
các cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Kiểm sát, Tòa án, Hải quan
Các hành vi tham nhũng trong lĩnh vực đất đai (cấp đất, cho thuê đất ) phổ
biến ở chính quyền các địa phương, thậm chí làm trái các qui định của Nhà
nước đã trở thành căn bệnh của mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội.
Tham nhũng được thực hiện bởi những hành vi ngày càng tinh vi, xảo
quyệt. Trong hoạt động kinh tế, chúng được che đậy dưới các hình thức liên
doanh, liên kết, quà biếu, trích thưởng Trong xây dựng cơ bản thì khai
khống khối lượng, mua bán thầu, bớt xén vật tư Trong kinh doanh thì trốn
lậu thuế, giấu nguồn thu, chiếm dụng vốn Trong sản xuất thì lập quỹ đen,
vi phạm các qui định về kế toán thống kê Trong quản lý đất đai thì cấp
đất sai nguyên tắc, mau bán đất trá hình Trong việc thực hiện chính sách
Trang 13
xã hội thì lập hồ sơ giải, khai man thương tật Nói chung, tham nhũng biểu
hiện dưới muôn ngàn hình thức, bằng các thủ đoạn đa dạng và tinh vi.
Quy mô các vụ việc tham nhũng ngày càng lớn, tính chất ngày càng nghiêm
trọng. Có những vụ việc tham nhũng liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp,
nhiều địa phương. Tham nhũng có tính chất tập thể, có sự câu kết chặt
chẽ có xu hướng tăng lên. Thiệt hại đối với tài sản của Nhà nước, của tập
thể mà mỗi vụ tham nhũng gây ra cũng ngày càng nghiêm trọng. (Tính
riêng năm 1991, đã có 1.729 tỷ đồng, 2.7775 triệu USD, 233 lượng vàng bị
thất thoát do các hành vi tham nhũng gây ra).
Tham nhũng gắn chặt với buôn lậu. Thời gian vừa qua, hầu hết những vụ
buôn lậu nghiêm trọng đều có sự tiếp tay của những kẻ tham nhũng trong
cơ quan nhà nước. Mặt khác, những kẻ tham nhũng còn dùng tiền, hàng,
phương tiện của Nhà nước để thực hiện hành vi buôn lậu. Thực chất buôn
lậu và tham nhũng là 2 mặt của một vấn đề, là các dạng thức khác nhau
nhằm chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, làm giàu bất chính.
2.3 Thực Trạng Tham Nhũng Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, các nhà khoa học pháp lý nhìn nhận tham nhũng trên các bình
diện: chính trị, kinh tế, pháp lý, đạo đức, truyền thống và đặc biệt là bằng
công cụ của tội phạm học để ghi nhận tính chất, đặc điểm và mức độ của
tham nhũng. Trên quan điểm tổng thể đó đã nêu ra những đặc trưng cơ bản
của tham nhũng như sau:
Thứ nhất, chủ thể của tham nhũng phải là những người có chức vụ quyền
hạn làm việc trong bộ máy nhà nước ở các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp từ trung ương đến địa phương, cán bộ trong Đảng và các đoàn thể.
Thứ hai, người có chức vụ, quyền hạn đã thực hiện hành vi lợi dụng chức
vụ quyền hạn, lợi dụng địa vị công tác được giao để không làm hoặc làm
trái với công vụ mà mình phải thực hiện và thực hiện đúng qui định của
pháp luật, gây thiệt hại chung cho lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân.
Thứ ba, người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi với động cơ vụ lợi
cho bản thân mình, cho người khác hoặc một nhóm người mà mình quan
tâm.
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét