4. Phân tích hoặc bình giảng các bài thơ: Chiều tối(Mộ),Giải đi sớm(Tảo giải),Mới ra tù tập
leo núi(Tân xuất ngục học đăng sơn).
* Phân tích,bình giảng bài “Chiều tối”
Gợi ý:
Mở bài(HS tự làm)
HCM - một người luôn yêu đời, say mê cuộc sống, luôn nhạy cảm với thời gian. “Chiều
tối” xuất phát từ cảnh thời gian buổi chiều, qua hình ảnh cánh chim trở về chốn ngủ, chòm mây
đang lẽ loi trôi giữa bầu trời. Trên chặng đường đày ải mệt mỏi, gian lao vậy mà hồn thơ vẫn
rộng mở bức tranh thiên nhiên vẫn được vẽ nên bằng thơ:
“Quyện … trên không”
(Chim mỏi … tầng không)
Câu thơ giống như bức tranh tuyệt tác được vẽ theo lối cổ điển, trên tấm lụa bằng ngôn từ,
lời thơ uyên bác, bức tranh ấy làm cho độc giả liên tưởng đến thi ca cổ điển:
“ Chủng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn”
(Lý Bạch)
“Chim hôm thoi thót về rừng”
(Nguyễn Du)
“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Thanh Quan)
Ở đây cánh chim bay không phải trong trạng thái bình thường mà bay chầm chậm, bay
mãi miết tới nơi rừng xanh quen thuộc. Với lối chấm phá theo bút pháp tượng trưng: tả ít gợi
nhiều, lấy động tả tỉnh, lấy cái nhỏ bé để diễn tả cái bát ngát mênh mông. Cánh chim, áng mây
chiều thể hiện nỗi cô đơn mệt mỏi gợi ta liên tưởng đến số phận con người. Các từ “quyện”,
“cô” “mạn mạn” như tô điểm cho cảnh vật thêm buồn vắng và quạnh hiu. Sự sống đang chùng
lại trước vũ trụ. Cánh chim mệt mỏi, chòm mây trôi lửng lơ cũng giống như nhà thơ mệt mỏi
bước trên đường đày không biết đâu là chỗ đứng chân qua đêm.
Trong cảnh giải đi: “Năm mươi ba cây số mỗi ngày”, người tù mệt mỏi, tâm hồn và tâm
trạng đồng điệu với thiên nhiên, quay về với thiên nhiên. Cánh chim, chòn mây mang nặng tâm
hồn thi só: Bầu trời có chim, có mây nhưng lẻ loi đơn chiếc. Cảnh buồn, người buồn nhưng trong
nỗi buồn đó ẩn chứa một khát vọng tự do như cánh chim bay trên bầu trời cao rộng.
Hai câu sau cũng nói lên sự vận động tuần hoàn của thời gian, bóng tối dần dần chuyển
giao, nhường chỗ cho ánh sáng để rồi ánh hồng vút lên.
“ Sơn thôn … hồng”
(Cô em … rực hồng)
5
Bức tranh thiên nhiên, cánh chim, mây trời giờ đây đã nhường chỗ cho bức tranh sinh hoạt
ấm áp, gần gũi, quen thuộc trên mặt đất, với hình ảnh một xóm núi cô gái trong công việc lao
động bên bếp lửa gia đình mình. Câu thơ dòch sát nghóa nhưng không thể hiện được ý tứ tinh vi,
không thể hiện được cái hồn các nguyên tắc. Chữ tối thừa ra làm cho thời gian đột ngột chuyển
mạnh, cảnh vật chuyển nhanh làm mất đi cái biên độ nhập nhòa giữa sáng, tối, giữa sự sống và
cõi u tòch. Trong nguyên tác cấu trúc liên hoàn “ma bao túc - bao túc ma”đã kéo dài cái biên độ
ấy làm thành giai đoạn chờ đợi, lo âu để rồi “ánh hồng” rực rỡ xóa tan đi mọi bóng đêm.
Hình ảnh cô em xóm núi xay ngô miệt mài nơi rừng vắng đã đập vào nhãn tuyến người tù
lúc mệt mỏi cô đơn làm cho cảm xúc trào dâng thành những vần thơ tuyệt mỹ. Chất liệu bài thơ
giờ đây đã đổi thay màu sắc cổ điển. Phong vò đường thi được thay thế bằng cái nhìn hiện đại.
Thông thường phải là bếp lạnh lò tăn biểu trưng cho sự cô đơn, lẻ loi, buồn vắng mới phù hợp
với hoạt cảnh người tù, với thiên nhiên ở trên. Nhưng ở đây tác giả đặt vào một ánh hồng làm
thay đổi gam màu cổ điển, biến bài thơ có thêm sức sống mới. Khi bóng tối ngày tàn buông
xuống nhưng không gian không hề tăm tối, con người đã thắp lên ngọn lửa, đã tạo nên ánh sáng
để sưởi ấm thiên nhiên, sưởi ấm cõi lòng. Trong cảnh ngộ nỗi buồn của riêng mình Bác vẫn tìm
đến niềm vui. Niềm vui ấy xuất phát từ lao động. Đó là tình yêu, là sự sống hướng đến ánh sáng
tương lai, đến hơi ấm tình người.
Bài thơ kết thúc là một niềm tin bất diệt vào cuộc sống, niềm lạc quan hướng tới cuộc đời
tự do, bình dò, một hạnh phúc gia đình đoàn tụ của “ánh hồng” ấy chính là chất thép - là ý chí -
là ngọn lửa thắp sáng trái tim người chiến só - nghệ só, vượt lên tất cả mọi hoàn cảnh khó khăn.
”Chiều tối” cũng như nhiều bài thơ khác trong tập NKTT luôn mượn hình ảnh “mây, gió,
trăng, hoa tuyết nói sông” trong phong cách đường thi để nói đến tâm hồn con người. Toát lên
toàn bộ bài thơ là tấm lòng rộng mở “nâng niu tất cả chỉ quên mình” hướng đến ánh sáng tương
lai. Bài thơ như hiện lên bức chân dung một con người “đại trí,đại nhân, đại dũng” đúng nhà thơ
Hoàng Trung Thông ca ngợi:
“Ngục tối trái tim càng cháy lửa
Gông xiềng không khoá nỗi lời ca”
• Phân tích, bình giảng bài Giải di sớm:
Gợi ý:
GIẢI ĐI SỚM
Tảo Giải
Giải đi sớm được ghi lại một lần trong 18 lần chuyển lao vô cùng gian khổ mà Bác phải
nếm trải. Qua đó,ta thấy hình ảnh tuyệt đẹp mang cốt cách thi nhân - chiến só của người tù.
Hai câu đầu là thời điểm cuộc chuyển lao diễn ra nửa đêm về sáng.
“Nhất khứ … thu san”
6
(Gà gáy … lên ngàn)
Dùng tiếng gà gáy để chỉ thời điểm lên đường,trong suốt “mười bốn trăng tê tái gông cùm”
ấy thấy biết bao lần HCM bò “Giải đi sớm”. Đã bao lần Người phải chòu đau khổ về vật chất lẫn
tinh thần.Nhưng lạ lùng thay sau những lần như vậy tư thế hiên ngang, cốt cách của con người vó
đại vẫn được hiện lên. Câu thơ chưa xuất hiện hình ảnh người tù mà đó là hình ảnh thiên
nhiên,cuộc sống quen thuộc. Tiếng gà gáy như có ý nghóa báo hiệu một ngày mới, báo hiệu sự
sinh sôi nảy nở. Tiếng gà gáy một lần, đêm chuyển canh trời chưa sáng. Tiếng gà gáy, cái âm
thanh quen thuộc ấy lại vang lên nơi đất khách quê người, gợi trong lòng người tù bao nỗi niềm
thương cảm nhớ nhung. Trăng, sao ở đây được nhân hóa: Chòm sao đã ôm ấp nâng vầng trăng
lên đỉnh núi thu. Một nét vẻ tạo hình trong trạng thái động của thiên nhiên làm cho cảnh trăng
sao càng trở nên hữu tình. Trong khổ ải người tù không cảm thấy cô đơn mà thả hồn ra bầu trời
mênh mông hướng về núi thu,để tận hưởng vẻ đẹp của vũ trụ. Trong nguyên tác từ “quần” là
“bầy” gợi ta ấn tượng đông vui hơn chữ “chòm” trong bản dòch.Từ “ủng” không hẳn là đưa mà
con có nghóa “ôm ấp”… Tất cả như gợi lên một cảm giác không gian vừa cao rộng, vừa yên tỉnh
hoạt động. Câu thơ như hiện lên một tư thế ,tầm nhìn của thi só: Nhìn cao vời vợi, tư thế lạc quan,
ung dung tự tại. Trăng sao là bạn đồng hành của người đi trên chặng đường gian khổ. Một nét
chấm phá theo lối cổ điển: lấy động tả tỉnh, lấy ngoại cảnh để tả tâm cảnh.
Phải có một tình yêu đời tha thiết, một bản lónh phi thường, một hồn thơ dạt dào tình yêu
thiên nhiên, người tù mới làm chủ được hoàn cảnh để cảm thụ vẽ đẹp thiên nhiên một cách tự
do. “Một nét vẽ, một câu thơ đầy ánh sáng trong một cuộc đời đầy tối tăm và cay đắng”(Nguyễn
Đăng Mạnh).
Hai câu sau là hình ảnh “chinh nhân” bất chấp hoàn cảnh hướng về ánh sáng mà đi tới.
Chinh nhân…………………….trận trận hàn
(Người đi ………………………….gió bàn)
Đêm khuya gió lạnh đến thấu xương. Cái giá lạnh của trời Bắc trong đêm thu như len tận
da thòt. Thế mà ở đây gió cứ từng trận từng trận lạnh (trận trận hàn). Điệp từ “trận trận” như
nhấn mạnh cảm giác nặng nề bởi từng đợt gió liên tiếp đang quất vào mặt. Lẽ thường tình con
người phải sợ phải run trước làn gió ghê người ấy. Nhưng ở đây HCM lại khác,với vai trò là một
tù nhân, thế mà tác giả đã gọi bằng những cách gọi trang trọng: “chinh nhân” “chinh đồ”. Rõ
ràng là đang phủ nhận hoàn cảnh thực tại khẳng đònh tư thế tự do đường đường chính chính trên
con đường lớn. Chữ “nghiêng diện” càng tô đậm tư thế hiên ngang bất khuất của chinh nhân
trên con đường đi. Hai chữ “trận” trong hình ảnh “trận trận hàn” cũng làm nổi bật tư thế hiên
ngang của người tù chiến só. Giọng điệu bài thơ đối lập với hoàn cảnh không phải tiếng khóc đi
đày mà đó là khúc ca hoành tráng của con người trên con đường hướng đến tự do.
Với bốn câu thơ tác giả như vẽ ra trước mắt độc giả một bức tranh thiên nhiên. Bức tranh
ấy có trăng sao, có tiết trơiø, có con người. Ngôn ngữ giản dò súc tích không phô trương màu mè.
Âm hưởng bài thơ tươi sáng lạc quan hào hùng phóng khoáng. Tứ thơ như vượt lên hoàn cảnh
hướng tới bầu trời tự do bằng một hồn thơ mang đậm cốt cách Đường thi: tả ít gợi nhiều, lấy
không gian để miêu tả thời gian, dùng cái tỉnh lặng để nói chuyện động, nói bóng tối mà gợi ra
ánh sáng… Câu thơ như giúp người đọc suy nghó bao điều.
7
II. Phần 2 bài thơ tứ thơ thay đổi,thời gian thay đổi làm cho lòng người cũng thay đổi theo
tối của màn đêm đã nhường chỗ cho ánh sáng ,ngày mới lại bắt đầu:
“Đông phương … nhất không”
(Phương Đông… sạch không)
Cảnh vật, màu sắc không chỉ đã chuyển đổi nhanh chóng. Từ cảnh đêm tối, tiếng gà gáy
như loãng vào cái không gian giá lạnh, bầu trời chuyển sang màu hồng. Tất cả bóng tối được xua
tan, một đêm thu lạnh lẽo thực sự trôi qua. Sau này trong bài thơ “Đi thuyền trên sông Đáy” Bác
viết:
“Thuyền về trời đã rạng đông
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi”
Ở đây một cảnh đẹp cũng là một niềm vui được mở ra. Niềm vui của con người trên con
đường đi tìm chân lý, từ bóng tối chuyển dần lên ánh sáng trong tư thế lạc quan ung dung tự tại
của nhà thơ - người chiến só vó đại.
Hai câu cuối toát lên phong thái một cốt cách thi nhân rất đẹp:
“ Noãn khí … gia nồng”
( Hơi ấm … thêm nồng)
Còn nói gì thêm về nét đẹp con người, trong câu thơ ấy? “chinh nhân” giờ đây đã trở thành
“hành nhân” thư thái ung dung trên con đường rộng của mình. Trước cảnh vật của vũ trụ bao la,
một không khí ấm áp Người như quên đi tất cả mọi đau khổ, tấm lòng ấm lên, vui lên cùng cảnh
vật. Cảm hứng thi só tuôn trào trong hơi ấm nồng nàn của vũ trụ. Hơi ấm ấy như tiếng reo vui
sảng khoái.
Bất cứ ai khi ngồi ngắm cảnh buổi sáng có ánh nắng, có hơi ấm là chuyện thường nhật
hàng ngày. Nhưng đặt vào trong hoàn cảnh tác giả: bò lao tù đau khổ, đói rét … thì thật là thú vò.
Trong cô đơn ,trong cái lạnh giá của thiên nhiên, hơi ấm lòng người hiện lên,cảm xúc thì những
dạt dào. Bài thơ kết thúc không phải là một hình ảnh người tù mà đó là một thi só đang sảng
khoái trước sự biến đổi đẹp đẻ của thiên nhiên,đang nồng nàn cảm hứng thơ. Cái hứng ở đây
không phải khởi sinh từ màu hồng của thiên nhiên mà nó có từ lúc đêm khuya giá lạnh. Lúc
chuyển lao vất vả một cảm hứng lãng mạn được toát lên. Phải chăng đây là những vần thơ thép,
ý chí đấu tranh, tinh thần vượt lên tất cả của người chiến só vó đại HCM. Bài thơ ngời lên phong
thái ung dung, tâm hồn thi só lạc quan của con người “Vật chất tuy đau khổ, không nao núng tinh
thần”.
Giải đi sớm là một bài thơ đặc sắc mang phong vò Đường thi quen thuộc với hình ảnh “mây,
gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông”. Nhưng rất hiện đại trong hình ảnh tù nhân - khách tiên trên con
đường xa ung dung, lạc quan và yêu đời trên bước hành trình từ bóng tối đi đến tương lai ánh
sáng. Bài thơ giúp ta khám phá ra được vẻ đẹp tâm hồn của: người tù - thi só - chiến só
HCM,đúng như lời của nhà thơ Tố Hữu:
“Mười bốn trăng tê tái gông cùm
Ôi thân yếu mắt mờ tóc bạc
Mà thơ bay … cánh lạc ung dung”
(Tố Hữu)
8
• Phân tích ,bình giảng bài thơ “Mới ra tù tập leo núi”:
Gợi ý:
MỚI RA TÙ TẬP LEO NÚI
(TÂN XUẤT NGỤC HỌC ĐĂNG SƠN)
“Mười bốn trăng tê tái gông cùm
Ôi thân yếu mắt mờ tóc bạc
Mà thơ bay … cánh lạc ung dung”
(Tố Hữu)
Mười bốn trăng trong nhà tù Tưởng Giới Thạch dường như thể xác HCM bò suy nhược đi rất
nhiều. Nhưng tinh thần của con người “đại trí, đại nhân, đại dũng” vẫn còn ngời sáng. Khi được
trao trả tự do Bác vẫn cố gắng luyện tập từng bước một lên núi cao, vẫn ung dung tự tại, lạc quan
tin tưởng. Hồn thơ vẫn rộng mở qua bài: “Tân xuất ngục …… san ”.
“Vân ủng…………… cố nhân”
( Núi ấp ……………… Xưa)
Thú chơi tao nhã quen thuộc của người xưa thường “yên sơn thưởng nguyệt”(lên núi ngắm
trăng). Lên núi cao để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên, để bày tỏ cõi lòng. “Thơ Hồ Chí
Minh thiên nhiên độc chiến một đòa vò danh dự” thì hình ảnh núi sẽ có phần lớn trong danh dự
ấy. Bài thơ “Mới ra từ tập leo núi” cũng mở đầu bằng hình ảnh thiên nhiên cũng núi non quen
thuộc. Nhưng leo núi ở đây là “học”, sau mười bốn trăng tê tái gông cùm, chân yếu, mắt mờ, tóc
bạc phải tập đi từng bước một vậy mà hồn thơ tươi trẻ, cảm hứng thiên nhiên vẫn được thoát lên:
“Vân ủng………………………….vô trân”
Bức tranh được cấu tạo từ ba hình ảnh thông dụng “mây, núi, nước” lấy từ chất liệu của thi
ca cổ điển. Nhà thơ đang đứng một tư thế rất cao trong cái nhìn bao quát cảnh thiên nhiên. Trong
tư thế nhìn ngang thấy mây núi trùng điệp rất gợi tình. Các điệp từ “vân”, “sơn” được xếp đặt
trong một tư thế rất độc đáo: hai chữ “vân” đóng khép hai đầu vây lấy hai chữ “sơn” liền nhau ở
giữa tạo nên một tư thế giao hoà quấn quýt. Từ “ủng” như một biện pháp nhân hoá làm cho
cảnh thiên nhiên trở lên sống động, ấm áp tình người. Phải chăng khi mới ra tù sau những ngày
dài cô đơn mòn mỏi tác giả muốn gửi gắm khát khao tình yêu thương ? Có lẽ vì thế mà từ trên
cao nhìn thấy lòng sông trong vắt kia nhà thơ muốn soi tận đáy lòng mình. Một sự so sánh rất
hay lòng sông như tấm gương để nhà thơ soi rõ lòng mình - Dùng thiên nhiên để thanh lọc tâm
hồn. Lòng sông cạnh núi non hùng vó vẫn giữ được sự trong sáng như gương không chút bụi
trần.Cũng giống như tấm lòng Hồ Chí Minh, qua bao năm tháng tù đày, sống gần bùn nhơ của
cuộc đời lần đầu tiên Hồ Chí Minh đứng giữa trời đất mênh mông để suy xét chính mình. Người
xưa từng nói “người nhân ưa núi, kẻ trí ưa nước”. Bác Hồ được kết hợp cảhai. Lòng sông như
gương trong vắt không chút bụi trần đem lại tươi mát cho đời,cũng giống như tấm lòng Bác,một
tấm lòng trong sáng tuyệt vời trải rộng niềm tin,hy vọng cho cả dân tộc. Tấm lòng ấy luôn luôn
rộng mở, trong sáng mang hương sắc cho đời.(HS có thể lấy những câu thơ trong tập “Nhật kí
9
trong tù” để chứng minh cho nỗi khổ và tâm hồn của Bác nhằm làm sáng rõ,sâu sắc luận điểm
này)
Hai câu thơ đã thể hiện rõ cái thần thái của một bậc “tiên phong đạo cốt” lấy thiên nhiên
làm điểm tựa cho tâm hồn và phần nào còn thấp thoáng tư cách của một chiến só cộng sản kiên
trinh một lòng gắn bó với đồng chí, đồng bào.Từ nơi đất khách trên đỉnh núi Tây Phong Người
không lúc nào không hướng về tổ quốc, hướng về đồng chí đồng bào đang chiến đấu vì độc lập
tự do:
“Bồi hồi …………………………cố nhân”
(mỗi hội ……………………….bạn xưa)
Tứ thơ được bộc lộ rõ, chất liệu của câu thơ được lấy từ thơ cổ. Đề cái “Đăng cao ức hữu”
(lên cao nhớ bạn) ta từng thấy rõ trong thi pháp Đường thi. Lý Bạch từng lên cao để dõi ánh mắt
theo người bạn thân thiết của mình đang ra đi về phí Tây càng xa,càng xa mãi “Cố nhân tây từ
Hoàng Hạc lâu-Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu-Cô phàm viễn ảnh bích không tận-Duy
khiến Trường Giang thiên tế lưu”. Tuy nhiên tiếng thơ là tiếng lòng của thi só,tâm trạng của Hồ
Chí Minh mang sắc thái riêng. Chữ “bồi hồi” được đặt ở đầu câu gắn với bước chân của kẻ cô
độc như hữu hình hóa một tâm trạng khó tả từ bên trong vọng ra. đây cảnh đẹp, tình buồn
người chạnh nhớ quê hương. Tâm hồn Bác đang hướng đến “Nam Thiên” đang nhớ tới quốc dân
đồng bào, nhớ bạn cũ, nhớ đất mẹ thân yêu. Nỗi nhớ ấy luôn canh cánh trong lòng kể cả lúc đau
khổ tại tù lao nỗi nhớ vẫn trào dâng:
“Ngày đi bạn tiễn đến bên sông
Hẹn bạn về khi lúa đỏ đồng
Nay gặt đã xong cày đã khắp
Quê người tôi vẫn chốn lao lung”
(Nhớ bạn)
Trong thơ đường ta cũng từng bắt gặp đề tài “nhớ bạn”. Nhưng đến đây ta lại thấy một tâm
hồn đa sầu, đa tình, đa cảm đúng như lời của Phạm Văn Đồng “vì giàu tình cảm nên Người mới
đi làm cách mạng”.
(HS có thể mở rộng thêm:chất thép,chất tình;cổ điển hiện đại trong bài thơ)
PHẦN 3: TRUYỆN-VĂN XUÔI
VI HÀNH
Nguyễn Ái Quốc
II.Thực hành:
1. Những sáng tạo độc đáo của NAQ trong truyện ngắn “Vi hành”.
2. Nghệ thuật châm biến của truyện ngắn Vi Hành.
3. Phân tích nội dung chiến đấu được thể hiện một cách nghệ thuật trong truyện ngắn Vi
Hành ?
10
4. Bình giảng truyện ngắn Vi Hành.
5.Phân tích nhân vật Khải Đònh.
Gợi ý:
Truyện ngắn “Vi Hành” của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng pháp trong thời kỳ nhà văn
hoạt động ở Pari vào những năm 20 của thế kỷ XX. Bằng nghệ thuật hài hước phương Tây kết
hợp với lối châm biếm đã kích của Phương Đông nhà văn đã sáng tạo nên một thiên truyện độc
đáo nhằm vạch trần chân tướng của tên Vua bù nhìn có nhiều hành vi xấu xa làm nhục “quốc
thể”. Tính độc đáo ấy thể hiện toàn diện ở các yếu tố nghệ thuật của tác phẩm.
Truyện ngắn hướng vào một vấn đề thời sự, một câu chuyện có thật. Năm 1922 thực dân
Pháp đưa tên vua bù nhìn Khải Đònh sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc đòa ở Véc Xây. Đây là
thủ đoạn chính trò của thực dân Pháp muốn lừa gạt nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp: Rằng
An Nam thuộc đòa đã quy phục lại Pháp, rằng tình hình đông dương đã êm dòu lắm, người dân
Pháp hãy ủng hộ chính phủ tập trung đầu tư khai thác tài nguyên và khai hóa văn minh xứ sở
này. Sự thật này được giới báo chí lên tiếng nhiều. Tuy viết dưới dạng truyện ngắn nhưng tác giả
tường thuật trực tiếp như một bản tin, một thiên phóng sự hóa hư cấu nên một câu chuyện nghệ
thuật khắc họa bản chất và sự thật nhân vật Khải Đònh một cách tinh tế.
Câu tứ truyện thể hiện ở ngay nhan đề Vi hành,lấy câu chuyện trang nghiêm của các bậc
Đế Vương thû xưa nhưng chứa một nội dung hoàn toàn ngược lại nhằm giễu cợt tên vua bù
nhìn. Kẻ đang vi hành trên thủ đô Pa ri hào hoa tráng lệ kia không phải là một bậc minh quân
chí lớn mà là một tên tay sai tầm thường đi vi hành để thỏa mãn dục vọng cá nhân. Làm cho
người đọc “tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi”. Nhan đề có hàm ý móa mai,châm biếm.
Cách dựng truyện của Nguyễn Ái Quốc Trong Vi Hành rất đặc biệt hiện đại. Vừa đơn giản
vừa tinh vi,giọng văn biến chuyển linh hoạt làm cho người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ
khác. Câu chuyện được kể dưới hình thức một bức thư. Đây là một thể văn thông thường trong
giao tiếp cuộc sống. Tuy nhiên có hai điều đặc biệt là hai nhân vật tôi và cô em họ và câu
chuyện trao đổi giữa họ là hư cấu 100%. Bức thư không mang lại nội dung trao đổi tâm tình mà
kể một sự việc ngẩu nhiên tình cờ bất gặp trên chuyến đi của người viết. Cấu trúc bức thư cũng
không mang bố cục thông thường mà chỉ thông qua đối thoại đàm tiếu. Mở đầu bức thư không
phải là lời thăm hỏi mà là một đoạn đối thoại đột ngột: “Chính lão ta, không phải chính lão ta …”
Một chuỗi câu vừa khẳng đònh, vừa phủ đònh nối tiếp nhau để mở màn cho câu chuyện bán tín
bán nghi về ông vua đang vi hành.
Câu chuyện tiếp tục bằng một chuỗi nhầm lẫn,từ nhầm lẫn này đến nhầmlẫn khác. Một
ông vua so sánh ngang một thằng hồ. Nhà cách mạng An Nam vô tình cũng biến thành một ông
vua. Sự thật thì chẳng đời nào có chuyện nhầm lẫn quá đáng như vậy. Từ tình huống bòa ra một
cách lô gic tác giả đã dần dần mở ra các khía cạnh của sự thật một cách thuyết phục. Những
nhầm lẫn kia chính là do các hành vi đầy xấu xa của khải đònh. Hắn vi hành chỉ để thực hiện
mục đích các nhân. Một con người chẳng có chút lòng nhan trái lại mặt mũi thì ngây ngô, điệu
bộ thì lúng ta lúng túng, quần áo thì lố lăng chẳng khác thằng “ngợm”: “Cái chụp đèn chụp lên
cái đầu quấn khăn, cái ngón tay thì đeo đầy những nhẫn”. Chưa hết, còn bao nhiêu nét xấu khác:
“cái mặt bủng như vỏ chanh” đeo lên người đủ cả bộ lụa là, đủ cả hạt cườm làm cho thiên hạ
phải bật cười.
11
Đó là sự thật về Khải Đònh có thể cho phép ai trực tiếp hoặc công khai lên án. Nhưng ở
đây nhà văn đã khéo léo giấu kín cái chủ quan của mình mà để cho người Tây tự đưa ra bàn luận
trên đất Tây. Do đó câu chuyện mang lại những hiệu quả nghệ thuật cao hơn. Nhân vật chính
không hiện diện trong truyện một cách trực tiếp mà vẫn lộ nguyên hình. Mặt khác là đối tượng
đang bò đàm tiếu mua vui cho nên nhân vật từ vai sang trọng bò hạ thấp đến mức “đáng khinh
bỉ”.
Để tấn công một cách hiệu quả vào đối tượng nhà văn đã sáng tạo một lối dẫn chuyện hài
hước nghệ thuật châm biếm sâu cay. Nghệ thuật dẫn chuyện căn bản trong tác phẩm là sử dụng
lối đối thoại đàm tiếu, toàn bộ câu chuyện là những mẫu đối thoại lệnh lạc dài dòng để dồn chứa
thông tin nhạo báng đối tượng một cách không thương tiếc. Đôi nam nữ, chuyện nhầm lẫn vẻ
ngoài của Khải Đònh với một người dân châu Á đã bàn tán đàm luận đủ thứ chuyện. Với những
tràng cười hả hê qua hàng loạt những chi tiết nhầmlẫn độc đáo. Phơi lưng trước tiếng cười biếm
họa,hoàng đế trở thành kiểu nhân vật trò chơi. Và luật chơi vừa phóng túng vừa nghiệt ngã của
thể trào phúng. Khải Đònh trong con mắt người Pháp trở thành một con rối,một trò chơi giải trí
“rẻ tiền” một vai hề làm vui mắt họ.
Bên cạnh lối đối thoại đàm tiếu tác giả còn nhân cơ hội xen vào những đoạn ngoại đề về
câu chuyện Vua Thuấn ở nước tàu, vua Pi e ở nước Nga. Họ vi hành mang lại niềm vui cho mọi
người mang ánh sáng văn minh cho đến cho xã hội. Còn Khải Đònh vi hành hoàn toàn ngược lại.
Một loạt những câu hỏi lấp lửng giả vờ của tác giả “phải chăng là, hay là…” làm cho ngòi bút
châm biến của tác giả càng sâu cay đó là cách nói vừa kín đáo vừa thâm thúy. Ngoài cách nói
móamai tác giả còn sử dụng lối viết tạt ngang. Trong khi bám sát đối tượng là Khải Đònh tác giả
còn tận dụng cơ hội mở rộng sang bọn quan thầy Pháp. Tác giả gọi bọn mật thám là bọn “bán đế
giày” và biến chúng thành tên hộ giá cho nhà cách mạng. Với ngòi bút linh hoạt lúc nói ngược
lúc nói xuôi NAQ đã tấn công trực diện vào bọn vua quan bù nhìn bán nước và bọn thực dân
cướp nước xấu xa.
Sức hấp dẫn của toàn bộ thiên truyện còn thể hiện ở cách tổ chức ngôn ngữ hài hước và
giọng văn hóm hỉnh. Để cho Khải Đònh xuất hiện trước mắt người Pháp một cách lố lăng nực
cười tác giả viết “một anh vua đến thật đúng lúc khi mà cái kho giải trí của chúng ta sắp cạn ráo
như B.Đ.D vậy”. Tác giả nói bóng gió lấp lửng xa xôi,nhưng rất sâu cay làm rõ đầy đủ tất cả
những hành vi mờ ám của tên vua bù nhìn và bọn thực dân cướp nước.
Truyện ngắn Vi Hành là một minh chứng hùng hồn cho tính chiến đấu sắc bén trong ngòi
bút đầy tính sáng tạo của NAQ. Truyện được viết nhằm mục đích chính trò rõ ràng nhưng vẫn là
tác phẩm văn chương đích thực. Cách vận dụng linh hoạt biến chuyển làm cho những sự kiện
thời sự đưa vào không bò khô khan mà đầy thuyết phục. Truyện ngắn Vi hành tiêu biểu cho
phong cách nghệ thuật của HCM: Giản dò hàm súc giàu tính hài hước. Truyện vừa mang tính sôi
nỗi kiểu Phương Tây vừa mang tính thâm trầm sâu lắng kiểu Phương Đông. Vẻ đẹp của hai nền
văn hóa Đông - Tây được kết tinh thể hiện độc đáo trong truyện ngắn này.
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Hồ Chí Minh
12
II.Thực hành:
1. Phân tích tác phẩm “Tuyên Ngôn Độc Lập”
2. Phân tích nghệ thuật viết văn chính luận trong “Tuyên Ngôn Độc Lập” của Hồ Chí
Minh.
Gợi ý:
Cách Mạng tháng 8 - 1945 thành công đã chấm dứt 80 năm nô lệ dưới ách thực dân và hơn
1000 thống trò của XHPK. Mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
cho dân tộc Việt Nam. Ngày 2 - 9 - 1945tại Quảng Trường Ba Đình-Hà Nội trước một triệu người
dân trong nước, cùng đông đảo phóng viên báo chí nước ngoài Chủ tòch Hồ Chí Minh đã trònh
trọng tuyên bố bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản
Tuyên Ngôn Độc Lập không chỉ có giá trò lòch sử to lớn mà còn mang phong cách nghệ thuật độc
đáo giàu sức thuyết phục trong văn chính luận của HCM.
Tuyên Ngôn Độc Lập là một áng văn chính luận nhưng là một áng văn chính luận đặc biệt.
Ngoài những lý lẽ,bằng chứng “không ai chối cãi được”. TNĐL còn là bài ca ca ngợi chí anh
hùng cách mạng, là hùng khí thiêng liêng của dân tộc.
Mở đầu bản Tuyên Ngôn tác giả trích dẫn trực tiếp những lời bất hủ trong bản Tuyên Ngôn
Độc Lập của Mỹ và Tuyên Ngôn Nhân quyền, Dân quyền của Pháp thể kỷ XVIII làm tựa đề:
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được. Trong cái quyền ấy có quyền được sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc”.
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn tự do bình đẳng về quyền
lợi”.
Cách dẫn như vậy bản TNĐL đã đặt vấn đề đối thoại mang tính quốc tế. Trong hoàn cảnh
cách mạng mới thành công, chính quyền còn non trẻ. Đứng trước nguy cơ tái xâm lược củaThực
dân Pháp và những âm mưu gây chiến tranh của đế quốc Mỹ. Chủ tòch Hồ Chí Minh đã thay mặt
dân tộc khẳng đòng cái quyền mà chính tổ tiên người Mỹ, người Pháp đã đưa ra công bố với thế
giới về sự xâm phạm chân lý của chúng. Đó là nghệ thuật “lấy gậy ông đập lưng ông” một cách
khéo léo. Trong tranh luận không gì thú vò và đích đáng hơn là dùng chính lý lẽ đối thủ để thuyết
phục và hạ gục đối thủ. Cách đặt vấn đề như vậy có nghóa là đặt cuộc cách mạng nước ta và bản
Tuyên Ngôn của ta ngang hàng với hai cuộc cách mạng và hai bản Tuyên Ngôn vó đại của
Pháp,Mỹ- sánh ngang tầm Quốc tế.
Một cách kín đáo trong Tuyên Ngôn đó là gợi lại ý chí đấu tranh kiên cường anh dũng, gợi
lại niềm tự hàodân tộc có trong truyền thống. Đó là bài thơ thần của Lý Thường Kiệt năm xưa
trên bờ Sông Như Nguyệt. “Nam quốc sơn hà Nam đế cư-Tiệt nhiên đònh phận tại thiên thư-Như
hà nghòch lỗ lai xâm phạm-Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Và âm vang của tác phẩm“Bình
Ngô Đại Cáo” sau 10 năm kháng chiến chống đuổi quân Minh. “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao
đời gây lên độc lập. Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”… Một nước
nhỏ đã từng xưng “đế”, một nước nhỏ đã từng làm khiếp vía quân thù. Một lần nữa bản Tuyên
Ngôn đã gợi lên hồn thiêng sông núi, âm vang về niềm tự hào như còn vang mãi.
13
Để củng cố vò trí Cách mạng của dân tộc bản Tuyên Ngôn nêu rõ: “Dân tộc ta đánh đổ các
xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nước Việt Nam độc lập”. Đó cũng là yêu cầu
đặt ra cho cuộc Cách mạng nước Mỹ năm xưa. Đấu tranh giải phóng dân tộc thuộc đòa Bắc Mỹ
ra khỏi thực dân Anh. Bản Tuyên Ngôn cũng viết “Dân tộc ta đã đánh dổ chế độ quân chủ mấy
mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”. Đây cũng là tinh thần cơ bản của cuộc Cách
mạng Nhân quyền, Dân quyền của Pháp thế kỷ XVIII.
Bên cạnh vấn đề pháp quyền mang tính nhân loại nói chung đó tác giả Tuyên ngôn đã cụ
thể hóa thành vấn đề dân tộc “Lời bất hủ ấy ở bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 ở nước Mỹ
đã suy rộng ra câu ấy có nghóa là : “Tất cả các dân tộc trên thế giớ sinh ra đều có quyền bình
đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Ýù kiến suy rộng ra
này đã tấn công thẳng vào luận điệu khai hóa của chủ nghóa thực dân cách nói ấy không chỉ
khẳng đònh ý chí độc lập dân tộc mà còn có giá trò thức tỉnh nhân loại ý thức về nỗi nhục mà chủ
nghóa Đế quốc đã áp đặt trên thế giới. Nhờ đó mà TNĐL của HCM có giá trò Quốc tế là đòn
đánh trực diện đuổi chủ nghóa thực dân.
Bản TNĐL đã đưa ra một hệ thống lập luận chặt chẽ hùng hồn đanh thép với những cứ
liệu rõ ràng vạch trần tội ác của chủ nghóa Thực dân và gương cao ngọn cờ chính nghóa của cuộc
Cách mạng dân tộc.Trong khi Thực dân Pháp muốn khoe khoang và tiếp tục chiêu bài khai hóa
thì TNĐL đã vạch trần hành động trái hẳn với đạo lý và chính nghóa mà chúng đưa ra. Trong 80
năm xâm lược nước ta chúng đã thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ chia rẽ đồng bào dân tộc ta,
tắm các phong trào yêu nước của dân tộc ta trong biển máu, thi hành chính sách ngu dân, đầu
độc mọi người bằng các tệ nạn xã hội, bằng rượu cồn thuốc phiện… vơ vét cả vật chất của ta, làm
cho con người Việt Nam ngày càng kiệt quệ về vật chất suy nhược về tinh thần.
Trong khi Thực dân Pháp muốn kể công bảo hộ thì bản Tuyên Ngôn đã hùng hồn vạch trần
tội ác của chúng vì trong 5 năm chúng hai lần bán nước ta cho Nhật.Trong khi thực dân Pháp
muốn hợp pháp hóa việc tái chiếm Đông Dương thì bản Tuyên Ngôn đã vạch ra ý đồ bất hợp
pháp của chúng: “Sự thực là từ mùa thu năm 1940 nước ta đã trở thành thuộc đòa của Nhật chứ
không phải là của Pháp nữa. Khi Nhật đầu hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta nổi dậy dành
chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự thật là dân ta đã dành độc lập từ tay
Nhật chứ không phải từ tay Pháp”.
Luận điểm này mang ý nghóa pháp lý cực kỳ quan trọng,trước tình thế chính quyền Cách
mạng còn non trẻ. Nó sẽ dần đến một luận điểm đầy thuyết phục “Bởi thế cho nên chúng tôi,
lâm thời chính phủ Việt Nam mới đại diện cho toàn dân Việt Nam tuyên bố thoát ly hẳn quan
hệ với Thực dân pháp xóa bỏ những hiệp ước mà Pháp đã Pháp đã ký với Việt Nam, xóa bỏ tất
cả những đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”. Sức mạnh chính nghóa là sức mạnh sự
thật,lý lẽ không gì thuyết phục hơn là lý lẽ của sự thật. Vì thế khi viết TNĐL Chủ tòch HCM luôn
láy đi láy lại hai chữ “sự thật”, “sự thật là”. Cuối cùng Người khẳng đònh “Nước Việt Nam có
quyền hưởng tự do và độc lập và thực sự trở thành một nước tự do độc lập”. Đấy là điệp khúc
nối tiếp nhau tăng âm hưởng hào hùng của bản Tuyên ngôn.
Còn đối với đồng bào trong nước, bản tuyên ngôn đã dùng lý lẽ chứng cứ khẳng đònh chắc
chắn quyền làm chủ đất nước của dân tộc ta. “Nếu Thực dân Pháp có tội phản bội đồng minh,
hai lần bán rẻ Đông Dương cho Nhật thì dân tộc Việt Nam mà đại diện là Việt Minh đã đứng lên
chống Nhật cứu nước và cuối cùng dành được chủ quyền từ tay Phát xít Nhật”.
14
Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014
Bài 8
1. Các kháI niệm
Bài toán đặt vấn đề:
Để quản lí một kì thi TNPT, người ta tạo ra một CSDL gồm hai
bảng sau:
Bảng Danh_sach: chứa thông tin
của các thí sinh
Bảng Điem_thi: chứa kết quả
thi các môn của thí sinh
Với các bài toán trên,
Với các bài toán trên,
hãy nêu thao tác để
hãy nêu thao tác để
thực hiện các yêu cầu
thực hiện các yêu cầu
sau:
sau:
Liệt kê những học sinh có
điểm TBM >=8 ?
Tính tổng điểm thi của
từng thí sinh?
Cho biết điểm bình quân
các môn thi của từng
lớp?
Nếu câu hỏi chỉ liên quan tới một bảng,
bằng thao tác tìm kiếm và lọc có thể
tìm được câu trả lời (Ví dụ : câu hỏi 1)
Nhưng với câu hỏi phức tạp, liên quan
tới nhiều bảng thì phải làm như thế
nào???
Trong những trường hợp như vậy cần sử
dụng mẫu hỏi (Query)
Là một loại đối tượng của ACCESS dùng để sắp xếp, tìm kiếm
và kết xuất dữ liệu từ một hoặc nhiều bảng dựa vào liên kết
giữa các bảng.
Các chức năng của mẫu hỏi:
Sắp xếp các bản ghi
Chọn các bản ghi thoả mãn các điều kiện cho trước.
Chọn các trường để hiển thị
Thực hiện tính toán như tính trung bình cộng, tính
tổng, đếm bản ghi
Tổng hợp và hiển thị thông tin từ nhiều bảng hoặc
mẫu hỏi khác.
a. Mẫu hỏi (Query)
b. Biểu thức
bao gồm các toán hạng và các phép toán.
Các phép toán
* Phép toán số học: + - * /
* Phép so sánh: < > <= >= = <>
* Phép toán lôgic: AND OR
NOT
toán hạng
* Tên trường (đóng vai trò các biến)
được ghi trong dấu ngoặc vuông
Ví dụ: [TOAN] , [luong]
* Hằng số. Ví dụ: 0.1 ; 125
* Hằng văn bản. Ví dụ: Nữ ; Nam
* Hàm. Ví dụ: Sum, Avg, max
matdo:[so_dan]/[dien_tich]
Ví dụ:
Tien_Thuong: [luong]*0.1[gt]=Nam and [tin]>=8.5
c. Một số hàm thường gặp trong Access
SUM
Tính tổng
AVG
Tính giá trị trung bình
MIN
Tìm giá trị nhỏ nhất
MAX
Tìm giá trị lớn nhất
COUNT
Đếm số giá trị khác trống (Null).
4 hàm đầu chỉ thực hiện trên các trường dữ liệu kiểu số
2. Tạo mẫu hỏi
Xét bài toán đặt vấn đề:
Bảng Danh_sach: chứa thông tin
của các thí sinh.
Bảng Điem_thi: chứa kết quả
thi các môn của thí sinh
Yêu cầu: a. Tính và cho biết tổng điểm thi của từng thí sinh?
b. Cho biết điểm bình quân của các môn thi theo lớp?
Bước 1: Xác định các thông số cần tạo mẫu hỏi
Các thông số
ví dụ áp dụng:
Nguồn dữ liệu
Bảng DANH_SACH và DIEM_THI
Các trường có mặt trong
mẫu hỏi
Trường SBD, hodem, ten, toan, ly,
sinh, van, su, anh
Điều kiện lọc bản ghi
Trường dùng để sắp xếp
các bản ghi
Trường ten sắp xếp tăngdần
Trường cần tính toán
Tong:[ toan]+[ly]+[sinh]+[van]+[su]+[anh]
Không có
Chọn đối tượng Queries
C1: Tự thiết kế
(Create query in Design view)
C2: Dùng thuật sĩ
(Create query by using wizard)
Bước 2: Tạo mẫu hỏi
1
Chọn dữ liệu nguồn (từ các bảng - table và mẫu hỏi - query)
2
Chọn tên bảng hoặc tên mẫu hỏi và nháy nút Add
Nháy nút Close
Field: Khai báo tên các trường sẽ có mặt trong mẫu hỏi
Table: Tên bảng chứa trường tương ứng
Sort: Xác định các trường cần sắp xếp (nếu có)
Show: Xác định các trường xuất hiện trong mẫu hỏi.
Criteria: Mô tả điều kiện (viết dưới dạng lôgic) để chọn các bản ghi
đưa vào mẫu hỏi.
Khai báo các thông số trong chế độ thiết kế
3
Xây dựng biểu thức tính giá trị cho các trường
4
Nhập tên của trường cần tính toán và nháy nút
Trong hộp thoại Expression Builder nhập biểu thức tính OK
Xem kết quả mẫu hỏi
5
Để xem kết quả mẫu hỏi - chế độ trang dữ liệu nháy nút
Kết quả mẫu hỏi tính tổng điểm thi của từng thí sinh
Kết quả mẫu hỏi tính tổng điểm thi của thí sinh có điểm toán >=8
Quyết định 144/2003/QĐ-UB về duyệt quy hoạch phát triển hệ thống mạng lưới Chợ-Siêu thị Trung tâm thương mại của 22 quận-huyện trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đến năm 2010 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành
- Cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng chợ mới để khai thác kinh doanh hoặc hình thức tiểu thương ứng
vốn trước để xây dựng chợ, sau đó trừ vào tiền thuê sạp, tiền bán chuyển quyền sử dụng sạp.
- Nhà nước trực tiếp xây dựng chợ mới và thu lại qua thuế hoặc bán quyền sử dụng sạp.
- Các chợ sửa chữa, nâng cấp theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm.
- Các điểm chợ tự phát di dời, giải tỏa từ nguồn vốn ngân sách.
- Đối với các dự án có vốn đầu tư lớn áp dụng hình thức hợp tác liên doanh liên kết đầu tư với các đơn vị
trong và ngoài nước (Trung tâm thương mại Thế giới – dự án Trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm).
- Đối với dự án có quy mô vừa và nhỏ: kết hợp đầu tư vốn Nhà nước (về hạ tầng kỹ thuật) và vốn các nhà
doanh nghiệp đầu tư để cùng thực hiện như xây dựng chợ mới, nâng cấp, mở rộng chợ.
- Xây dựng quỹ tín dụng ngân hàng để tạo điều kiện, hổ trợ cho dân vay vốn kinh doanh.
3.2- Giải pháp về đất đai:
- Đất dành cho việc phát triển chợ, siêu thị, cần được thể hiện quy hoạch chi tiết của từng phường và quy
hoạch tổng thể của quận, trên cơ sở quận giới thiệu kêu gọi đầu tư.
- Các vùng được quy hoạch phát triển sau khi được duyệt quy hoạch phải công khai hóa quy hoạch và thông
báo rộng rãi cho mọi người biết để tránh thiệt hại cho nhân dân, chủ đầu tư phải đảm bảo các yếu tố có tính
khả thi và chính sách giải tỏa hợp lý phù hợp lòng dân, để việc tổ chức thực hiện thuận lợi hơn.
3.3- Về cơ sở hạ tầng và khai thác sử dụng mặt bằng kinh doanh chợ:
- Các Trung tâm thương mại, chợ, khu du lịch, phải được gắn với qui hoạch cơ sở hạ tầng chung của khu
vực và liên kết với nhau thành một tổng thể thống nhất, có như vậy việc triển khai thực hiện mới thuận lợi
và đạt hiệu quả cao.
- Đối với các chợ mới thực hiện theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003, trong phạm vi chợ có
thể bố trí thêm khu ăn uống, khu vui chơi giải trí, tạo bộ mặt văn minh thương mại và phù hợp với yêu cầu
thương nhân kinh doanh tại chợ.
- Kết hợp chợ với phát triển trung tâm thương mại: tầng trệt kinh doanh các mặt hàng thực phẩm tươi sống,
tầng lầu kinh doanh các mặt hàng sạch, cao cấp và các hoạt động vui chơi giải trí.
3.4- Giải pháp về chính sách, cơ chế quản lý:
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát quản lý thị trường, xử lý kiên quyết các vụ buôn lậu, hàng gian, hàng giả,
hàng mất phẩm chất đến tận phường, khu phố, tổ dân phố. Khen thưởng và xử lý các vi phạm về hoạt động
chợ.
- Tổ chức quản lý chợ theo tinh thần Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003, trong quản lý các chợ
hiện hành từng bước chuyển sang hình thức đấu thầu để lựa chọn đơn vị kinh doanh, khai thác chợ hiệu
quả.
- Cải tiến thủ tục hành chính, thu hút vốn nhàn rỗi trong nhân dân, kêu gọi đầu tư vào quận, giảm tối đa
việc gây phiền hà cho các thành phần kinh tế kinh doanh sản xuất trên địa bàn quận, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp chủ động trong sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp Nhà nước cho
mọi người trong phạm vi chợ.
III QUẬN 3:
Đến năm 2010, quận còn lại 4 chợ, 05 siêu thị, 02 trung tâm thương mại. Trong đó, quận cải tạo nâng cấp
04 chợ hiện hữu, xây dựng 01 siêu thị sách, 02 trung tâm thương mại và giải tỏa 08 chợ tự phát.
1. Định hướng chung về phát triển chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn quận 3:
1.1- Định hướng chung về phát triển chợ từ nay đến năm 2010:
- Nâng cấp, chỉnh trang lại các chợ đã được quy hoạch hiện có cho phù hợp với hoạt động kinh doanh, đáp
ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân.
- Xây dựng mới lại một chợ đảm bảo các quy chuẩn của một chợ văn minh.
- Kiên quyết ngăn chặn và chấm dứt tình trạng phát sinh các tụ điểm buôn bán trái phép chiếm dụng lòng lề
đường, đường hẻm, vỉa hè. Đối với các chợ tự phát tại hẻm phường đang hoạt động giao trách nhiệm Ủy
ban nhân dân phường có kế hoạch chấn chỉnh, sắp xếp tạm thời và từng bước giải tỏa.
- Trong khi chờ nâng cấp lại các chợ và có kế hoạch giải tỏa, các chợ phải đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ
sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy và đạt hiệu quả trong quản lý hoạt động
chợ.
1.2- Định hướng phát triển siêu thị và Trung tâm thương mại:
Từ nay đến năm 2010, đầu tư phát triển một số siêu thị, trung tâm thương mại chuyên ngành, như siêu thị
sách, trung tâm thương mại bán sĩ thuốc tân dược,
2. Định hướng cụ thể:
2.1- Nâng cấp sửa chữa các chợ hiện hữu: Chợ Bàn Cờ, chợ Vườn Chuối, chợ Bùi Phát. chợ Nguyễn Văn
Trỗi xây dựng mới, đảm bảo các quy chuẩn của một chợ văn minh.
2.2- Chấn chỉnh các chợ chưa được quy hoạch:
- Quy hoạch sắp xếp hai chợ tự phát Nguyễn Thông (phường 9), chợ hẻm 287 Nguyễn Đình Chiểu (phường
5) thành chợ cố định.
- Chấn chỉnh chợ đường số 1, Cư xá Đô Thành (phường 4), chợ hẻm 306 Nguyễn Thị Minh Khai (phường
5). Hai chợ này giao cho Ủy ban nhân dân phường có kế hoạch giải tỏa từ nay đến năm 2005.
- Chấn chỉnh chợ chung cư Nguyễn Thiện Thuật (phường 1), Chợ hẻm 430 Cách Mạng Tháng 8 (phường
11). Hai chợ này giao cho Ủy ban nhân dân phường có kế hoạch giải tỏa từ nay đến năm 2010.
- Giải tỏa chợ tự phát hẻm 134 Lý Chính Thắng (phường 7) và chợ tự phát Cống Bà Xếp đường Trần Văn
Đang (phuờng 9) trong năm 2003.
3. Giải pháp:
3.1- Đối với chợ được cải tạo và nâng cấp: Tiểu thương cùng đóng góp chi phí cải tạo nâng cấp chợ, chi phí
đóng góp căn cứ dự toán cải tạo sửa chữa chợ, mức đóng góp tùy theo ngành hàng, vị trí sạp.
3.2- Đối với chợ cải tạo xây dựng mới: Nguồn vốn được Nhà nước bỏ vốn đầu tư 100% hoặc liên doanh,
sau đó thu hồi từ nguồn chuyển nhượng quyền sử dụng sạp chợ.
3.3- Đối với chợ chưa được quy hoạch, chợ tự phát:
- Trước mắt, tập trung quản lý, không cho phát sinh thêm, có quy hoạch địa điểm để sắp xếp nơi mua bán,
việc hoạt động mua bán phải đảm bảo an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh
môi trường môi sinh tại khu vực; sau đó tiến hành giải tỏa theo kế hoạch.
- Ủy ban nhân dân phường có kế hoạch buộc hộ kinh doanh có địa điểm trong nhà không lấn chiếm thêm
lòng lề đường để bày hàng hóa. Đối với các hộ vãng lai từ nơi khác đến, vận động về địa phương để kinh
doanh.
3.4- Đối với các siêu thị và Trung tâm thương mại: Sau khi quận đã có đề án quy hoạch sẽ tổ chức giới
thiệu thông tin mời gọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư với hình thức liên
doanh, liên kết.
3.5- Giải pháp về quản lý:
- Đối với các hộ kinh doanh có quyền sử dụng sạp nhưng không kinh doanh, quá thời hạn 01 tháng, nếu chủ
hộ kinh doanh không kinh doanh thì Ban quản lý sẽ thu hồi để bố trí cho tiểu thương khác.
- Đối với các đơn vị doanh nghiệp Nhà nước, Hợp tác xã thương mại dịch vụ được bố trí các điểm kinh
doanh trong chợ mà không tự kinh doanh, hoặc kinh doanh không có hiệu quả, Ban quản lý chợ đề xuất thu
hồi và bố trí lại cho người có nhu cầu cần địa điểm kinh doanh.
- Xây dựng mô hình Hợp tác xã thương mại dịch vụ chợ thay cho vai trò, chức năng nhiệm vụ của Ban
quản lý chợ. 2003- 2004, xây dựng thí điểm tại 1 chợ mô hình Hợp tác xã Dịch vụ chợ thay cho vai trò,
chức năng nhiệm vụ của Ban quản lý chợ. Năm 2005 sẽ nhân rộng mô hình ra các chợ còn lại.
IV QUẬN 4:
Đến năm 2010, quận 4 có 04 chợ, 01 siêu thị, 03 trung tâm thương mại, không còn chợ tự phát. Trong đó
nâng cấp 01 chợ, xây mới 03 chợ - 01 siêu thị - 02 trung tâm thương mại, giải tỏa trắng 07 chợ.
1. Định hướng phát triển mạng lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại:
1.1- Xây dựng chợ mới:
Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm xây dựng mới 03 chợ:
- Chợ phường 1: xây dựng tại giao điểm đường Bến Vân Đồn và Nguyễn Khoái, diện tích: 1200m
2
, số
lượng điểm kinh doanh: 204 điểm, xây dựng vào năm 2006.
- Chợ phường 3: xây dựng tại dãy nhà kho 193-196 Tôn Thất Thuyết phường 3, diện tích 4.500m
2
, số
lượng quày sạp : 900, xây dựng vào năm 2005.
- Chợ phường 18: xây dựng tại giao điểm đường Đoàn Văn Bơ và Nguyễn Thần Hiến, diện tích: 2.000m
2
,
số lượng điểm kinh doanh: 400 điểm, xây dựng vào 2008.
1.2- Chợ cải tạo, nâng cấp: chợ Xóm Chiếu (phường 12) với tổng kinh phí là 500.000.000 đồng.
1.3- Định hướng phát triển siêu thị, trung tâm thương mại:
Đến năm 2010, xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại sau:
- Khu siêu thị Dịch vụ thương mại Hoàng Diệu: vị trí chung cư lô H2, đường Hoàng Diệu phường 8, diện
tích 6.000m
2
. Nguồn vốn của Công ty Dịch vụ công ích quận, thời gian khởi công xây dựng năm 2005.
- Khu Dịch vụ thương mại Khánh Hội: vị trí chung cư lô B6, đường Khánh Hội phường 4, diện tích
4.000m
2
. Vốn của Công ty Dịch vụ công ích quận, thời gian khởi công xây dựng năm 2004.
- Khu Dịch vụ thương mại phường 1: vị trí số 1 Tôn Thất Thuyết, với diện tích 3.000m
2
, giai đoạn thực
hiện năm 2004.
- Khu Dịch vụ thương mại phường 2 - phường 5: vị trí chung cư lô N2, đường Hoàng Diệu, với diện tích
2.000m
2
, giai đoạn thực hiện năm 2006
- Công trình Dịch vụ-Thương mại phường 2 - phường 5: thực hiện vào thời gian năm 2006, nguồn vốn đầu
tư do Công ty Dịch vụ Công ích quận.
2. Giải pháp:
2.1- Vốn đầu tư cho xây dựng chợ:
- Xây dựng chợ mới bằng100% nguồn ngân sách của quận, sau đó có thể thu hồi từ nguồn chuyển nhượng
quyền sử dụng sạp (trong thời hạn 10 năm).
- Nhà nước bỏ vốn 100% xây dựng chợ, tiểu thương ký hợp đồng thuê sạp có thời hạn (3-5 năm). Giá thuê
quầy, sạp, kiot xác định tùy theo diện tích, địa thế, ngành hàng kinh doanh.
- Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm’’, trong đó tiểu thương đóng góp chi phí xây
dựng chợ và nhận được quyền sử dụng sạp chợ trong thời hạn 10 năm, Nhà nước đóng góp bằng quyền sử
dụng đất, cơ sở hạ tầng hiện đại.
2.2- Giải pháp vốn đầu tư cho phát triển khu Siêu thị, Trung tâm thương mại dịch vụ:
- Huy động vốn bằng phương thức liên doanh, liên kết, xã hội hóa đầu tư.
- Quận ký kết hợp đồng giao đất, cho đơn vị bỏ vốn đầu tư 100%, sau đó đưa vào khai thác với thời gian
theo hợp đồng (20-30 năm). Hàng năm, đơn vị kinh doanh đóng tiền sử dụng đất, tiền thuê mặt bằng. Hết
hạn hợp đồng, cơ sở vật chất được giao lại cho quận.
2.3- Giải pháp về quản lý:
Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các ngành chức năng trong việc kiểm tra tình hình thực hiện các quy định
hiện hành về an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh môi trường và vệ sinh thực
phẩm.
2.4- Giải pháp phát triển đồng bộ giữa hệ thống chợ và các hệ thống thương nghiệp khác:
- Trên cơ sở qui hoạch tổng thể mặt bằng quận 4 đến năm 2010, trong quá trình sắp xếp lại từng cụm dân
cư giai đoạn từ nay đến năm 2005, xây dựng thêm 3 chợ mới, đồng thời xây dựng 4 khu Thương mại - Dịch
vụ mới theo kế hoạch.
- Về lâu dài trong quá trình chỉnh trang đô thị đến năm 2010, tiếp tục nghiên cứu xây dựng thêm một số chợ
và hệ thống siêu thị, Trung tâm Thương mại - Dịch vụ tại các chung cư, nhà cao tầng theo quy hoạch, từ đó
sẽ tạo được sự phát triển đồng bộ giữa hệ thống chợ và các hệ thống thương nghiệp khác trên địa bàn.
V QUẬN 5:
Đến năm 2010 quận 5 có 11 chợ, 14 trung tâm thương mại-siêu thị. Từ nay đến năm 2010 di dời 05 chợ,
nâng cấp sửa chữa 04 chợ và giải tỏa 05 chợ tự phát.
1. Định hướng chung phát triển chợ, siêu thị, trung tâm thương mại:
- Các chợ kinh doanh những ngành hàng có tính chất gây ô nhiễm môi sinh môi trường nặng nề không phù
hợp với hoạt động nội thị kết hợp với định hướng chung của thành phố, di dời ra ngoại thành.
- Xây dựng, phát triển mạng lưới cửa hàng kinh doanh thực phẩm tươi sống, chế biến, thực phẩm công
nghệ gắn liền với các khu vực dân cư.
- Tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ để hình thành và phát triển các loại hình siêu thị (trung bình và nhỏ), cửa
hàng tự chọn, đảm bảo các yêu cầu về kinh doanh hàng hóa đúng phẩm chất, an toàn thực phẩm, văn
minh thương nghiệp.
- Nghiên cứu phát triển các loại chợ đêm, các chợ chuyên doanh mang tính truyền thống phù hợp với đặc
điểm của quận, đồng thời đảm bảo các quy định hiện hành về an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng
cháy, chữa cháy, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường,…
- Hạn chế dần hoạt động họp chợ, tụ điểm mua bán phát sinh trái phép trên lòng lề đường, đến năm 2010
giải quyết dứt điểm các chợ tự phát lấn chiếm lòng lề đường trên địa bàn quận.
2. Định hướng cụ thể:
2.1- Định hướng về nâng cấp, sửa chữa chợ hiện hữu: Chợ Vật liệu Xây dựng (phường 13), Thương xá
Đồng Khánh (phường 14), Chợ Vật tư, (phường 10), Chợ Hòa Bình (phường 5).
2.2- Định hướng tổ chức sắp xếp lại các chợ hiện hữu:
2.2.1- Các chợ đầu mối:
- Thương xá Đồng Khánh (phường 14): củng cố, phát triển theo hướng chuyên ngành vải sợi phụ liệu trên
cơ sở xây dựng mới khu liên hợp Soái Kình Lâm.
- Chợ Kim Biên (phường 13) quy hoạch theo 2 hướng: (1) Phối hợp với Công ty Phương Đông sử dụng mặt
bằng của đơn vị, xây dựng mới Trung tâm thương mại Kim Biên, để di dời sắp xếp ổn định và phát triển
hoạt động chợ Kim Biên, phục hồi công năng công viên cây xanh trước đây. (2) Trường hợp có vướng mắc
khách quan sẽ cải tạo, xây dựng lại chợ trên cơ sở mặt bằng hiện hữu để đảm bảo các phương tiện, điều
kiện trật tự mỹ quan thông thoáng, phục vụ tái sắp xếp để phát triển tiềm năng kinh doanh của chợ.
- Chợ Vật Tư (phường 10): thực hiện chương trình chỉnh trang đô thị sẽ xây dựng lại chung cư “Đỗ Văn
Sửu” đã xuống cấp, quy hoạch lại mặt bằng kinh doanh ở tầng trệt cho hợp lý và khoa học hơn, tạo điều
kiện tái bố trí phát triển kinh doanh ngành hàng vật tư thiết bị phụ tùng công nghiệp, nông nghiệp.
- Chợ Vật liệu Xây dựng (phường 13): cải tạo, xây dựng lại, phát triển hình thành chợ chuyên ngành vật
liệu, trang trí nội thất cao cấp, showroom hạn chế dần hoạt động kinh doanh cây, ván trong chợ.
- Chợ Thủy Hải sản khô (phường 10): chuyển hoạt động ra các chợ đầu mối ngoại thành theo định hướng
quy hoạch chung của thành phố.
- Chợ Hòa Bình (phường 5): chuyển phần hoạt động bán buôn thủy hải sản ban đêm ra các chợ đầu mối
ngoại thành theo định hướng chung của thành phố, chỉnh trang nâng cấp lại cơ sở hạ tầng cho phù hợp điều
kiện tiện nghi kinh doanh văn minh thương mại, từng bước hình thành một khu vực chuyên doanh bán lẻ
thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến, bách hóa, công nghệ phẩm.
- Chợ Tân Thành (phường 15, 12) quy hoạch phát triển theo 2 hướng sau: (1) giai đoạn từ nay đến năm
2005 chuyển dần hoạt động kinh doanh chiếm dụng lòng lề đường hiện hữu vào kinh doanh trong các nhà
dân theo đường phố lân cận. (2) Về lâu dài thành phố sẽ xem xét hỗ trợ mặt bằng theo đề xuất của quận để
quận quy hoạch xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng trong sắp xếp kinh doanh chuyên ngành phụ tùng xe
máy, thiết bị máy nổ các loại tại đây.
- Chợ Trần Chánh Chiếu (phường 14): giải tỏa đối với ngành hàng bán buôn nông sản thực phẩm, gà, vịt
sống trên lòng lề đường di dời ra các chợ đầu mối nông sản thực phẩm ngoại thành theo quy hoạch chung
của thành phố.
- Chợ sắt Hà Tôn Quyền (phường 15): quy hoạch theo 2 hướng (1) vận động, định hướng chuyển dần hoạt
động kinh doanh vào trong nhà dân khu vực tiếp cận, hạn chế dần hoạt động kinh doanh, gia công thép tấm
không đảm bảo điều kiện an toàn lưu thông và môi sinh môi trường. (2) Kết hợp sắp xếp cùng chợ Tân
Thành sử dụng mặt bằng kho bia Tân Thành hoặc Thủy đài 79 Đỗ Ngọc Thạnh.
2.2.2- Các chợ kinh doanh thực phẩm tươi sống:
Bao gồm các chợ Phùng Hưng, Xã Tây, Bàu Sen, Hà Tôn Quyền, Cao Đạt, Nguyễn Thời Trung, sẽ thu hẹp
hoạt động không cho phát sinh mới, định hướng vận động tiểu thương tự giác chuyển dần vào hoạt động
trong nhà ở các khu vực lân cận, đảm bảo tốt các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Song song đó sẽ tạo
mọi điều kiện thuận lợi, phát triển mạnh hoạt động các tiểu khu thương mại sâu rộng trong khu vực dân cư,
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của nhân dân tại chỗ, giảm dần nhu cầu tập trung mua sắm tại các
chợ trên lòng lề đường.
2.2.3- Đối với các chợ, tụ điểm tự phát ngoài quy hoạch:
Kiên quyết từng bước giải tỏa trắng trước năm 2005, không để phát sinh chợ tạm trái phép dưới bất kỳ hình
thức nào, gồm các chợ hẻm 402 An Dương Vương (phường 4), hẻm 565 Nguyễn Trãi (phường 7), lề đường
Phan Văn Trị - Huỳnh Mẫn Đạt (phường 2), hẻm 89 Phùng Hưng (phường 13), lề đường Yết Kiêu (phường
9), Đối với các hoạt động tụ tập mua bán lấn chiếm lòng lề đường ở các khu vực đầu chợ và phụ cận,
thường xuyên tăng cường giải tỏa chốt giữ không để tái lập làm ảnh hưởng đến trật tự mỹ quan đô thị.
2.3- Định hướng phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại:
2.3.1- Phát triển mới:
- Trung tâm liên hợp gia cư thương mại An Đông 2 Plaza tại 16 An Dương Vương phường 9, diện tích
khuôn viên 6.000 m
2
, dự kiến kinh phí 218 tỷ từ nguồn vốn liên doanh.
- Trung tâm giao dịch thương mại 01 Lý Thường Kiệt phường 12, diện tích khuôn viên 15.162 m
2
, dự kiến
kinh phí 604 tỷ từ nguồn vốn liên doanh.
- Chung cư kết hợp trung tâm thương mại Lakai (phường 7), diện tích khuôn viên 1.675m
2
, dự kiến kinh
phí 49,8 tỷ từ nguồn vốn vay ngân hàng.
- Trung tâm liên hợp gia cư thương mại Soái Kình Lâm (phường 14), diện tích khuôn viên 4.800 m
2
, dự
kiến kinh phí 250 tỷ từ nguồn vốn liên doanh.
- Trung tâm Thương mại - Dịch vụ Trần Phú (khu vực mũi tàu - phường 7), diện tích khuôn viên 2.200 m
2
.
- Khu gia cư thương mại 402 Hàm Tử (phường 5), diện tích khuôn viên 4.800 m
2
.
- Khu Trung tâm thương mại 631 - 633 Nguyễn Trãi (phường 11).
- Khu liên hợp gia cư - thương mại - giải trí tại 107-107Bis Trần Hưng Đạo (phường 6).
- Những tiểu khu thương mại trong các cụm dân cư chỉnh trang đô thị tại 155 Nguyễn Chí Thanh (phường
12), Lô B chung cư Phan Văn Trị (phường 2), chung cư Chợ Quán góc Hàm Tử - Huỳnh Mẫn Đạt, chung
cư 119 Cao Đạt (phường 1), điểm dân cư phường 5, 7, 12, 13, 15
- Trung tâm thương mại - siêu thị, cao ốc văn phòng tại Nhà máy thuốc lá Sàigòn (phường 4).
- Cao ốc văn phòng dịch vụ tài chính tại 1015 Trần Hưng Đạo (phường 5).
- Chợ đá mới, siêu thị kết hợp trong Trung tâm liên hợp gia cư, thương mại 402 Hàm Tử (phường 5).
- Trung tâm phần mềm tin học, kỹ thuật cao, kết hợp trong dự án xây dựng Trường Công nghệ Kỹ thuật tại
100 Hùng Vương (phường 9).
- Chợ Vật liệu Xây dựng, trang trí nội thất cao cấp, kết hợp trung tâm thương mại tại khu vực góc Tản Đà -
Hàm Tử, Hải Thượng Lãn ông (phường 10).
- Siêu thị Đông dược tại khu nhà cổ đường Hải Thượng Lãn ông (phường 10).
- Trung tâm tài chính, chứng khoán tại 203 Phùng Hưng (phường 14).
- Trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng 922 Nguyễn Trãi (phường 14).
3. Phân kỳ thực hiện:
3.1- Giai đoạn 1: (từ năm 2000 đến 2005).
- Giải tỏa hoạt động chợ Thủy Hải sản khô (Cảng 2), chợ cá bán buôn Hòa Bình, chợ bán buôn nông sản
thực phẩm, gà vịt sống Trần Chánh Chiếu ra các chợ đầu mối ngoại thành theo kế hoạch của thành phố.
- Xây dựng mới tại địa điểm 96 Hùng Vương, tái bố trí sắp xếp và phát triển hoạt động chợ thực phẩm khu
vực Bắc An Đông được ổn định lâu dài.
- Xây dựng mới khu Trung tâm thương mại Kim Biên trên cơ sở mặt bằng của Công ty Phương Đông, để
tái bố trí, phát triển và ổn định lâu dài hoạt động chợ Kim Biên.
- Lập dự án nghiên cứu cải tạo lại chợ Vật liệu Xây dựng (phường 13) phát triển hoạt động chuyên ngành
vật liệu xây dựng, trang trí nội thất cao cấp, showroom trưng bày sản phẩm.
- Từng bước chuyển hóa dần hoạt động kinh doanh của chợ Tân Thành vào các mặt bằng ổn định, vào nhà
dân. Phối hợp với Công ty cấp nước sử dụng mặt bằng của Thủy đài 79 Đỗ Ngọc Thạnh sắp xếp ổn định
hoạt động kinh doanh của một số tiểu thương chợ Tân Thành.
- Xây dựng khu liên hợp gia cư thương mại tại góc Tản Đà - Hàm Tử -Hải Thượng Lãn ông (phường 10),
tổ chức sắp xếp phát triển hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng, trang trí nội thất cao cấp.
- Xây dựng chung cư tại 402 Hàm Tử (phường 5) sử dụng tầng trệt thành lập Trung tâm thương mại, siêu
thị (sẽ chuyển hoạt động chợ đá mới vào trung tâm này).
- Lập dự án tiến hành xây dựng khu thương mại - dịch vụ phục vụ công cộng tại mũi tàu Trần Phú (phường
7).
- Xây dựng hoàn chỉnh công trình liên hợp thương mại dân dụng 01 Lý Thường Kiệt (phường 12) phát triển
hoạt động tân dược, bách hóa công nghệ phẩm.
- Xây dựng mới khu vực 107 Trần Hưng Đạo B (phường 6) tổ chức hoạt động Siêu thị, dịch vụ giải trí.
- Xây dựng mới khu liên hợp gia cư thương mại Soái Kình Lâm (phường 14) kết hợp với các trung tâm
hiện hữu tại đây hình thành khu vực kinh doanh chuyên ngành vải sợi, phụ liệu, Đông y.
- Xây dựng khu Trung tâm thương mại bách hóa công nghệ phẩm Lakai tại Nguyễn Tri Phương (phường
7).
- Xây dựng Trung tâm tin học phần mềm và Trường Công nghệ kỹ thuật cao tại 100 Hùng Vương (phường
9).
- Phối hợp với Nhà máy thuốc lá Sài gòn (sau khi thực hiện chủ trương di dời hoạt động sản xuất tại đây)
sử dụng mặt bằng để cải tạo, xây dựng Siêu thị hoặc trung tâm thương mại.
- Trong thời gian này, tiếp tục đẩy mạnh chương trình hình thành, phát triển các tiểu khu thương mại phục
vụ trong khu vực dân cư, gắn với việc xây dựng mới các cụm chung cư: Lô B Phan Văn Trị (phường 2),
chung cư Ngô Quyền, 155 Nguyễn Chí Thanh (phường 9), 157 Nguyễn Chí Thanh (phường 12), khu dân
cư Võ Trường Toản (phường15).
3.2- Giai đoạn 2: Từ năm 2006 đến 2010 tiếp tục thực hiện những vấn đề còn tồn tại ở giai đoạn 1, đồng
thời tập trung xem xét triển khai thực hiện định hướng quy hoạch phát triển đối với các chợ còn lại.
4. Các giải pháp:
4.1- Về nguồn vốn đầu tư:
- Đối với các chợ và trung tâm xây dựng, chỉnh trang, nâng cấp: Sử dụng nguồn vốn từ ngân sách, việc thu
hồi vốn thông qua hình thức thuê sử dụng quày sạp dài hạn hoặc ngắn hạn, với những chính sách hỗ trợ cụ
thể tạo điều kiện cho các tiểu thương an tâm ổn định kinh doanh lâu dài.
- Đối với những công trình liên hợp thương mại xây dựng mới: Sử dụng phương thức liên doanh, liên kết
với các đối tác đầu tư, có sự tham gia định hướng của Nhà nước trong việc hình thành phát triển các loại
hình siêu thị, trung tâm thương mại theo quy hoạch chung.
- Đối với mặt bằng do những đơn vị sản xuất, kinh doanh ngoài quận quản lý: Nếu có mặt bằng chưa sử
dụng đúng công năng hoặc có hướng chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh ra ngoại thành, quận 5 sẽ liên
doanh, liên kết đầu tư hoặc hỗ trợ, tạo điều kiện chuyển hóa loại hình hoạt động phù hợp tại các mặt bằng
nêu trên để đảm bảo sự phát triển hài hòa trong định hướng phát triển thương mại - dịch vụ trên địa bàn.
4.2- Về quản lý hành chính Nhà nước:
- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ, chuyên môn để nâng cao năng lực quản lý cho các Ban
quản lý chợ và Trung tâm để đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng đòi hỏi cao hơn.
- Tăng cường hoạt động Đội trật tự đô thị của quận và các phường nhằm phát huy hiệu lực quản lý Nhà
nước, bảo đảm trật tự mỹ quan đô thị, xóa trắng tình trạng tụ tập mua bán trái phép trên lòng lề đường, hẻm
phục vụ tích cực cho công tác quy hoạch đô thị trên địa bàn.
- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các ngành trong việc tổ chức sắp xếp ngành hàng kinh doanh tại các khu
vực phụ cận ngoài các Trung tâm và các trung tâm.
4.3- Biện pháp tổ chức thực hiện:
- Dự án được thực hiện từng bước, trong đó đẩy mạnh công tác vận động tuyên truyền, thuyết phục cho
nhân dân và tiểu thương thông hiểu đồng tình tự giác tham gia thực hiện, tránh xáo trộn, ảnh hưởng tâm lý
kinh doanh của tiểu thương, triệt tiêu động lực phát triển kinh doanh trên địa bàn.
- Việc thực hiện các biện pháp giải tỏa, di dời phải căn cứ đến điều kiện khả thi về địa điểm mới phù hợp,
thuận lợi.
- Hạn chế triệt để, không cho phát sinh mới các hộ kinh doanh tại chợ lòng lề đường, từng bước thu hẹp dần
qui mô, số lượng tiểu thương kinh doanh phục vụ thuận lợi cho công tác quy hoạch sắp xếp trong hướng
tới.
VI QUẬN 6:
Đến năm 2010 quận 6 có 8 chợ, 04 siêu thị, 04 trung tâm thương mại; trong đó xây dựng mới 01 chợ - 01
trung tâm thương mại, di dời 02 chợ, nâng cấp sửa chữa 03 chợ, chuyển công năng 03 chợ thành siêu thị -
trung tâm thương mại, giải tỏa 01 chợ tự phát.
1. Định hướng chợ cải tạo nâng cấp và xây dựng mới:
1.1- Chợ Minh Phụng:
Xây dựng mới Chợ Minh Phụng với diện tích 2.412,75 m
2
chia thành 440 sạp với tổng mức vốn đầu tư 3 tỷ
đồng bằng nguồn vốn kêu gọi đầu tư trong nước.
1.2- Chợ Gia Phú:
Xây dựng thành Trung tâm Thương mại và nhà ở, tầng trệt thiết kế thành cửa hàng siêu thị, tầng lầu bố trí
nhà ở với tổng vốn đầu tư 50.000 triệu đồng. Dự kiến xây dựng trong giai đoạn 2003 - 2005 bằng nguồn
vốn kêu gọi đầu tư.
1.3- Thương xá Châu Hải Thành:
Cải tạo thành thương xá có thể mở rộng thêm tầng lầu để bố trí kinh doanh và phần trên vẫn bố trí nhà ở
với tổng vốn đầu tư 50 tỷ đồng bằng nguồn vốn kêu gọi đầu tư trong giai đoạn 2003 - 2005.
1.4- Trung tâm Thương mại-Dịch vụ 132 A Chu Văn An - Sân Cá 50:
Dời Sân cá 50 về Chợ đầu mối Nông thủy hải sản của thành phố sử dụng diện tích sân cá 50 và mặt bằng
132A Chu văn An xây dựng thành Thương xá có thể sử dụng vào 02 mục đích: (1) Phục vụ cho di dời Trần
Bình-Lê Tấn Kế về hình thành chợ đầu mối kinh doanh thủy hải sản khô, thực phẩm chế biến. (2) Trung
tâm kinh doanh thương mại tổng hợp. Vốn đầu tư là 50 tỷ đồng thực hiện trong giai đoạn 2003 - 2005.
1.5- Xây dựng mới chợ phường 11, quận 6 theo dự án 415:
Xây dựng chợ tại phường 11, quận 6 với diện tích xây dựng: 1.539 m
2
bằng nguồn vốn đối ứng giữa Việt
Nam và Dự án 415. Tổng nguồn vốn là 2,5 tỷ đồng. Khởi công xây dựng trong năm 2003.
2. Chỉnh trang, nâng cấp, sửa chữa:
2.1- Chợ Bình Tây: Sửa chữa với kinh phí 1.500 triệu đồng bằng nguồn vốn ngân sách thực hiện trong giai
đoạn 2002 - 2005. Thực hiện giải tỏa khu vực Trần Bình - Lê Tấn Kế về Trung tâm Thương mại dịch vụ
132A Chu Văn An - Sân cá 50, chỉnh trang lại khu vực Phan Văn Khoẻ thuộc chợ Bình Tây quản lý.
2.2- Đối với các chợ Phú Định - Tân Hòa Đông: tận dụng diện tích nhà lồng để xây dựng thành Cửa hàng
hoặc Siêu thị nhỏ chủ yếu kinh doanh hàng thực phẩm tươi sống - rau quả củ, chấm dứt tình trạng sử dụng
các hẻm trong khu vực phụ cận để làm chợ kinh doanh. Dự kiến tổng kinh phí khoảng 4 tỷ đồng thực hiện
trong giai đoạn 2006-2010.
2.3- Chợ Phạm Văn Chí phường 8: giải tỏa, đồng thời vận động nhân dân, các đơn vị kinh tế xây dựng cửa
hàng tự chọn hoặc siêu thị quy mô nhỏ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của dân cư.
3. Chợ giải tỏa di dời: Chợ Sân cá 50, Chợ Rau Mai Xuân Thưởng, Chợ Lê Quang Sung Phường 9.
4. Phân kỳ đầu tư:
- Từ nay đến năm 2005 sẽ ưu tiên đầu tư cho các công trình xây dựng chợ Minh Phụng, giải tỏa di dời hoặc
sửa chữa khu Trần Bình - Lê Tấn Kế chợ Bình Tây, xây dựng cải tạo khu Thương xá Châu Hải Thành,
Thương xá 132A Chu Văn An – Sân Cá 50, chỉnh trang sửa chữa chợ Bình Tây.
- Các công trình còn lại sẽ đầu tư vào giai đoạn 2005 - 2010.
5. Giải pháp:
5.1- Giải pháp huy động vốn đầu tư:
- Tăng cường công tác tiếp xúc với các doanh nghiệp giới thiệu các dự án đầu tư để các doanh nghiệp xem
xét lựa chọn đầu tư thông qua hình thức đấu thầu hoặc chỉ định thầu.
- Cân đối nguồn ngân sách theo kế hoạch hàng năm để đầu tư vào các công trình sử dụng nguồn ngân sách
của quận một cách hợp lý theo lộ trình thứ tự ưu tiên.
- Kêu gọi các Doanh nghiệp có khả năng ra đầu tư tham gia đầu tư kinh doanh chợ.
- Tiếp tục cải tiến thủ tục hành chính để thu hút đầu tư trong nhân dân, giảm tối đa các thủ tục tạo điều kiện
thuận lợi cho các Doanh nghiệp đầu tư cũng như các hộ kinh doanh trong các chợ.
- Xây dựng quỹ tín dụng, ngân hàng tạo điều kiện hỗ trợ cho các hộ kinh doanh phát triển.
5.2- Về chính sách cơ chế quản lý:
- Các tuyến đường sau khi đã di dời giải tỏa chợ rau Mai Xuân Thưởng ra các chợ đầu mối theo quy hoạch
của thành phố, sẽ không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các ngành hàng Nông sản thực
phẩm – Trái cây. Cụ thể trên các tuyến đường sau: Mai Xuân Thưởng, Trần Trung Lập, Cao Văn Lầu, Phan
Văn Khỏe, Bãi Sậy, Phạm Đình Hổ, Hậu Giang, Lê Quang Sung, Nguyễn Xuân Phụng, Lê Tấn Kế, Trần
Bình, Chu Văn An.
- Sớm hình thành các Đội phòng cháy, chữa cháy ở các chợ chưa có lực lượng. Bố trí, sắp xếp kinh doanh
có khoa học, hợp lý, tạo sự thông thoáng khi có sự cố và phục vụ tốt cho công tác phòng cháy, chữa cháy.
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử lý kiên quyết các trường hợp kinh doanh hàng gian, hàng giả, đảm
bảo tốt công tác an ninh, trật tự, thường xuyên kiểm tra, xử lý vấn đề vệ sinh thực phẩm và vệ sinh môi
trường.
- Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết 02
của Chính phủ sẽ tổ chức thí điểm thành lập mô hình Công ty hoặc Hợp tác xã quản lý chợ.
- Xã hội hóa trong công tác quản lý Nhà nước đối với công tác quản lý chợ thông qua công tác tổ chức đấu
thầu khai thác nguồn thu tại chợ dưới hình thức thành lập công ty hoặc Hợp tác xã quản lý chợ.
- Từng bước chấn chỉnh chợ tự phát từ nay đến năm 2010 chấm dứt việc kinh doanh lấn chiếm lòng lề
đường trong khu vực quanh chợ.
VII QUẬN 7:
Đến năm 2010, quận 7 có 10 chợ, 02 siêu thị và 02 trung tâm thương mại; trong đó xây dựng mới 05 chợ -
02 siêu thị - 02 trung tâm thương mại, nâng cấp sửa chữa 03 chợ, giải tỏa 06 chợ tự phát.
1. Định hướng phát triển mạng lưới chợ, siêu thị:
1.1- Định hướng xây dựng chợ mới:
- Xây dựng thêm hai chợ mới kiên cố ở phường Phú Thuận và phường Phú Mỹ.
- Xây dựng chợ tạm bán kiên cố tại khu đất trống phường Tân Kiểng (chợ dở dang Tân Quy cũ) nờn tập
trung di dời các tiểu thương đang kinh doanh tại chợ tự phát đường Lê Văn Lương (Kho 30/4), chợ chiều
Tân Kiểng vào khu vực này.
- Xây dựng chợ đường Gò Ô Môi: do Công ty TNHH Tân Thuận Nam làm chủ đầu tư với diện tích 2.000
m
2
. Đồng thời di dời chợ tự phát Gò Ô Môi và một số hộ kinh doanh tự phát dọc tuyến đường Huỳnh Tấn
Phát vào khu vực chợ này.
- Xây dựng chợ ven sông Phú Xuân (đường Phạm Hữu Lầu, phường Phú Mỹ) với diện tích dự kiến
1.000m
2
. Đây là chợ đầu mối cung cấp thực phẩm cho khu vực dân cư Nam Sài Gòn, đồng thời di dời chợ
tự phát đầu cầu Phú Xuân vào khu vực chợ này.
1.2- Định hướng nâng cấp, sửa chữa các chợ hiện hữu:
Chỉnh trang nâng cấp 3 chợ gồm chợ Tân Mỹ, chợ Tân Kiểng, một phần chợ Tân Thuận Đông. Giai đoạn
2006 - 2010 xây mới chợ Tân Thuận Đông và chợ Tân Mỹ nhằm đáp ứng nhu cầu dân cư ngày càng đông
trên địa bàn. Nghiên cứu kết hợp giữa chợ và trung tâm thương mại khi xây dựng mới hai chợ này.
2. Xây dựng các Trung tâm Thương mại, Siêu thị, các khu vực kinh doanh chuyên ngành:
Theo quy hoạch dài hạn quận 7 sẽ hình thành 5 trung tâm thương mại, siêu thị. Cụ thể:
- Trung tâm 1: Phường Tân thuận Tây;
- Trung tâm 2: Phường Tân Quy;
- Trung tâm 3: Phường Tân Phong;
- Trung tâm 4: Phường Tân Phú;
- Trung tâm 5: Phường Phú Mỹ.
Trước mắt, giai đoạn 2006 - 2010 phát triển 2 siêu thị và 2 trung tâm thương mại. Cụ thể:
2.1- Hệ thống Siêu thị - Trung tâm thương mại tại khu đô thị Nam Sài Gòn:
- Dự án Siêu thị Sài Gòn Coop: địa điểm tại lô H6-2-3, khu A, phường Tân Phong, tổng diện tích đất
4.647m
2
, bãi xe 1.289m
2
, quảng trường cây xanh 607m
2
, đang triển khai thi công.
- Dự án Siêu thị Coop Mart của Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại thành phố Hồ Chí Minh, địa điểm tại
phường Tân Phong, tổng diện tích đất 4,26 ha. Dự kiến năm 2004 bắt đầu triển khai xây dựng.
- Dự án trung tâm thương mại, trưng bày sản phẩm thuộc dự án Khu dân cư Kim Sơn.
- Dự án khu thương nghiệp-dịch vụ thuộc dự án Khu dân cư ven sông do Công ty Đầu tư và xây dựng Tân
Thuận làm chủ đầu tư.
2.2- Siêu thị tại khu vực nghĩa địa bà Thánh Ana:
Vị trí thuận tiện nằm giữa hai tuyến giao thông chính: đường Lê Văn Lương và đường Bắc Nam, siêu thị tại
khu vực này có bán kính phục vụ đáp ứng cho cụm dân cư khu Cư xá Ngân hàng - phường Tân Quy -
phường Tân Kiểng - phường Tân Hưng.
2.3- Trung tâm thương mại kết hợp với chợ ven sông phường Phú Mỹ:
Khi các tuyến đường Liên tỉnh 15B, Bình Thung được hình thành, Trung tâm Thương mại này kết hợp vơi
chợ đầu mối ven sông sẽ cung cấp thực phẩm tươi sống cho dân cư thuộc khu Phú Mỹ Hưng và các khu
vực trong các dự án tái định cư của quận và thành phố tại phường Phú Mỹ.
2.4- Trung tâm thương mại ở phường Tân Thuận Đông: nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm cho dân cư tại khu
công nghiệp sạch và nhà ở, phần lớn tập trung phục vụ cho khu vực dân cư phường Bình Thuận-Khu chế
xuất Tân Thuận.
2.5- Bên cạnh các siêu thị, trung tâm thương mại, trong giai đoạn 2006-2010 tập trung phát triển chợ đầu
mối phân bón và hệ thống kho bãi phục vụ chợ đầu mối gạo tại khu vực Cảng Sông Ông Lớn. Mặt khác, để
phục vụ nhu cầu mua sắm và giải trí cho khách du lịch tại Cảng Du lịch dự kiến quy hoạch tại phường Phú
Mỹ một khu vực chuyên bán hàng lưu niệm kết hợp với dãy nhà hàng thủy đặc sản.
3. Phân kỳ đầu tư:
3.1- Các chợ bán lẻ:
Giai đoạn 2003 - 2005:
- Nâng cấp xây mới tại chợ Tân Kiểng.
- Quy hoạch tạm chợ tại khu đất trống phường Tân Kiểng (chợ dở dang Tân Quy cũ).
- Xây dựng mới chợ Gò ô Môi (triển khai năm 2003), xây dựng chợ mới phường Tân Quy phục vụ di dời
chợ chiều Tân Kiểng.
- Giải tỏa các nhà dọc bờ sông, xây dựng bờ kè, di dời các ghe thuyền dọc Kinh Đôi quy hoạch thành khu
vực buôn bán mặt hàng tươi sống.
- Chỉnh trang lại chợ Tân Mỹ.
Giai đọan 2006 - 2010:
- Triển khai giai đoạn 2 xây dựng chợ Tân Thuận: giải tỏa xây dựng khu mặt tiền chợ, xây dựng khu nhà
lồng.
- Xây dựng mới chợ Tân Mỹ với quy mô chợ kết hợp nhà ở cao tầng.
3.2- Các chợ đầu mối:
Giai đoạn 2003 - 2005:
Vận động di dời các đơn vị kinh doanh phân bón, lương thực ở Kinh Tẻ dọc Trần Xuân Soạn vào Bến sông
Ông Lớn.
Giai đọan 2005 - 2006:
Hoàn chỉnh chợ đầu mối bán buôn phân bón và bán buôn lương thực tại Cảng sông Ông Lớn.
3.3- Siêu thị, trung tâm thương mại:
Giai đoạn 2005 - 2010:
- Xây dựng siêu thị tại phường Tân Phú trong khu vực Nam Sài Gòn.
- Xây dựng siêu thị kết hợp nhà ở cao tầng tại phường Tân Hưng.
- Trung tâm thương mại tại phường Tân Thuận Đông do Công ty TNHH Nam Long làm chủ đầu tư.
- Trung tâm Thương mại tại phường Phú Mỹ (kết hợp chợ ven sông do Ban Quản lý dự án quận 7 làm chủ
đầu tư).
3.4- Lộ trình ưu tiên sắp xếp di dời chợ tự phát:
Giai đoạn 2003 - 2005:
- Di dời chợ đường Lê Văn Lương, chợ chiều Tân Kiểng vào chợ xây dựng tạm tại khu vực chợ Tân Quy
xây dựng dở dang cũ.
- Di dời các hộ kinh doanh tại Khu chế xuất Tân thuận vào kinh doanh tại khu đất đối diện Khu chế xuất
Tân thuận, giải tỏa chợ Khu chế xuất Tân thuận.
- Di dời các hộ dân đang kinh doanh tại chợ tự phát Gò Ô Môi, các hộ dân kinh doanh dọc Huỳnh Tấn Phát
thuộc phường Tân Phú vào chợ mới xây ở Gò Ô Môi.
-Vận động tiểu thương chợ chiều Tân Kiểng về bán buổi chiều tại chợ Tân Quy.
Giai đọan 2005 - 2010:
- Di dời chợ đầu cầu Phú Xuân vào chợ đầu mối ven sông phường Phú Mỹ.
4. Giải pháp:
4.1- Các giải pháp huy động vốn đầu tư:
Các giải pháp huy động vốn đầu tư xây dựng hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn
quận 7 tập trung khai thác mọi nguồn lực của các tổ chức kinh tế-xã hội trong và ngoài quận. Bên cạnh hình
vốn trước để xây dựng chợ, sau đó trừ vào tiền thuê sạp, tiền bán chuyển quyền sử dụng sạp.
- Nhà nước trực tiếp xây dựng chợ mới và thu lại qua thuế hoặc bán quyền sử dụng sạp.
- Các chợ sửa chữa, nâng cấp theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm.
- Các điểm chợ tự phát di dời, giải tỏa từ nguồn vốn ngân sách.
- Đối với các dự án có vốn đầu tư lớn áp dụng hình thức hợp tác liên doanh liên kết đầu tư với các đơn vị
trong và ngoài nước (Trung tâm thương mại Thế giới – dự án Trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm).
- Đối với dự án có quy mô vừa và nhỏ: kết hợp đầu tư vốn Nhà nước (về hạ tầng kỹ thuật) và vốn các nhà
doanh nghiệp đầu tư để cùng thực hiện như xây dựng chợ mới, nâng cấp, mở rộng chợ.
- Xây dựng quỹ tín dụng ngân hàng để tạo điều kiện, hổ trợ cho dân vay vốn kinh doanh.
3.2- Giải pháp về đất đai:
- Đất dành cho việc phát triển chợ, siêu thị, cần được thể hiện quy hoạch chi tiết của từng phường và quy
hoạch tổng thể của quận, trên cơ sở quận giới thiệu kêu gọi đầu tư.
- Các vùng được quy hoạch phát triển sau khi được duyệt quy hoạch phải công khai hóa quy hoạch và thông
báo rộng rãi cho mọi người biết để tránh thiệt hại cho nhân dân, chủ đầu tư phải đảm bảo các yếu tố có tính
khả thi và chính sách giải tỏa hợp lý phù hợp lòng dân, để việc tổ chức thực hiện thuận lợi hơn.
3.3- Về cơ sở hạ tầng và khai thác sử dụng mặt bằng kinh doanh chợ:
- Các Trung tâm thương mại, chợ, khu du lịch, phải được gắn với qui hoạch cơ sở hạ tầng chung của khu
vực và liên kết với nhau thành một tổng thể thống nhất, có như vậy việc triển khai thực hiện mới thuận lợi
và đạt hiệu quả cao.
- Đối với các chợ mới thực hiện theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003, trong phạm vi chợ có
thể bố trí thêm khu ăn uống, khu vui chơi giải trí, tạo bộ mặt văn minh thương mại và phù hợp với yêu cầu
thương nhân kinh doanh tại chợ.
- Kết hợp chợ với phát triển trung tâm thương mại: tầng trệt kinh doanh các mặt hàng thực phẩm tươi sống,
tầng lầu kinh doanh các mặt hàng sạch, cao cấp và các hoạt động vui chơi giải trí.
3.4- Giải pháp về chính sách, cơ chế quản lý:
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát quản lý thị trường, xử lý kiên quyết các vụ buôn lậu, hàng gian, hàng giả,
hàng mất phẩm chất đến tận phường, khu phố, tổ dân phố. Khen thưởng và xử lý các vi phạm về hoạt động
chợ.
- Tổ chức quản lý chợ theo tinh thần Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003, trong quản lý các chợ
hiện hành từng bước chuyển sang hình thức đấu thầu để lựa chọn đơn vị kinh doanh, khai thác chợ hiệu
quả.
- Cải tiến thủ tục hành chính, thu hút vốn nhàn rỗi trong nhân dân, kêu gọi đầu tư vào quận, giảm tối đa
việc gây phiền hà cho các thành phần kinh tế kinh doanh sản xuất trên địa bàn quận, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp chủ động trong sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp Nhà nước cho
mọi người trong phạm vi chợ.
III QUẬN 3:
Đến năm 2010, quận còn lại 4 chợ, 05 siêu thị, 02 trung tâm thương mại. Trong đó, quận cải tạo nâng cấp
04 chợ hiện hữu, xây dựng 01 siêu thị sách, 02 trung tâm thương mại và giải tỏa 08 chợ tự phát.
1. Định hướng chung về phát triển chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn quận 3:
1.1- Định hướng chung về phát triển chợ từ nay đến năm 2010:
- Nâng cấp, chỉnh trang lại các chợ đã được quy hoạch hiện có cho phù hợp với hoạt động kinh doanh, đáp
ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân.
- Xây dựng mới lại một chợ đảm bảo các quy chuẩn của một chợ văn minh.
- Kiên quyết ngăn chặn và chấm dứt tình trạng phát sinh các tụ điểm buôn bán trái phép chiếm dụng lòng lề
đường, đường hẻm, vỉa hè. Đối với các chợ tự phát tại hẻm phường đang hoạt động giao trách nhiệm Ủy
ban nhân dân phường có kế hoạch chấn chỉnh, sắp xếp tạm thời và từng bước giải tỏa.
- Trong khi chờ nâng cấp lại các chợ và có kế hoạch giải tỏa, các chợ phải đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ
sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy và đạt hiệu quả trong quản lý hoạt động
chợ.
1.2- Định hướng phát triển siêu thị và Trung tâm thương mại:
Từ nay đến năm 2010, đầu tư phát triển một số siêu thị, trung tâm thương mại chuyên ngành, như siêu thị
sách, trung tâm thương mại bán sĩ thuốc tân dược,
2. Định hướng cụ thể:
2.1- Nâng cấp sửa chữa các chợ hiện hữu: Chợ Bàn Cờ, chợ Vườn Chuối, chợ Bùi Phát. chợ Nguyễn Văn
Trỗi xây dựng mới, đảm bảo các quy chuẩn của một chợ văn minh.
2.2- Chấn chỉnh các chợ chưa được quy hoạch:
- Quy hoạch sắp xếp hai chợ tự phát Nguyễn Thông (phường 9), chợ hẻm 287 Nguyễn Đình Chiểu (phường
5) thành chợ cố định.
- Chấn chỉnh chợ đường số 1, Cư xá Đô Thành (phường 4), chợ hẻm 306 Nguyễn Thị Minh Khai (phường
5). Hai chợ này giao cho Ủy ban nhân dân phường có kế hoạch giải tỏa từ nay đến năm 2005.
- Chấn chỉnh chợ chung cư Nguyễn Thiện Thuật (phường 1), Chợ hẻm 430 Cách Mạng Tháng 8 (phường
11). Hai chợ này giao cho Ủy ban nhân dân phường có kế hoạch giải tỏa từ nay đến năm 2010.
- Giải tỏa chợ tự phát hẻm 134 Lý Chính Thắng (phường 7) và chợ tự phát Cống Bà Xếp đường Trần Văn
Đang (phuờng 9) trong năm 2003.
3. Giải pháp:
3.1- Đối với chợ được cải tạo và nâng cấp: Tiểu thương cùng đóng góp chi phí cải tạo nâng cấp chợ, chi phí
đóng góp căn cứ dự toán cải tạo sửa chữa chợ, mức đóng góp tùy theo ngành hàng, vị trí sạp.
3.2- Đối với chợ cải tạo xây dựng mới: Nguồn vốn được Nhà nước bỏ vốn đầu tư 100% hoặc liên doanh,
sau đó thu hồi từ nguồn chuyển nhượng quyền sử dụng sạp chợ.
3.3- Đối với chợ chưa được quy hoạch, chợ tự phát:
- Trước mắt, tập trung quản lý, không cho phát sinh thêm, có quy hoạch địa điểm để sắp xếp nơi mua bán,
việc hoạt động mua bán phải đảm bảo an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh
môi trường môi sinh tại khu vực; sau đó tiến hành giải tỏa theo kế hoạch.
- Ủy ban nhân dân phường có kế hoạch buộc hộ kinh doanh có địa điểm trong nhà không lấn chiếm thêm
lòng lề đường để bày hàng hóa. Đối với các hộ vãng lai từ nơi khác đến, vận động về địa phương để kinh
doanh.
3.4- Đối với các siêu thị và Trung tâm thương mại: Sau khi quận đã có đề án quy hoạch sẽ tổ chức giới
thiệu thông tin mời gọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư với hình thức liên
doanh, liên kết.
3.5- Giải pháp về quản lý:
- Đối với các hộ kinh doanh có quyền sử dụng sạp nhưng không kinh doanh, quá thời hạn 01 tháng, nếu chủ
hộ kinh doanh không kinh doanh thì Ban quản lý sẽ thu hồi để bố trí cho tiểu thương khác.
- Đối với các đơn vị doanh nghiệp Nhà nước, Hợp tác xã thương mại dịch vụ được bố trí các điểm kinh
doanh trong chợ mà không tự kinh doanh, hoặc kinh doanh không có hiệu quả, Ban quản lý chợ đề xuất thu
hồi và bố trí lại cho người có nhu cầu cần địa điểm kinh doanh.
- Xây dựng mô hình Hợp tác xã thương mại dịch vụ chợ thay cho vai trò, chức năng nhiệm vụ của Ban
quản lý chợ. 2003- 2004, xây dựng thí điểm tại 1 chợ mô hình Hợp tác xã Dịch vụ chợ thay cho vai trò,
chức năng nhiệm vụ của Ban quản lý chợ. Năm 2005 sẽ nhân rộng mô hình ra các chợ còn lại.
IV QUẬN 4:
Đến năm 2010, quận 4 có 04 chợ, 01 siêu thị, 03 trung tâm thương mại, không còn chợ tự phát. Trong đó
nâng cấp 01 chợ, xây mới 03 chợ - 01 siêu thị - 02 trung tâm thương mại, giải tỏa trắng 07 chợ.
1. Định hướng phát triển mạng lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại:
1.1- Xây dựng chợ mới:
Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm xây dựng mới 03 chợ:
- Chợ phường 1: xây dựng tại giao điểm đường Bến Vân Đồn và Nguyễn Khoái, diện tích: 1200m
2
, số
lượng điểm kinh doanh: 204 điểm, xây dựng vào năm 2006.
- Chợ phường 3: xây dựng tại dãy nhà kho 193-196 Tôn Thất Thuyết phường 3, diện tích 4.500m
2
, số
lượng quày sạp : 900, xây dựng vào năm 2005.
- Chợ phường 18: xây dựng tại giao điểm đường Đoàn Văn Bơ và Nguyễn Thần Hiến, diện tích: 2.000m
2
,
số lượng điểm kinh doanh: 400 điểm, xây dựng vào 2008.
1.2- Chợ cải tạo, nâng cấp: chợ Xóm Chiếu (phường 12) với tổng kinh phí là 500.000.000 đồng.
1.3- Định hướng phát triển siêu thị, trung tâm thương mại:
Đến năm 2010, xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại sau:
- Khu siêu thị Dịch vụ thương mại Hoàng Diệu: vị trí chung cư lô H2, đường Hoàng Diệu phường 8, diện
tích 6.000m
2
. Nguồn vốn của Công ty Dịch vụ công ích quận, thời gian khởi công xây dựng năm 2005.
- Khu Dịch vụ thương mại Khánh Hội: vị trí chung cư lô B6, đường Khánh Hội phường 4, diện tích
4.000m
2
. Vốn của Công ty Dịch vụ công ích quận, thời gian khởi công xây dựng năm 2004.
- Khu Dịch vụ thương mại phường 1: vị trí số 1 Tôn Thất Thuyết, với diện tích 3.000m
2
, giai đoạn thực
hiện năm 2004.
- Khu Dịch vụ thương mại phường 2 - phường 5: vị trí chung cư lô N2, đường Hoàng Diệu, với diện tích
2.000m
2
, giai đoạn thực hiện năm 2006
- Công trình Dịch vụ-Thương mại phường 2 - phường 5: thực hiện vào thời gian năm 2006, nguồn vốn đầu
tư do Công ty Dịch vụ Công ích quận.
2. Giải pháp:
2.1- Vốn đầu tư cho xây dựng chợ:
- Xây dựng chợ mới bằng100% nguồn ngân sách của quận, sau đó có thể thu hồi từ nguồn chuyển nhượng
quyền sử dụng sạp (trong thời hạn 10 năm).
- Nhà nước bỏ vốn 100% xây dựng chợ, tiểu thương ký hợp đồng thuê sạp có thời hạn (3-5 năm). Giá thuê
quầy, sạp, kiot xác định tùy theo diện tích, địa thế, ngành hàng kinh doanh.
- Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm’’, trong đó tiểu thương đóng góp chi phí xây
dựng chợ và nhận được quyền sử dụng sạp chợ trong thời hạn 10 năm, Nhà nước đóng góp bằng quyền sử
dụng đất, cơ sở hạ tầng hiện đại.
2.2- Giải pháp vốn đầu tư cho phát triển khu Siêu thị, Trung tâm thương mại dịch vụ:
- Huy động vốn bằng phương thức liên doanh, liên kết, xã hội hóa đầu tư.
- Quận ký kết hợp đồng giao đất, cho đơn vị bỏ vốn đầu tư 100%, sau đó đưa vào khai thác với thời gian
theo hợp đồng (20-30 năm). Hàng năm, đơn vị kinh doanh đóng tiền sử dụng đất, tiền thuê mặt bằng. Hết
hạn hợp đồng, cơ sở vật chất được giao lại cho quận.
2.3- Giải pháp về quản lý:
Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các ngành chức năng trong việc kiểm tra tình hình thực hiện các quy định
hiện hành về an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh môi trường và vệ sinh thực
phẩm.
2.4- Giải pháp phát triển đồng bộ giữa hệ thống chợ và các hệ thống thương nghiệp khác:
- Trên cơ sở qui hoạch tổng thể mặt bằng quận 4 đến năm 2010, trong quá trình sắp xếp lại từng cụm dân
cư giai đoạn từ nay đến năm 2005, xây dựng thêm 3 chợ mới, đồng thời xây dựng 4 khu Thương mại - Dịch
vụ mới theo kế hoạch.
- Về lâu dài trong quá trình chỉnh trang đô thị đến năm 2010, tiếp tục nghiên cứu xây dựng thêm một số chợ
và hệ thống siêu thị, Trung tâm Thương mại - Dịch vụ tại các chung cư, nhà cao tầng theo quy hoạch, từ đó
sẽ tạo được sự phát triển đồng bộ giữa hệ thống chợ và các hệ thống thương nghiệp khác trên địa bàn.
V QUẬN 5:
Đến năm 2010 quận 5 có 11 chợ, 14 trung tâm thương mại-siêu thị. Từ nay đến năm 2010 di dời 05 chợ,
nâng cấp sửa chữa 04 chợ và giải tỏa 05 chợ tự phát.
1. Định hướng chung phát triển chợ, siêu thị, trung tâm thương mại:
- Các chợ kinh doanh những ngành hàng có tính chất gây ô nhiễm môi sinh môi trường nặng nề không phù
hợp với hoạt động nội thị kết hợp với định hướng chung của thành phố, di dời ra ngoại thành.
- Xây dựng, phát triển mạng lưới cửa hàng kinh doanh thực phẩm tươi sống, chế biến, thực phẩm công
nghệ gắn liền với các khu vực dân cư.
- Tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ để hình thành và phát triển các loại hình siêu thị (trung bình và nhỏ), cửa
hàng tự chọn, đảm bảo các yêu cầu về kinh doanh hàng hóa đúng phẩm chất, an toàn thực phẩm, văn
minh thương nghiệp.
- Nghiên cứu phát triển các loại chợ đêm, các chợ chuyên doanh mang tính truyền thống phù hợp với đặc
điểm của quận, đồng thời đảm bảo các quy định hiện hành về an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng
cháy, chữa cháy, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường,…
- Hạn chế dần hoạt động họp chợ, tụ điểm mua bán phát sinh trái phép trên lòng lề đường, đến năm 2010
giải quyết dứt điểm các chợ tự phát lấn chiếm lòng lề đường trên địa bàn quận.
2. Định hướng cụ thể:
2.1- Định hướng về nâng cấp, sửa chữa chợ hiện hữu: Chợ Vật liệu Xây dựng (phường 13), Thương xá
Đồng Khánh (phường 14), Chợ Vật tư, (phường 10), Chợ Hòa Bình (phường 5).
2.2- Định hướng tổ chức sắp xếp lại các chợ hiện hữu:
2.2.1- Các chợ đầu mối:
- Thương xá Đồng Khánh (phường 14): củng cố, phát triển theo hướng chuyên ngành vải sợi phụ liệu trên
cơ sở xây dựng mới khu liên hợp Soái Kình Lâm.
- Chợ Kim Biên (phường 13) quy hoạch theo 2 hướng: (1) Phối hợp với Công ty Phương Đông sử dụng mặt
bằng của đơn vị, xây dựng mới Trung tâm thương mại Kim Biên, để di dời sắp xếp ổn định và phát triển
hoạt động chợ Kim Biên, phục hồi công năng công viên cây xanh trước đây. (2) Trường hợp có vướng mắc
khách quan sẽ cải tạo, xây dựng lại chợ trên cơ sở mặt bằng hiện hữu để đảm bảo các phương tiện, điều
kiện trật tự mỹ quan thông thoáng, phục vụ tái sắp xếp để phát triển tiềm năng kinh doanh của chợ.
- Chợ Vật Tư (phường 10): thực hiện chương trình chỉnh trang đô thị sẽ xây dựng lại chung cư “Đỗ Văn
Sửu” đã xuống cấp, quy hoạch lại mặt bằng kinh doanh ở tầng trệt cho hợp lý và khoa học hơn, tạo điều
kiện tái bố trí phát triển kinh doanh ngành hàng vật tư thiết bị phụ tùng công nghiệp, nông nghiệp.
- Chợ Vật liệu Xây dựng (phường 13): cải tạo, xây dựng lại, phát triển hình thành chợ chuyên ngành vật
liệu, trang trí nội thất cao cấp, showroom hạn chế dần hoạt động kinh doanh cây, ván trong chợ.
- Chợ Thủy Hải sản khô (phường 10): chuyển hoạt động ra các chợ đầu mối ngoại thành theo định hướng
quy hoạch chung của thành phố.
- Chợ Hòa Bình (phường 5): chuyển phần hoạt động bán buôn thủy hải sản ban đêm ra các chợ đầu mối
ngoại thành theo định hướng chung của thành phố, chỉnh trang nâng cấp lại cơ sở hạ tầng cho phù hợp điều
kiện tiện nghi kinh doanh văn minh thương mại, từng bước hình thành một khu vực chuyên doanh bán lẻ
thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến, bách hóa, công nghệ phẩm.
- Chợ Tân Thành (phường 15, 12) quy hoạch phát triển theo 2 hướng sau: (1) giai đoạn từ nay đến năm
2005 chuyển dần hoạt động kinh doanh chiếm dụng lòng lề đường hiện hữu vào kinh doanh trong các nhà
dân theo đường phố lân cận. (2) Về lâu dài thành phố sẽ xem xét hỗ trợ mặt bằng theo đề xuất của quận để
quận quy hoạch xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng trong sắp xếp kinh doanh chuyên ngành phụ tùng xe
máy, thiết bị máy nổ các loại tại đây.
- Chợ Trần Chánh Chiếu (phường 14): giải tỏa đối với ngành hàng bán buôn nông sản thực phẩm, gà, vịt
sống trên lòng lề đường di dời ra các chợ đầu mối nông sản thực phẩm ngoại thành theo quy hoạch chung
của thành phố.
- Chợ sắt Hà Tôn Quyền (phường 15): quy hoạch theo 2 hướng (1) vận động, định hướng chuyển dần hoạt
động kinh doanh vào trong nhà dân khu vực tiếp cận, hạn chế dần hoạt động kinh doanh, gia công thép tấm
không đảm bảo điều kiện an toàn lưu thông và môi sinh môi trường. (2) Kết hợp sắp xếp cùng chợ Tân
Thành sử dụng mặt bằng kho bia Tân Thành hoặc Thủy đài 79 Đỗ Ngọc Thạnh.
2.2.2- Các chợ kinh doanh thực phẩm tươi sống:
Bao gồm các chợ Phùng Hưng, Xã Tây, Bàu Sen, Hà Tôn Quyền, Cao Đạt, Nguyễn Thời Trung, sẽ thu hẹp
hoạt động không cho phát sinh mới, định hướng vận động tiểu thương tự giác chuyển dần vào hoạt động
trong nhà ở các khu vực lân cận, đảm bảo tốt các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Song song đó sẽ tạo
mọi điều kiện thuận lợi, phát triển mạnh hoạt động các tiểu khu thương mại sâu rộng trong khu vực dân cư,
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của nhân dân tại chỗ, giảm dần nhu cầu tập trung mua sắm tại các
chợ trên lòng lề đường.
2.2.3- Đối với các chợ, tụ điểm tự phát ngoài quy hoạch:
Kiên quyết từng bước giải tỏa trắng trước năm 2005, không để phát sinh chợ tạm trái phép dưới bất kỳ hình
thức nào, gồm các chợ hẻm 402 An Dương Vương (phường 4), hẻm 565 Nguyễn Trãi (phường 7), lề đường
Phan Văn Trị - Huỳnh Mẫn Đạt (phường 2), hẻm 89 Phùng Hưng (phường 13), lề đường Yết Kiêu (phường
9), Đối với các hoạt động tụ tập mua bán lấn chiếm lòng lề đường ở các khu vực đầu chợ và phụ cận,
thường xuyên tăng cường giải tỏa chốt giữ không để tái lập làm ảnh hưởng đến trật tự mỹ quan đô thị.
2.3- Định hướng phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại:
2.3.1- Phát triển mới:
- Trung tâm liên hợp gia cư thương mại An Đông 2 Plaza tại 16 An Dương Vương phường 9, diện tích
khuôn viên 6.000 m
2
, dự kiến kinh phí 218 tỷ từ nguồn vốn liên doanh.
- Trung tâm giao dịch thương mại 01 Lý Thường Kiệt phường 12, diện tích khuôn viên 15.162 m
2
, dự kiến
kinh phí 604 tỷ từ nguồn vốn liên doanh.
- Chung cư kết hợp trung tâm thương mại Lakai (phường 7), diện tích khuôn viên 1.675m
2
, dự kiến kinh
phí 49,8 tỷ từ nguồn vốn vay ngân hàng.
- Trung tâm liên hợp gia cư thương mại Soái Kình Lâm (phường 14), diện tích khuôn viên 4.800 m
2
, dự
kiến kinh phí 250 tỷ từ nguồn vốn liên doanh.
- Trung tâm Thương mại - Dịch vụ Trần Phú (khu vực mũi tàu - phường 7), diện tích khuôn viên 2.200 m
2
.
- Khu gia cư thương mại 402 Hàm Tử (phường 5), diện tích khuôn viên 4.800 m
2
.
- Khu Trung tâm thương mại 631 - 633 Nguyễn Trãi (phường 11).
- Khu liên hợp gia cư - thương mại - giải trí tại 107-107Bis Trần Hưng Đạo (phường 6).
- Những tiểu khu thương mại trong các cụm dân cư chỉnh trang đô thị tại 155 Nguyễn Chí Thanh (phường
12), Lô B chung cư Phan Văn Trị (phường 2), chung cư Chợ Quán góc Hàm Tử - Huỳnh Mẫn Đạt, chung
cư 119 Cao Đạt (phường 1), điểm dân cư phường 5, 7, 12, 13, 15
- Trung tâm thương mại - siêu thị, cao ốc văn phòng tại Nhà máy thuốc lá Sàigòn (phường 4).
- Cao ốc văn phòng dịch vụ tài chính tại 1015 Trần Hưng Đạo (phường 5).
- Chợ đá mới, siêu thị kết hợp trong Trung tâm liên hợp gia cư, thương mại 402 Hàm Tử (phường 5).
- Trung tâm phần mềm tin học, kỹ thuật cao, kết hợp trong dự án xây dựng Trường Công nghệ Kỹ thuật tại
100 Hùng Vương (phường 9).
- Chợ Vật liệu Xây dựng, trang trí nội thất cao cấp, kết hợp trung tâm thương mại tại khu vực góc Tản Đà -
Hàm Tử, Hải Thượng Lãn ông (phường 10).
- Siêu thị Đông dược tại khu nhà cổ đường Hải Thượng Lãn ông (phường 10).
- Trung tâm tài chính, chứng khoán tại 203 Phùng Hưng (phường 14).
- Trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng 922 Nguyễn Trãi (phường 14).
3. Phân kỳ thực hiện:
3.1- Giai đoạn 1: (từ năm 2000 đến 2005).
- Giải tỏa hoạt động chợ Thủy Hải sản khô (Cảng 2), chợ cá bán buôn Hòa Bình, chợ bán buôn nông sản
thực phẩm, gà vịt sống Trần Chánh Chiếu ra các chợ đầu mối ngoại thành theo kế hoạch của thành phố.
- Xây dựng mới tại địa điểm 96 Hùng Vương, tái bố trí sắp xếp và phát triển hoạt động chợ thực phẩm khu
vực Bắc An Đông được ổn định lâu dài.
- Xây dựng mới khu Trung tâm thương mại Kim Biên trên cơ sở mặt bằng của Công ty Phương Đông, để
tái bố trí, phát triển và ổn định lâu dài hoạt động chợ Kim Biên.
- Lập dự án nghiên cứu cải tạo lại chợ Vật liệu Xây dựng (phường 13) phát triển hoạt động chuyên ngành
vật liệu xây dựng, trang trí nội thất cao cấp, showroom trưng bày sản phẩm.
- Từng bước chuyển hóa dần hoạt động kinh doanh của chợ Tân Thành vào các mặt bằng ổn định, vào nhà
dân. Phối hợp với Công ty cấp nước sử dụng mặt bằng của Thủy đài 79 Đỗ Ngọc Thạnh sắp xếp ổn định
hoạt động kinh doanh của một số tiểu thương chợ Tân Thành.
- Xây dựng khu liên hợp gia cư thương mại tại góc Tản Đà - Hàm Tử -Hải Thượng Lãn ông (phường 10),
tổ chức sắp xếp phát triển hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng, trang trí nội thất cao cấp.
- Xây dựng chung cư tại 402 Hàm Tử (phường 5) sử dụng tầng trệt thành lập Trung tâm thương mại, siêu
thị (sẽ chuyển hoạt động chợ đá mới vào trung tâm này).
- Lập dự án tiến hành xây dựng khu thương mại - dịch vụ phục vụ công cộng tại mũi tàu Trần Phú (phường
7).
- Xây dựng hoàn chỉnh công trình liên hợp thương mại dân dụng 01 Lý Thường Kiệt (phường 12) phát triển
hoạt động tân dược, bách hóa công nghệ phẩm.
- Xây dựng mới khu vực 107 Trần Hưng Đạo B (phường 6) tổ chức hoạt động Siêu thị, dịch vụ giải trí.
- Xây dựng mới khu liên hợp gia cư thương mại Soái Kình Lâm (phường 14) kết hợp với các trung tâm
hiện hữu tại đây hình thành khu vực kinh doanh chuyên ngành vải sợi, phụ liệu, Đông y.
- Xây dựng khu Trung tâm thương mại bách hóa công nghệ phẩm Lakai tại Nguyễn Tri Phương (phường
7).
- Xây dựng Trung tâm tin học phần mềm và Trường Công nghệ kỹ thuật cao tại 100 Hùng Vương (phường
9).
- Phối hợp với Nhà máy thuốc lá Sài gòn (sau khi thực hiện chủ trương di dời hoạt động sản xuất tại đây)
sử dụng mặt bằng để cải tạo, xây dựng Siêu thị hoặc trung tâm thương mại.
- Trong thời gian này, tiếp tục đẩy mạnh chương trình hình thành, phát triển các tiểu khu thương mại phục
vụ trong khu vực dân cư, gắn với việc xây dựng mới các cụm chung cư: Lô B Phan Văn Trị (phường 2),
chung cư Ngô Quyền, 155 Nguyễn Chí Thanh (phường 9), 157 Nguyễn Chí Thanh (phường 12), khu dân
cư Võ Trường Toản (phường15).
3.2- Giai đoạn 2: Từ năm 2006 đến 2010 tiếp tục thực hiện những vấn đề còn tồn tại ở giai đoạn 1, đồng
thời tập trung xem xét triển khai thực hiện định hướng quy hoạch phát triển đối với các chợ còn lại.
4. Các giải pháp:
4.1- Về nguồn vốn đầu tư:
- Đối với các chợ và trung tâm xây dựng, chỉnh trang, nâng cấp: Sử dụng nguồn vốn từ ngân sách, việc thu
hồi vốn thông qua hình thức thuê sử dụng quày sạp dài hạn hoặc ngắn hạn, với những chính sách hỗ trợ cụ
thể tạo điều kiện cho các tiểu thương an tâm ổn định kinh doanh lâu dài.
- Đối với những công trình liên hợp thương mại xây dựng mới: Sử dụng phương thức liên doanh, liên kết
với các đối tác đầu tư, có sự tham gia định hướng của Nhà nước trong việc hình thành phát triển các loại
hình siêu thị, trung tâm thương mại theo quy hoạch chung.
- Đối với mặt bằng do những đơn vị sản xuất, kinh doanh ngoài quận quản lý: Nếu có mặt bằng chưa sử
dụng đúng công năng hoặc có hướng chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh ra ngoại thành, quận 5 sẽ liên
doanh, liên kết đầu tư hoặc hỗ trợ, tạo điều kiện chuyển hóa loại hình hoạt động phù hợp tại các mặt bằng
nêu trên để đảm bảo sự phát triển hài hòa trong định hướng phát triển thương mại - dịch vụ trên địa bàn.
4.2- Về quản lý hành chính Nhà nước:
- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ, chuyên môn để nâng cao năng lực quản lý cho các Ban
quản lý chợ và Trung tâm để đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng đòi hỏi cao hơn.
- Tăng cường hoạt động Đội trật tự đô thị của quận và các phường nhằm phát huy hiệu lực quản lý Nhà
nước, bảo đảm trật tự mỹ quan đô thị, xóa trắng tình trạng tụ tập mua bán trái phép trên lòng lề đường, hẻm
phục vụ tích cực cho công tác quy hoạch đô thị trên địa bàn.
- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các ngành trong việc tổ chức sắp xếp ngành hàng kinh doanh tại các khu
vực phụ cận ngoài các Trung tâm và các trung tâm.
4.3- Biện pháp tổ chức thực hiện:
- Dự án được thực hiện từng bước, trong đó đẩy mạnh công tác vận động tuyên truyền, thuyết phục cho
nhân dân và tiểu thương thông hiểu đồng tình tự giác tham gia thực hiện, tránh xáo trộn, ảnh hưởng tâm lý
kinh doanh của tiểu thương, triệt tiêu động lực phát triển kinh doanh trên địa bàn.
- Việc thực hiện các biện pháp giải tỏa, di dời phải căn cứ đến điều kiện khả thi về địa điểm mới phù hợp,
thuận lợi.
- Hạn chế triệt để, không cho phát sinh mới các hộ kinh doanh tại chợ lòng lề đường, từng bước thu hẹp dần
qui mô, số lượng tiểu thương kinh doanh phục vụ thuận lợi cho công tác quy hoạch sắp xếp trong hướng
tới.
VI QUẬN 6:
Đến năm 2010 quận 6 có 8 chợ, 04 siêu thị, 04 trung tâm thương mại; trong đó xây dựng mới 01 chợ - 01
trung tâm thương mại, di dời 02 chợ, nâng cấp sửa chữa 03 chợ, chuyển công năng 03 chợ thành siêu thị -
trung tâm thương mại, giải tỏa 01 chợ tự phát.
1. Định hướng chợ cải tạo nâng cấp và xây dựng mới:
1.1- Chợ Minh Phụng:
Xây dựng mới Chợ Minh Phụng với diện tích 2.412,75 m
2
chia thành 440 sạp với tổng mức vốn đầu tư 3 tỷ
đồng bằng nguồn vốn kêu gọi đầu tư trong nước.
1.2- Chợ Gia Phú:
Xây dựng thành Trung tâm Thương mại và nhà ở, tầng trệt thiết kế thành cửa hàng siêu thị, tầng lầu bố trí
nhà ở với tổng vốn đầu tư 50.000 triệu đồng. Dự kiến xây dựng trong giai đoạn 2003 - 2005 bằng nguồn
vốn kêu gọi đầu tư.
1.3- Thương xá Châu Hải Thành:
Cải tạo thành thương xá có thể mở rộng thêm tầng lầu để bố trí kinh doanh và phần trên vẫn bố trí nhà ở
với tổng vốn đầu tư 50 tỷ đồng bằng nguồn vốn kêu gọi đầu tư trong giai đoạn 2003 - 2005.
1.4- Trung tâm Thương mại-Dịch vụ 132 A Chu Văn An - Sân Cá 50:
Dời Sân cá 50 về Chợ đầu mối Nông thủy hải sản của thành phố sử dụng diện tích sân cá 50 và mặt bằng
132A Chu văn An xây dựng thành Thương xá có thể sử dụng vào 02 mục đích: (1) Phục vụ cho di dời Trần
Bình-Lê Tấn Kế về hình thành chợ đầu mối kinh doanh thủy hải sản khô, thực phẩm chế biến. (2) Trung
tâm kinh doanh thương mại tổng hợp. Vốn đầu tư là 50 tỷ đồng thực hiện trong giai đoạn 2003 - 2005.
1.5- Xây dựng mới chợ phường 11, quận 6 theo dự án 415:
Xây dựng chợ tại phường 11, quận 6 với diện tích xây dựng: 1.539 m
2
bằng nguồn vốn đối ứng giữa Việt
Nam và Dự án 415. Tổng nguồn vốn là 2,5 tỷ đồng. Khởi công xây dựng trong năm 2003.
2. Chỉnh trang, nâng cấp, sửa chữa:
2.1- Chợ Bình Tây: Sửa chữa với kinh phí 1.500 triệu đồng bằng nguồn vốn ngân sách thực hiện trong giai
đoạn 2002 - 2005. Thực hiện giải tỏa khu vực Trần Bình - Lê Tấn Kế về Trung tâm Thương mại dịch vụ
132A Chu Văn An - Sân cá 50, chỉnh trang lại khu vực Phan Văn Khoẻ thuộc chợ Bình Tây quản lý.
2.2- Đối với các chợ Phú Định - Tân Hòa Đông: tận dụng diện tích nhà lồng để xây dựng thành Cửa hàng
hoặc Siêu thị nhỏ chủ yếu kinh doanh hàng thực phẩm tươi sống - rau quả củ, chấm dứt tình trạng sử dụng
các hẻm trong khu vực phụ cận để làm chợ kinh doanh. Dự kiến tổng kinh phí khoảng 4 tỷ đồng thực hiện
trong giai đoạn 2006-2010.
2.3- Chợ Phạm Văn Chí phường 8: giải tỏa, đồng thời vận động nhân dân, các đơn vị kinh tế xây dựng cửa
hàng tự chọn hoặc siêu thị quy mô nhỏ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của dân cư.
3. Chợ giải tỏa di dời: Chợ Sân cá 50, Chợ Rau Mai Xuân Thưởng, Chợ Lê Quang Sung Phường 9.
4. Phân kỳ đầu tư:
- Từ nay đến năm 2005 sẽ ưu tiên đầu tư cho các công trình xây dựng chợ Minh Phụng, giải tỏa di dời hoặc
sửa chữa khu Trần Bình - Lê Tấn Kế chợ Bình Tây, xây dựng cải tạo khu Thương xá Châu Hải Thành,
Thương xá 132A Chu Văn An – Sân Cá 50, chỉnh trang sửa chữa chợ Bình Tây.
- Các công trình còn lại sẽ đầu tư vào giai đoạn 2005 - 2010.
5. Giải pháp:
5.1- Giải pháp huy động vốn đầu tư:
- Tăng cường công tác tiếp xúc với các doanh nghiệp giới thiệu các dự án đầu tư để các doanh nghiệp xem
xét lựa chọn đầu tư thông qua hình thức đấu thầu hoặc chỉ định thầu.
- Cân đối nguồn ngân sách theo kế hoạch hàng năm để đầu tư vào các công trình sử dụng nguồn ngân sách
của quận một cách hợp lý theo lộ trình thứ tự ưu tiên.
- Kêu gọi các Doanh nghiệp có khả năng ra đầu tư tham gia đầu tư kinh doanh chợ.
- Tiếp tục cải tiến thủ tục hành chính để thu hút đầu tư trong nhân dân, giảm tối đa các thủ tục tạo điều kiện
thuận lợi cho các Doanh nghiệp đầu tư cũng như các hộ kinh doanh trong các chợ.
- Xây dựng quỹ tín dụng, ngân hàng tạo điều kiện hỗ trợ cho các hộ kinh doanh phát triển.
5.2- Về chính sách cơ chế quản lý:
- Các tuyến đường sau khi đã di dời giải tỏa chợ rau Mai Xuân Thưởng ra các chợ đầu mối theo quy hoạch
của thành phố, sẽ không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các ngành hàng Nông sản thực
phẩm – Trái cây. Cụ thể trên các tuyến đường sau: Mai Xuân Thưởng, Trần Trung Lập, Cao Văn Lầu, Phan
Văn Khỏe, Bãi Sậy, Phạm Đình Hổ, Hậu Giang, Lê Quang Sung, Nguyễn Xuân Phụng, Lê Tấn Kế, Trần
Bình, Chu Văn An.
- Sớm hình thành các Đội phòng cháy, chữa cháy ở các chợ chưa có lực lượng. Bố trí, sắp xếp kinh doanh
có khoa học, hợp lý, tạo sự thông thoáng khi có sự cố và phục vụ tốt cho công tác phòng cháy, chữa cháy.
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử lý kiên quyết các trường hợp kinh doanh hàng gian, hàng giả, đảm
bảo tốt công tác an ninh, trật tự, thường xuyên kiểm tra, xử lý vấn đề vệ sinh thực phẩm và vệ sinh môi
trường.
- Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết 02
của Chính phủ sẽ tổ chức thí điểm thành lập mô hình Công ty hoặc Hợp tác xã quản lý chợ.
- Xã hội hóa trong công tác quản lý Nhà nước đối với công tác quản lý chợ thông qua công tác tổ chức đấu
thầu khai thác nguồn thu tại chợ dưới hình thức thành lập công ty hoặc Hợp tác xã quản lý chợ.
- Từng bước chấn chỉnh chợ tự phát từ nay đến năm 2010 chấm dứt việc kinh doanh lấn chiếm lòng lề
đường trong khu vực quanh chợ.
VII QUẬN 7:
Đến năm 2010, quận 7 có 10 chợ, 02 siêu thị và 02 trung tâm thương mại; trong đó xây dựng mới 05 chợ -
02 siêu thị - 02 trung tâm thương mại, nâng cấp sửa chữa 03 chợ, giải tỏa 06 chợ tự phát.
1. Định hướng phát triển mạng lưới chợ, siêu thị:
1.1- Định hướng xây dựng chợ mới:
- Xây dựng thêm hai chợ mới kiên cố ở phường Phú Thuận và phường Phú Mỹ.
- Xây dựng chợ tạm bán kiên cố tại khu đất trống phường Tân Kiểng (chợ dở dang Tân Quy cũ) nờn tập
trung di dời các tiểu thương đang kinh doanh tại chợ tự phát đường Lê Văn Lương (Kho 30/4), chợ chiều
Tân Kiểng vào khu vực này.
- Xây dựng chợ đường Gò Ô Môi: do Công ty TNHH Tân Thuận Nam làm chủ đầu tư với diện tích 2.000
m
2
. Đồng thời di dời chợ tự phát Gò Ô Môi và một số hộ kinh doanh tự phát dọc tuyến đường Huỳnh Tấn
Phát vào khu vực chợ này.
- Xây dựng chợ ven sông Phú Xuân (đường Phạm Hữu Lầu, phường Phú Mỹ) với diện tích dự kiến
1.000m
2
. Đây là chợ đầu mối cung cấp thực phẩm cho khu vực dân cư Nam Sài Gòn, đồng thời di dời chợ
tự phát đầu cầu Phú Xuân vào khu vực chợ này.
1.2- Định hướng nâng cấp, sửa chữa các chợ hiện hữu:
Chỉnh trang nâng cấp 3 chợ gồm chợ Tân Mỹ, chợ Tân Kiểng, một phần chợ Tân Thuận Đông. Giai đoạn
2006 - 2010 xây mới chợ Tân Thuận Đông và chợ Tân Mỹ nhằm đáp ứng nhu cầu dân cư ngày càng đông
trên địa bàn. Nghiên cứu kết hợp giữa chợ và trung tâm thương mại khi xây dựng mới hai chợ này.
2. Xây dựng các Trung tâm Thương mại, Siêu thị, các khu vực kinh doanh chuyên ngành:
Theo quy hoạch dài hạn quận 7 sẽ hình thành 5 trung tâm thương mại, siêu thị. Cụ thể:
- Trung tâm 1: Phường Tân thuận Tây;
- Trung tâm 2: Phường Tân Quy;
- Trung tâm 3: Phường Tân Phong;
- Trung tâm 4: Phường Tân Phú;
- Trung tâm 5: Phường Phú Mỹ.
Trước mắt, giai đoạn 2006 - 2010 phát triển 2 siêu thị và 2 trung tâm thương mại. Cụ thể:
2.1- Hệ thống Siêu thị - Trung tâm thương mại tại khu đô thị Nam Sài Gòn:
- Dự án Siêu thị Sài Gòn Coop: địa điểm tại lô H6-2-3, khu A, phường Tân Phong, tổng diện tích đất
4.647m
2
, bãi xe 1.289m
2
, quảng trường cây xanh 607m
2
, đang triển khai thi công.
- Dự án Siêu thị Coop Mart của Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại thành phố Hồ Chí Minh, địa điểm tại
phường Tân Phong, tổng diện tích đất 4,26 ha. Dự kiến năm 2004 bắt đầu triển khai xây dựng.
- Dự án trung tâm thương mại, trưng bày sản phẩm thuộc dự án Khu dân cư Kim Sơn.
- Dự án khu thương nghiệp-dịch vụ thuộc dự án Khu dân cư ven sông do Công ty Đầu tư và xây dựng Tân
Thuận làm chủ đầu tư.
2.2- Siêu thị tại khu vực nghĩa địa bà Thánh Ana:
Vị trí thuận tiện nằm giữa hai tuyến giao thông chính: đường Lê Văn Lương và đường Bắc Nam, siêu thị tại
khu vực này có bán kính phục vụ đáp ứng cho cụm dân cư khu Cư xá Ngân hàng - phường Tân Quy -
phường Tân Kiểng - phường Tân Hưng.
2.3- Trung tâm thương mại kết hợp với chợ ven sông phường Phú Mỹ:
Khi các tuyến đường Liên tỉnh 15B, Bình Thung được hình thành, Trung tâm Thương mại này kết hợp vơi
chợ đầu mối ven sông sẽ cung cấp thực phẩm tươi sống cho dân cư thuộc khu Phú Mỹ Hưng và các khu
vực trong các dự án tái định cư của quận và thành phố tại phường Phú Mỹ.
2.4- Trung tâm thương mại ở phường Tân Thuận Đông: nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm cho dân cư tại khu
công nghiệp sạch và nhà ở, phần lớn tập trung phục vụ cho khu vực dân cư phường Bình Thuận-Khu chế
xuất Tân Thuận.
2.5- Bên cạnh các siêu thị, trung tâm thương mại, trong giai đoạn 2006-2010 tập trung phát triển chợ đầu
mối phân bón và hệ thống kho bãi phục vụ chợ đầu mối gạo tại khu vực Cảng Sông Ông Lớn. Mặt khác, để
phục vụ nhu cầu mua sắm và giải trí cho khách du lịch tại Cảng Du lịch dự kiến quy hoạch tại phường Phú
Mỹ một khu vực chuyên bán hàng lưu niệm kết hợp với dãy nhà hàng thủy đặc sản.
3. Phân kỳ đầu tư:
3.1- Các chợ bán lẻ:
Giai đoạn 2003 - 2005:
- Nâng cấp xây mới tại chợ Tân Kiểng.
- Quy hoạch tạm chợ tại khu đất trống phường Tân Kiểng (chợ dở dang Tân Quy cũ).
- Xây dựng mới chợ Gò ô Môi (triển khai năm 2003), xây dựng chợ mới phường Tân Quy phục vụ di dời
chợ chiều Tân Kiểng.
- Giải tỏa các nhà dọc bờ sông, xây dựng bờ kè, di dời các ghe thuyền dọc Kinh Đôi quy hoạch thành khu
vực buôn bán mặt hàng tươi sống.
- Chỉnh trang lại chợ Tân Mỹ.
Giai đọan 2006 - 2010:
- Triển khai giai đoạn 2 xây dựng chợ Tân Thuận: giải tỏa xây dựng khu mặt tiền chợ, xây dựng khu nhà
lồng.
- Xây dựng mới chợ Tân Mỹ với quy mô chợ kết hợp nhà ở cao tầng.
3.2- Các chợ đầu mối:
Giai đoạn 2003 - 2005:
Vận động di dời các đơn vị kinh doanh phân bón, lương thực ở Kinh Tẻ dọc Trần Xuân Soạn vào Bến sông
Ông Lớn.
Giai đọan 2005 - 2006:
Hoàn chỉnh chợ đầu mối bán buôn phân bón và bán buôn lương thực tại Cảng sông Ông Lớn.
3.3- Siêu thị, trung tâm thương mại:
Giai đoạn 2005 - 2010:
- Xây dựng siêu thị tại phường Tân Phú trong khu vực Nam Sài Gòn.
- Xây dựng siêu thị kết hợp nhà ở cao tầng tại phường Tân Hưng.
- Trung tâm thương mại tại phường Tân Thuận Đông do Công ty TNHH Nam Long làm chủ đầu tư.
- Trung tâm Thương mại tại phường Phú Mỹ (kết hợp chợ ven sông do Ban Quản lý dự án quận 7 làm chủ
đầu tư).
3.4- Lộ trình ưu tiên sắp xếp di dời chợ tự phát:
Giai đoạn 2003 - 2005:
- Di dời chợ đường Lê Văn Lương, chợ chiều Tân Kiểng vào chợ xây dựng tạm tại khu vực chợ Tân Quy
xây dựng dở dang cũ.
- Di dời các hộ kinh doanh tại Khu chế xuất Tân thuận vào kinh doanh tại khu đất đối diện Khu chế xuất
Tân thuận, giải tỏa chợ Khu chế xuất Tân thuận.
- Di dời các hộ dân đang kinh doanh tại chợ tự phát Gò Ô Môi, các hộ dân kinh doanh dọc Huỳnh Tấn Phát
thuộc phường Tân Phú vào chợ mới xây ở Gò Ô Môi.
-Vận động tiểu thương chợ chiều Tân Kiểng về bán buổi chiều tại chợ Tân Quy.
Giai đọan 2005 - 2010:
- Di dời chợ đầu cầu Phú Xuân vào chợ đầu mối ven sông phường Phú Mỹ.
4. Giải pháp:
4.1- Các giải pháp huy động vốn đầu tư:
Các giải pháp huy động vốn đầu tư xây dựng hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn
quận 7 tập trung khai thác mọi nguồn lực của các tổ chức kinh tế-xã hội trong và ngoài quận. Bên cạnh hình
Tài liệu THẢO LUẬN NHÓM "PHÂN BÓN VÀ MÔI TRƯỜNG ĐẤT" doc
5
Phân vô cơ gồm các loại chính :
- Phân vô cơ đa lượng :
- Phân đạm – Phân lân – Phân kali – Vôi bón ruộng – Phân tổng hợp và phân hỗn hợp
- Phân vô cơ trung lượng
- Phân vô cơ vi lượng
6
1.1 Phân đạm
Định nghĩa: Là tên gọi chung của các loại phân bón vô cơ cung cấp đạm cho cây. Đạm là chất dinh
dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây
Vai trò:
-
Đạm là nguyên tố tham gia vào thành phần chính của clorophyll, protein, các axit amin, các enzym và
nhiều loại vitamin trong cây.
-
Thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều; lá cây
có kích thước to màu xanh; lá quang hợp mạnh => làm tăng năng suất của cây.
-
Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng (giai đoạn cây sinh trưởng mạnh)
-
Đạm rất cần cho loại cây ăn lá: rau cải, cải bắp…
7
a. Phân urê CO(NH2)2
- Phân urê có 44 - 48% N nguyên chất, là loại phân có tỷ lệ N cao nhất.
b. Phân amôn nitrat (NH4NO3)
- Phân amôn nitrat có chứa 33-35% N nguyên chất
- thích hợp cho nhiều loại cây trồng cạn như thuốc lá, bông, mía, ngô,…
8
c. Phân đạm amôn sunphat (NH4)2SO4
- Chứa 20-21% N nguyên chất; 29% lưu huỳnh (S) và một ít tạp chất
- bón tốt cho cây trồng trên đất đồi, đất bạc màu (thiếu S) trừ đất chua và chuyên bón
các loài cây đậu đỗ, lạc, ngô…
9
d. Phân đạm clorua (NH4Cl)
- Chứa 24-25% N và tỷ lệ clo đến 66,6%
- Phân sinh lý chua không nên dùng dể bón cho thuốc lá, chè, khoai tây, hành, tỏi, bắp cải, vừng v.v…
e. Phân canxi xianamit (CaCN2):
CaC2 + N2 → CaCN2 +C
- chứa 20-21% N, 20-28% vôi, 9-12% than
- Có phản ứng kiềm, dùng rất tốt ở các loại đất chua.
10
1.2 Phân lân
- Lân có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng: có trong thành phần của hạt, nhân tế bào,
rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới của cây
- Lân tham gia vào thành phần enzyme, các prôtein, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin.
``- Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa, kết qủa sớm và nhiều.
- Cải thiện chất lượng nông sản (rau, cỏ)
- Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi
- Thiếu lân không những làm cho năng suất cây trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của phân đạm.
11
a. Supe lân superphôtphat - Ca(H2PO4)2 – Phân phôtphat một lần thay thế
Ca3(PO4)2.CaX2 + 7H2SO4 + H2O → Ca(H2PO4)2.H2O +
7CaSO4 + HF (Cl, CO3, OH…)
- Trong supe lân có 16-20% lân nguyên chất.
b. Thermophôtphat (phân lân nung chảy, lân Văn Điển)
- Thành phần thu được là muối canxi-phôtphatkali hay muối canxi phôtphatnatri (4CaNaPO4.Na2CO3
hay 2CaNaPO4.CaSO4; 4CaKPO4.K2CO3).
- Tỷ lệ lân nguyên chất là 15-20%
- có phản ứng kiềm
- phát huy hiệu lực tốt
đặc biệt ở các vùng đất chua
12
c. Phôtphat nội địa
- Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi rất nhiều từ 15% đến 25%
- Phân có tỷ lệ vôi cao, cho nên có khả năng khử chua.
d. Phân lân kết tủa
- Phân có tỷ lệ lân nguyên chất tương đối cao, đến 27-31%. Ngoài ra trong thành phần của phân có
một ít canxi.
e. Phân apatit:
- Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi nhiều. Thường người ta chia thành 3 loại: loại apatit giàu
có trên 38% lân; loại phân apatit trung bình có 17 – 38% lân; loại phân apatit nghèo có dưới 17% lân.
- Apatit có tỷ lệ vôi cao nên có khả năng khử chua cho đất.
13
1.3 Phân Kali
1.3 Phân Kali
- K
- K
ali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất dinh
ali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất dinh
dưỡng của cây.
dưỡng của cây.
-
-
Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác dộng không lợi từ bên ngoài và chống chịu
Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác dộng không lợi từ bên ngoài và chống chịu
đối với một số loại bệnh.
đối với một số loại bệnh.
-
-
Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét.
Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét.
-
-
Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây trồng.
Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây trồng.
-
-
Kali làm tăng hàm lượng đường trong quả, làm cho màu sắc quả đẹp tươi, tăng khả năng bảo quản
Kali làm tăng hàm lượng đường trong quả, làm cho màu sắc quả đẹp tươi, tăng khả năng bảo quản
của quả.
của quả.
14
a. Phân clorua kali
- Hàm lượng kali nguyên chất trong phân là 50 – 60%.
- Clorua kali là loại phân chua sinh lý.
- Hiện nay, phân clorua kali được sản xuất chiếm đến 93% tổng lượng
phân kali.
b. Phân sunphat kali .
- Hàm lượng kali nguyên chất
trong sunphat kali là 45 – 50%.
- Sunphat kali là loại phân chua sinh lý.
- Sử dụng lâu có thể làm tăng độ chua của đất.
Phân vô cơ gồm các loại chính :
- Phân vô cơ đa lượng :
- Phân đạm – Phân lân – Phân kali – Vôi bón ruộng – Phân tổng hợp và phân hỗn hợp
- Phân vô cơ trung lượng
- Phân vô cơ vi lượng
6
1.1 Phân đạm
Định nghĩa: Là tên gọi chung của các loại phân bón vô cơ cung cấp đạm cho cây. Đạm là chất dinh
dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây
Vai trò:
-
Đạm là nguyên tố tham gia vào thành phần chính của clorophyll, protein, các axit amin, các enzym và
nhiều loại vitamin trong cây.
-
Thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều; lá cây
có kích thước to màu xanh; lá quang hợp mạnh => làm tăng năng suất của cây.
-
Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng (giai đoạn cây sinh trưởng mạnh)
-
Đạm rất cần cho loại cây ăn lá: rau cải, cải bắp…
7
a. Phân urê CO(NH2)2
- Phân urê có 44 - 48% N nguyên chất, là loại phân có tỷ lệ N cao nhất.
b. Phân amôn nitrat (NH4NO3)
- Phân amôn nitrat có chứa 33-35% N nguyên chất
- thích hợp cho nhiều loại cây trồng cạn như thuốc lá, bông, mía, ngô,…
8
c. Phân đạm amôn sunphat (NH4)2SO4
- Chứa 20-21% N nguyên chất; 29% lưu huỳnh (S) và một ít tạp chất
- bón tốt cho cây trồng trên đất đồi, đất bạc màu (thiếu S) trừ đất chua và chuyên bón
các loài cây đậu đỗ, lạc, ngô…
9
d. Phân đạm clorua (NH4Cl)
- Chứa 24-25% N và tỷ lệ clo đến 66,6%
- Phân sinh lý chua không nên dùng dể bón cho thuốc lá, chè, khoai tây, hành, tỏi, bắp cải, vừng v.v…
e. Phân canxi xianamit (CaCN2):
CaC2 + N2 → CaCN2 +C
- chứa 20-21% N, 20-28% vôi, 9-12% than
- Có phản ứng kiềm, dùng rất tốt ở các loại đất chua.
10
1.2 Phân lân
- Lân có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng: có trong thành phần của hạt, nhân tế bào,
rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới của cây
- Lân tham gia vào thành phần enzyme, các prôtein, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin.
``- Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa, kết qủa sớm và nhiều.
- Cải thiện chất lượng nông sản (rau, cỏ)
- Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi
- Thiếu lân không những làm cho năng suất cây trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của phân đạm.
11
a. Supe lân superphôtphat - Ca(H2PO4)2 – Phân phôtphat một lần thay thế
Ca3(PO4)2.CaX2 + 7H2SO4 + H2O → Ca(H2PO4)2.H2O +
7CaSO4 + HF (Cl, CO3, OH…)
- Trong supe lân có 16-20% lân nguyên chất.
b. Thermophôtphat (phân lân nung chảy, lân Văn Điển)
- Thành phần thu được là muối canxi-phôtphatkali hay muối canxi phôtphatnatri (4CaNaPO4.Na2CO3
hay 2CaNaPO4.CaSO4; 4CaKPO4.K2CO3).
- Tỷ lệ lân nguyên chất là 15-20%
- có phản ứng kiềm
- phát huy hiệu lực tốt
đặc biệt ở các vùng đất chua
12
c. Phôtphat nội địa
- Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi rất nhiều từ 15% đến 25%
- Phân có tỷ lệ vôi cao, cho nên có khả năng khử chua.
d. Phân lân kết tủa
- Phân có tỷ lệ lân nguyên chất tương đối cao, đến 27-31%. Ngoài ra trong thành phần của phân có
một ít canxi.
e. Phân apatit:
- Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi nhiều. Thường người ta chia thành 3 loại: loại apatit giàu
có trên 38% lân; loại phân apatit trung bình có 17 – 38% lân; loại phân apatit nghèo có dưới 17% lân.
- Apatit có tỷ lệ vôi cao nên có khả năng khử chua cho đất.
13
1.3 Phân Kali
1.3 Phân Kali
- K
- K
ali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất dinh
ali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất dinh
dưỡng của cây.
dưỡng của cây.
-
-
Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác dộng không lợi từ bên ngoài và chống chịu
Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác dộng không lợi từ bên ngoài và chống chịu
đối với một số loại bệnh.
đối với một số loại bệnh.
-
-
Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét.
Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét.
-
-
Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây trồng.
Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây trồng.
-
-
Kali làm tăng hàm lượng đường trong quả, làm cho màu sắc quả đẹp tươi, tăng khả năng bảo quản
Kali làm tăng hàm lượng đường trong quả, làm cho màu sắc quả đẹp tươi, tăng khả năng bảo quản
của quả.
của quả.
14
a. Phân clorua kali
- Hàm lượng kali nguyên chất trong phân là 50 – 60%.
- Clorua kali là loại phân chua sinh lý.
- Hiện nay, phân clorua kali được sản xuất chiếm đến 93% tổng lượng
phân kali.
b. Phân sunphat kali .
- Hàm lượng kali nguyên chất
trong sunphat kali là 45 – 50%.
- Sunphat kali là loại phân chua sinh lý.
- Sử dụng lâu có thể làm tăng độ chua của đất.
Hiệp định số 01/2006/LPQT về việc tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Tây Ban Nha
BỘ NGOẠI GIAO
***
Số: 01/2006/LPQT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2006
Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Tây Ban Nha về tránh đánh
thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập có hiệu lực từ ngày
22 tháng 12 năm 2005./.
TL. BỘ TRƯỞNG
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ LUẬT PHÁP VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
PHÓ VỤ TRƯỞNG
Nguyễn Thị Hoàng Anh
Hà Nội, ngày 07 tháng 03 năm 2005
HIỆP ĐỊNH
GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA
VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC
LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP
Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Tây Ban Nha,
Mong muốn ký kết một Hiệp định về việc tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với
các loại thuế đánh và thu nhập,
Đã thỏa thuận dưới đây:
Điều 1
PHẠM VI ÁP DỤNG
Hiệp định này được áp dụng cho các đối tượng là những đối tượng cư trú của một hoặc của cả hai Nước
ký kết.
Điều 2
CÁC LOẠI THUẾ BAO GỒM TRONG HIỆP ĐỊNH
1. Hiệp định này áp dụng đối với các loại thuế do một Nước ký kết hoặc các cơ quan chính quyền cơ sở
hay chính quyền địa phương của Nước đó đánh vào thu nhập, bất kể hình thức áp dụng của các loại thuế
đó như thế nào?
2. Tất cả các loại thuế thu trên tổng thu nhập, hoặc những phần của thu nhập bao gồm các khoản thuế đối
với lợi nhuận từ việc chuyển nhượng động sản hoặc bất động sản, các loại thuế đánh trên tổng số tiền
lương hoặc tiền công do doanh nghiệp chi trả cũng như các loại thuế đánh vào giá trị tài sản tăng thêm
đều được coi là thuế đánh vào thu nhập.
3. Những loại thuế hiện hành được áp dụng trong Hiệp định này cụ thể là:
(a) tại Việt Nam:
(i) thuế thu nhập cá nhân; và
(ii) thuế thu nhập doanh nghiệp;
(iii) thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài;
(dưới đây được gọi là “thuế Việt Nam”);
(b) tại Tây Ban Nha:
(i) thuế thu nhập cá nhân;
(ii) thuế công ty;
(iii) thuế thu nhập đối với các đối tượng không cư trú; và
(iv) các loại thuế địa phương thu trên thu nhập;
(dưới đây được gọi là “thuế Tây Ban Nha”).
4. Hiệp định này cũng sẽ được áp dụng cho các loại thuế có tính chất tương tự hay về căn bản giống như
các loại thuế trên ban hành sau ngày ký Hiệp định này để bổ sung, hoặc thay thế các loại thuế hiện hành.
Các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau những thay đổi quan trọng
trong các luật thuế của từng Nước.
Điều 3
CÁC ĐỊNH NGHĨA CHUNG
1. Theo nội dung của Hiệp định này, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi sự giải thích khác:
(a) từ “Việt Nam” có nghĩa là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; khi dùng theo nghĩa địa lý,
thuật ngữ này có nghĩa là toàn bộ lãnh thổ quốc gia Việt Nam, kể cả lãnh hải Việt Nam và mọi vùng ở
ngoài và đi liền với lãnh hải Việt Nam mà theo luật pháp Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế, Việt
Nam có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng
đất dưới đáy biển và khối nước ở trên;
(b) từ “Tây Ban Nha” có nghĩa là Vương quốc Tây Ban Nha và khi dùng theo nghĩa địa lý, thuật ngữ này
có nghĩa là toàn bộ vùng lãnh thổ của Vương quốc Tây Ban Nha, kể cả các vùng lãnh hải và các vùng
biển ngoài lãnh hải, phù hợp với luật pháp quốc tế và việc áp dụng nội luật, Vương quốc Tây Ban Nha
thực hiện hay trong tương lai có thể thực hiện quyền tài phán và quyền chủ quyền đối với đáy biển, lòng
đất dưới đáy biển và khối nước ở trên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đó;
(c) thuật ngữ: “một Nước ký kết” và “Nước ký kết kia” có nghĩa là Việt Nam hay Tây Ban Nha, tùy theo
từng ngữ cảnh đòi hỏi;
(d) thuật ngữ “đối tượng” bao gồm cá nhân, công ty và bất kỳ tổ chức nhiều đối tượng nào khác;
(e) thuật ngữ “công ty” có nghĩa là các tổ chức công ty hoặc bất kỳ một thực thể nào được coi là tổ chức
công ty dưới giác độ thuế;
(f) thuật ngữ “doanh nghiệp của một Nước ký kết” và “doanh nghiệp của Nước ký kết kia” theo thứ tự có
nghĩa là một doanh nghiệp do đối tượng cư trú của một Nước ký kết và một doanh nghiệp do đối tượng
cư trú của Nước ký kết kia điều hành;
(g) thuật ngữ “đối tượng mang quốc tịch” có nghĩa:
(i) bất kỳ các pháp nhân, tổ chức nào mang quốc tịch của một Nước ký kết;
(ii) bất kỳ các pháp nhân, tổ chức hùn vốn hay hiệp hội nào có tư cách được chấp nhận theo các luật có
hiệu lực tại một Nước ký kết;
(h) thuật ngữ “vận tải quốc tế” có nghĩa là bất cứ sự vận chuyển nào bằng tàu thủy hoặc máy bay do một
doanh nghiệp của một Nước ký kết thực hiện, trừ trường hợp khi chiếc tàu thủy hoặc máy bay đó chỉ hoạt
động giữa những địa điểm ở Nước ký kết kia; và
(i) thuật ngữ “nhà chức trách có thẩm quyền” có nghĩa:
(i) trong trường hợp đối với Việt Nam là Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc người đại diện được ủy quyền của
Bộ trưởng Bộ Tài chính; và
(ii) trong trường hợp đối với Tây Ban Nha là Bộ Tài chính hoặc người đại diện được ủy quyền của Bộ
trưởng Bộ Tài chính;
2. Trong khi một Nước ký kết áp dụng Hiệp định này vào bất kỳ thời điểm nào, mọi thuật ngữ chưa có
được định nghĩa trong Hiệp định này, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi sự giải thích khác, vào thời điểm
đó sẽ có nghĩa theo như định nghĩa trong luật của Nước đó đối với các loại thuế mà Hiệp định này áp
dụng, bất kỳ nghĩa nào theo các luật thuế được áp dụng tại Nước đó sẽ có giá trị cao hơn nghĩa được giải
thích cho thuật ngữ này theo các luật khác tại Nước đó.
Điều 4
ĐỐI TƯỢNG CƯ TRÚ
1. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước ký kết” có nghĩa là bất cứ
đối tượng nào, mà theo các luật của Nước đó, là đối tượng chịu thuế căn cứ vào nhà ở, nơi cư trú, trụ sở
điều hành, nơi thành lập hoặc bất kỳ tiêu thức nào khác có tính chất tương tự và cũng bao gồm cả Nước
đó và bất cứ cơ quan chính quyền cơ sở hay chính quyền địa phương của Nước đó. Tuy nhiên, thuật ngữ
này không bao gồm bất kỳ đối tượng nào là đối tượng chịu thuế tại Nước đó chỉ đối với thu nhập từ các
nguồn tại Nước đó.
2. Trường hợp theo những quy định tại khoản 1, khi một cá nhân là đối tượng cư trú của cả hai Nước ký
kết, thì thân phận cư trú của cá nhân đó sẽ được xác định như sau:
(a) cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước mà tại đó cá nhân đó có nhà ở thường trú; nếu cá
nhân đó có nhà ở thường trú ở cả hai Nước, cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước mà cá
nhân đó có các quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi chủ yếu);
(b) nếu như không thể xác định được Nước nơi cá nhân đó có trung tâm các quyền lợi chủ yếu, hoặc nếj
cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở cả hai Nước, thì cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của
Nước mà cá nhân đó thường sống;
(c) nếu cá nhân đó thường sống ở cả hai Nước hay không sống thường xuyên ở Nước nào, thì cá nhân đó
sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước mà cá nhân đó mang quốc tịch.
(d) nếu cá nhân đó mang quốc tịch của cả hai Nước hay không mang quốc tịch của Nước nào, các nhà
chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ giải quyết vấn đề đó bằng thỏa thuận chung.
3. Trường hợp do những quy định tại khoản 1, khi một đối tượng không phải là cá nhân, là đối tượng cư
trú của cả hai Nước ký kết, lúc đó đối tượng trên sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước ký kết nơi có
trụ sở điều hành thực tế của đối tượng đó.
Điều 5
CƠ SỞ THƯỜNG TRÚ
1. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” có nghĩa là một cơ sở kinh doanh cố
định mà qua đó doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của mình.
2. Thuật ngữ “cơ sở thường trú” chủ yếu bao gồm:
(a) trụ sở điều hành;
(b) chi nhánh;
(c) văn phòng;
(d) nhà máy;
(e) xưởng;
(f) mỏ, giếng dầu hoặc khí, mỏ đá hoặc bất kỳ địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên; và
(g) cấu trúc lắp đặt hay thiết bị được sử dụng cho việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên.
3. Thuật ngữ “cơ sở thường trú” cũng bao gồm:
(a) địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, dự án lắp ráp hoặc lắp đặt hay các hoạt động giám sát liên
quan đến các công trình, địa điểm trên, nhưng chỉ khi địa điểm, công trình hay các hoạt động đó kéo dài
trong giai đoạn trên sáu tháng;
(b) việc cung cấp các dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn của một doanh nghiệp thông qua các nhân viên
hay cá nhân khác được doanh nghiệp giao thực hiện các hoạt động trên, nhưng chỉ khi các hoạt động
mang tính chất nêu trên kéo dài, trong cùng một dự án, tại một Nước trong một giai đoạn hay nhiều giai
đoạn gộp lại hơn sáu tháng trong giai đoạn 12 tháng liên tục.
4. Mặc dù có những quy định trên của Điều này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” sẽ được coi là không bao
gồm:
(a) việc sử dụng các phương tiện riêng chỉ cho mục đích lưu kho, trưng bày hay giao hàng hóa của doanh
nghiệp;
(b) việc duy trì kho hàng hóa của doanh nghiệp chỉ với mục đích lưu kho, trưng bày hay giao hàng;
(c) việc duy trì kho hàng hóa của doanh nghiệp chỉ với mục đích để cho doanh nghiệp khác gia công;
(d) việc duy trì một cơ sở kinh doanh cố định chỉ với mục đích mua hàng hóa hay để thu thập thông tin
cho doanh nghiệp;
(e) việc duy trì một cơ sở kinh doanh cố định chỉ với mục đích tiến hành bất kỳ hoạt động nào khác có
tính chất chuẩn bị hoặc phụ trợ cho doanh nghiệp;
(f) việc duy trì một cơ sở kinh doanh cố định chỉ với mục đích kết hợp các hoạt động nêu tại các điểm (a)
tới điểm (e), với điều kiện sự kết hợp toàn bộ hoạt động nêu trên của cơ sở kinh doanh cố định đó mang
tính chất chuẩn bị hay phụ trợ.
5. Mặc dù có những quy định tại khoản 1 và 2, trường hợp một đối tượng - trừ đại lý có tư cách độc lập
được điều chỉnh tại khoản 6 - hoạt động tại một Nước ký kết thay mặt cho một doanh nghiệp của Nước ký
kết kia, doanh nghiệp đó sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết thứ nhất đối với mọi hoạt
động mà đối tượng trên thực hiện cho doanh nghiệp, nếu đối tượng đó:
(a) có và thường xuyên thực hiện tại Nước đó thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên doanh nghiệp,
trừ khi các hoạt động của đối tượng đó chỉ giới hạn trong phạm vi các hoạt động nêu tại khoản 4 mà
những hoạt động đó nếu được thực hiện thông qua một cơ sở kinh doanh cố định thì sẽ không làm cho cơ
sở kinh doanh cố định đó trở thành một cơ sở thường trú theo những quy định tại khoản đó; hay
(b) không có thẩm quyền nêu trên, nhưng thường xuyên duy trì tại Nước thứ nhất một kho hàng hóa, qua
đó đối tượng này thường xuyên giao hàng hóa thay mặt cho doanh nghiệp, với điều kiện có một hoạt
động khác liên quan tới việc bán hàng (như quảng cáo, xúc tiến hay các dịch vụ sau khi bán hàng) cũng
được chính doanh nghiệp hay do bất kỳ đối tượng nào khác thực hiện tại Nước thứ nhất.
6. Một doanh nghiệp sẽ không được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết nếu doanh nghiệp chỉ thực
hiện kinh doanh tại Nước đó thông qua một đại lý môi giới, một đại lý hoa hồng hoặc bất kỳ một đại lý
nào khác có tư cách độc lập, với điều kiện những đối tượng này chỉ hoạt động trong khuôn khổ kinh
doanh thông thường của họ. Tuy nhiên, khi các hoạt động của đại lý đó dành toàn bộ hay hầu như toàn bộ
cho hoạt động đại diện cho doanh nghiệp đó, đại lý đó sẽ không được coi là đại lý có tư cách độc lập theo
nghĩa của khoản này.
7. Việc một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết kiểm soát hoặc chịu sự kiểm soát bởi một
công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia hoặc đang tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước kia
(có thể thông qua một cơ sở thường trú hay dưới hình thức khác) sẽ không làm cho bất kỳ công ty nào trở
thành cơ sở thường trú của công ty kia.
Điều 6
THU THẬP TỪ BẤT ĐỘNG SẢN
1. Thu thập mà một đối tượng “bất động sản” sẽ có nghĩa theo như luật của Nước ký kết nơi có tài sản.
Trong mọi trường hợp thuật ngữ sẽ bao gồm cả tài sản đi liền với bất động sản, đàn gia súc và thiết bị sử
dụng trong nông nghiệp và lâm nghiệp, các quyền áp dụng theo các quy định tại luật chung về điền sản,
quyền sử dụng bất động sản và các quyền được hưởng các khoản thanh toán thay đổi hay cố định trả cho
việc khai thác hay quyền khai thác các mỏ, các nguồn khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác; các
tàu thủy, thuyền và máy bay sẽ không được coi là bất động sản.
3. Những quy định tại khoản 1 sẽ áp dụng đối với thu nhập phát sinh từ việc trực tiếp sử dụng, cho thuê
hay sử dụng bất động sản dưới bất kỳ hình thức nào khác.
4. Những quy định tại khoản 1 và 3 cũng sẽ áp dụng cho thu nhập từ bất động sản của một doanh nghiệp
và đối với thu nhập từ bất động sản được sử dụng để thực hiện các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập.
Điều 7
LỢI TỨC KINH DOANH
1. Lợi tức của một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ trường hợp doanh
nghiệp có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú tại Nước
kia. Nếu doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh theo cách trên, thì các khoản lợi tức của doanh nghiệp có
thể bị đánh thuế tại Nước kia, nhưng chỉ trên phần lợi tức phân bổ cho cơ sở thường trú đó.
2. Thể theo các quy định tại khoản 3, khi một doanh nghiệp của một Nước ký kết tiến hành hoạt động
kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú tại Nước kia, thì tại mỗi Nước ký kết sẽ
có những khoản lợi tức được phân bổ cho cơ sở thường trú nói trên mà cơ sở đó có thể thu được, nếu đó
là một doanh nghiệp riêng và tách biệt cùng tham gia vào các hoạt động như nhau hay tương tự trong
cùng những điều kiện như nhau hay tượng tự và có quan hệ hoàn toàn độc lập với doanh nghiệp mà cơ sở
đó được coi là cơ sở thường trú.
3. Khi xác định lợi tức của một cơ sở thường trú, cơ sở này sẽ được phép khấu trừ các khoản chi phí thực
tế phát sinh phục vụ cho hoạt động kinh doanh của cơ sở thường trú đó, bao gồm cả chi phí điều hành và
chi phí quản lý chung phát sinh tại Nước nơi cơ sở thường trú đó đóng hoặc ở bất kỳ nơi nào khác. Tuy
nhiên, sẽ không cho phép tính vào chi phí được trừ bất kỳ các khoản tiền nào, nếu có, do cơ sở thường trú
trả cho (trừ tiền thanh toán các chi phí thực tế) trụ sở chính của doanh nghiệp hay bất kỳ văn phòng nào
khác của doanh nghiệp, dưới hình thức tiền bản quyền, các khoản phí hay các khoản thanh toán tương tự
khác trả cho việc sử dụng bằng phát minh hay các quyền khác, hay dưới hình thức tiền hoa hồng trả cho
việc thực hiện các dịch vụ đặc biệt, hay trả cho việc quản lý, hay dưới hình thức lãi tiền vay đối với các
khoản tiền cho cơ sở thường trú đó vay, trừ trường hợp lãi tiền vay của tổ chức ngân hàng. Cũng tương
tự, trong khi xác định lợi tức của cơ sở thường trú, sẽ không tính đến các khoản tiền (trừ tiền thanh toán
chi phí thực tế) do cơ sở thường trú thu từ trụ sở chính của doanh nghiệp hay bất kỳ văn phòng khác của
doanh nghiệp dưới hình thức tiền bản quyền, các khoản chi phí hay bất kỳ khoản thanh toán tương tự
khác trả cho việc sử dụng bằng phát minh hay các quyền khác, hay dưới hình thức tiền hoa hồng trả cho
việc thực hiện các dịch vụ đặc biệt hay trả cho việc quản lý hay dưới hình thức lãi tiền vay đối với các
khoản tiền trả cho trụ sở chính của doanh nghiệp hay bất kỳ văn phòng khác của doanh nghiệp vay, trừ
trường hợp lãi tiền vay của tổ chức ngân hàng.
4. Trường hợp tại một Nước ký kết vẫn thường xác định các khoản lợi tức được phân bổ cho một cơ sở
thường trú trên cơ sở phân chia tổng các khoản lợi tức của doanh nghiệp thành những phần khác nhau,
không có nội dung nào tại khoản 2 sẽ ngăn cả Nước ký kết đó xác định lợi tức chịu thuế theo các phân
chia theo thông lệ trên; tuy nhiên, phương pháp phân chia được chấp nhận sẽ có kết quả phù hợp với
những nguyên tắc nêu tại Điều này.
5. Không một khoản lợi tức nào sẽ được phân bổ cho một cơ sở thường trú chỉ vì lý do cơ sở thường trú
đó mua hàng hóa cho doanh nghiệp.
6. Theo nội dung các khoản trên, các khoản lợi tức được phân bổ cho cơ sở thường trú sẽ được xác định
theo cùng một phương pháp giữa các năm trừ khi có đủ lý do chính đáng để xác định theo phương pháp
khác.
7. Khi lợi tức bao gồm các khoản thu nhập được đề cập riêng tại các Điều khác của Hiệp định này, thì các
quy định của các Điều đó sẽ không bị ảnh hưởng bởi những quy định tại Điều này.
Điều 8
VẬN TẢI BIỂN VÀ HÀNG KHÔNG
1. Lợi tức do một doanh nghiệp của một Nước ký kết thu được từ hoạt động của tàu thủy, hoặc máy bay
trong vận tải quốc tế sẽ bị đánh thuế tại Nước ký kết đó.
2. Những quy định tại khoản 1 cũng sẽ áp dụng đối với các khoản lợi tức thu được từ việc tham gia vào
một tổ hợp, liên doanh hay một hãng hoạt động quốc tế.
Điều 9
DOANH NGHIỆP LIÊN KẾT
1. Khi:
(a) một doanh nghiệp của một Nước ký kết tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm
soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của một Nước ký kết và vào một doanh nghiệp của Nước ký kết
kia,
và trong cả hai trường hợp, những điều kiện được đưa ra hoặc áp đặt trong mối quan hệ tài chính và
thương mại giữ hai doanh nghiệp trên khác với điều kiện được đưa ra giữa các doanh nghiệp độc lập, lúc
đó mọi khoản lợi tức mà một doanh nghiệp có thể thu được nếu không có những điều kiện trên nhưng nay
vì những điều kiện này doanh nghiệp đó mà không thu được, sẽ vẫn được một Nước ký kết tính vào các
khoản lợi tức của doanh nghiệp đó và bị đánh thuế tương ứng.
2. Khi một Nước ký kết tính vào các khoản lợi tức của một doanh nghiệp tại Nước đó - và đánh thuế
tương ứng - các khoản lợi tức mà một doanh nghiệp của Nước kia đã bị đánh thuế tại Nước ký kết kia và
Nước kia chấp nhận rằng các khoản lợi tức được tính vào như vậy là những khoản lợi tức lẽ ra thuộc về
doanh nghiệp của Nước thứ nhất nếu các điều kiện đặt ra giữa hai doanh nghiệp trên cũng là các điều kiện
lập ra giữa các doanh nghiệp độc lập, khi đó, Nước kia sẽ điều chỉnh các khoản thuế đã nộp đối với khoản
lợi tức trên cho phù hợp. Khi xác định điều chỉnh trên, sẽ xem xét tới các quy định khác của Hiệp định
này và các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ tham khảo ý kiến của nhau nếu cần thiết.
Điều 10
TIỀN LÃI CỔ PHẦN
1. Tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết trả cho một đối tượng cư trú
của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế ở Nước kia.
2. Tuy nhiên, những khoản tiền lãi cổ phần đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi công ty trả
tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú và theo các luật của Nước đó, nhưng nếu đối tượng thực hưởng tiền lãi
cổp hần là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia thì thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá:
(a) 7 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần nếu đối tượng thực hưởng là công ty (không kể tổ chức hùn vốn)
nắm giữ trực tiếp ít nhất 50 phần trăm vốn của công ty trả tiền lãi cổ phần;
(b) 10 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần nếu đối tượng thực hưởng là công ty (không kể tổ chức hùn
vốn) nắm giữ trực tiếp ít nhất 25 phần trăm những thấp hơn 50 phần trăm vốn của công ty trả tiền lãi cổ
phần;
(c) 15 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần trong tất cả các trường hợp khác.
Khoản này sẽ không ảnh hưởng tới việc đánh thuế công ty đối với lợi tức dùng để chia lãi cổ phần.
3. Thuật ngữ “tiền lãi cổ phần” được sử dụng trong Điều này có nghĩa là thu nhập từ cổ phần, cổ phần
khai thác mỏ, cổ phần sáng lập hoặc các quyền lợi khác không kể các khoản nợ, được hưởng lợi tức, cũng
như thu nhập từ các quyền lợi công ty khác cùng chịu sự điều chỉnh của chính sách thuế đối với thu nhập
từ cổ phần theo luật của Nước nơi công ty chia lãi cổ phần là đối tượng cư trú.
4. Những quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng trong trường hợp đối tượng thực hưởng các khoản
tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú tại một Nước ký kết có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký
kết kia, nơi công ty trả tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú, thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước
đó, hay tiến hành tại Nước kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơsở cố định tại
Nước kia, và quyền nắm giữ cổ phần nhờ đó được hưởng tiền lãi cổ phần, có sự liên hệ thực tế đến cơ sở
thường trú hoặc cơ sở cố định nói trên. Trong trường hợp như vậy các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14,
tùy trường hợp, sẽ được áp dụng.
5. Khi một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết có lợi tức hay thu nhập phát sinh từ Nước ký
kết kia thì Nước có thể không đánh thuế đối với những khoản tiền lãi cổ phần do công ty này trả, trừ
trường hợp những khoản tiền lãi cổ phần này được trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia, hoặc
quyền nắm giữ cổ phần có các khoản tiền lãi cổ phần được trả có sự liên hệ thực tế với một cơ sở thường
trú hay một cơ sở cố định tại Nước kia, đồng thời Nước kia cũng không buộc các khoản lợi tức không
chia của công ty trên phải chịu thuế đối với những khoản lợi tức không chia của công ty, cjho dù những
khoản tiền lãi cổ phần được chia hoặc các lợi tức không chia bao gồm toàn bộ hay một phần các khoản lợi
tức hoặc thu nhập phát sinh tại Nước kia.
Điều 11
LÃI TỪ TIỀN CHO VAY
1. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết
kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Tuy nhiên, khoản tiền lãi này cũng có thể bị đánh thuế ở Nước ký kết nơi phát sinh lãi và theo các luật
của Nước đó, nhưng nếu đối tượng thực hưởng các khoản tiền lãi này là đối tượng cư trú của Nước ký kết
kia thì mức thuế khi đó được tính sẽ không vượt quá 10 phần trăm của tổng số khoản lãi từ tiền cho vay.
3. Mặc dù có những quy định tại khoản 2, lãi từ tiền cho vay phát sinh tại một Nước ký kết và trả cho đối
tượng cư trú của Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước kia nếu người nhận là người thực hưởng lãi
từ tiền cho vay và khoản lãi từ tiền cho vay này là:
(a) do Chính phủ của Nước ký kết kia, kể cả các cơ quan chính quyền cơ sở và chính quyền địa phương
của Nước đó, thu được;
(b) do Ngân hàng Trung ương của Nước ký kết kia thu được;
(c) do một tổ chức tài chính thuộc sở hữu hay chịu sự kiểm soát của Chính phủ của Nước ký kết kia, kể
cả các cơ quan chính quyền cơ sở và chính quyền địa phương của Nước đó, thu được;
(d) trả cho khoản nợ do Chính phủ của Nước đó kể cả cơ quan chính quyền cơ sở và chính quyền địa
phương, Ngân hàng Trung ương của Nước đó hay bất kỳ tổ chức tài chính nào do Chính phủ của Nước đó
sở hữu hay kiểm soát cho vay, bảo lãnh hoặc bảo đảm.
4. Các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ giải quyết cách thức áp dụng khoản 2 và 3
thông qua thủ tục thỏa thuận song phương.
5. Thuật ngữ “lãi từ tiền cho vay” dùng ở Điều này có nghĩa là thu nhập từ các khoản cho vay dưới bất kỳ
dạng nào, có hay không được đảm bảo rằng thế chấp và có hoặc không có quyền được hưởng lợi tức của
người đi vay, và đặc biệt là khoản thu nhập từ chứng khoán của chính phủ và thu nhập từ trái phiếu hoặc
trái phiếu công ty, bao gồm cả tiền thưởng và giải thưởng đi liền với các chứng khoáng, trái phiếu hoặc
trái phiếu công ty đó cũng nhu thu nhập khác tương tự thu nhập từ tiền cho vay theo các luật thuế của
Nước nơi thu nhập phát sinh. Tiền phạt thanh toán chậm sẽ không được coi là lãi từ tiền cho vay theo nội
dung của Điều này.
6. Những quy định tại khoản 2 và 3 sẽ không được áp dụng nếu người thực hưởng các khoản lãi từ tiền
cho vay là đối tượng cư trú tại một Nước ký kết, tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi
phát sinh các khoản lãi từ tiền cho vay, thông qua một cơ sở thường trú tại Nước kia hoặc thực hiện tại
Nước kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định tại Nước kia và khoản nợ có
các khoản tiền lãi được trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú hay cơ sở cố định đó. Trong trường
hợp này, các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14 tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
7. Lãi từ tiền cho vay sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi người trả là đối tượng cư trú của
Nước đó. Tuy nhiên, khi đối tượng trả lãi, có tại một Nước ký kết một cơ sở thường trú hay một cơ sở cố
định liên quan đến các khoản nợ đã phát sinh các khoản lãi này, và khoản tiền lãi trên cơ sở thường trú
hoặc cơ sở cố định đó chịu thì dù đối tượng có là đối tượng cư trú của một Nước ký kết hay không, khoản
tiền lãi này sẽ vẫn được coi là phát sinh tại Nước nơi cơ sở thường trú hay cơ sở cố định đó đóng.
8. Trường hợp do mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả lãi và đối tượng hưởng lãi hoặc giữa cả hai đối
tượng trên và các đối tượng khác, khoản lãi từ tiền cho vay, liên quan đến khoản cho vay có số tiền lãi
được trả vượt quá khoản tiền được thỏa thuận giữa đối tượng đi vay và đối tượng thực hưởng khi không
có mối quan hệ này, thì khi đó, các quy định của Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với các khoản tiền thanh
toán khi không có mối quan hệ đặc biệt trên. Trong trường hợp này, phần thanh toán vượt sẽ bị đánh thuế
theo các luật của mỗi Nước ký kết có xem xét tới các quy định khác của Hiệp định này.
Điều 12
TIỀN BẢN QUYỀN
1. Tiền bản quyền phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có
thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
2. Tuy nhiên, những khoản tiền bản quyền đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi các khoản tiền
bản quyền đó phát sinh, và theo các luật của Nước đó, nhưng nếu đối tượng thực hưởng tiền bản quyền là
đối tượng cư trú của Nước ký kết kia thì mức thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá 10 phần trăm tổng
số tiền bản quyền.
3. Thuật ngữ “tiền bản quyền” được sử dụng trong Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán ở bất kỳ
dạng nào được trả cho việc sử dụng, hoặc quyền sử dụng, bản quyền tác giả của một tác phẩm văn học,
nghệ thuật hay khoa học, kể cả phim điện ảnh và các loại phim hay các loại băng dùng trong phát thanh
và truyền hình, bằng phát minh, nhãn hiệu thương mại, thiết kế hoặc mẫu, đồ án, công thức hoặc quy trình
bí mật, hay trả cho việc sử dụng, hay quyền sử dụng thiết bị công nghiệp, thương mại hoặc khoa học, hay
trả cho thông tin liên quan đến các kinh nghiệm công nghiệp, thương nghiệp hoặc khoa học.
4. Những quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng nếu đối tượng thực hưởng các khoản tiền bản
quyền, là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành hoạt động kinh doanh ở Nước ký kết kia nơi có
khoản tiền bản quyền phát sinh, thông qua một cơ sở thường tur1 nằm tại Nước kia hoặc tiến hành tại
Nước kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định tại Nước kia, và quyền hay
tài sản có các khoản tiền bản quyền được trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định
đó. Trong trường hợp này các quy định của Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
5. Tiền bản quyền sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết đối tượng trả tiền bản quyền chính là đối
tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi một đối tượng trả tiền bản quyền, là hay không là đối tượng cư
trú của một Nước ký kết, có tại một Nước ký kết một cơ sở thường trú haymột cơ sở cố định liên quan
đến trách nhiệm trả tiền bản quyền đã phát sinh và tiền bản quyền đó do cơ sở thường trú hay cơ sở cố
định đó chịu thì khoản tiền bản quyền này sẽ được coi là phát sinh ở Nước nơi cơ sở thường trú hay cơ sở
cố định đó đóng.
6. Trường hợp vì mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả và đối tượng thực hưởng hoặc giữa cả hai đối
tượng trên với các đối tượng khác, khoản tiền bản quyền, liên quan đến việc sử dụng, quyền hay thông tin
có số tiền bản quyền được trả, vượt quá khoản tiền được thỏa thuận giữa đối tượng trả tiền và đối tượng
thực hưởng khi không có mối quan hệ đặc biệt này, thì các quy định của Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với
khoản tiền thanh toán khi không có mối quan hệ trên. Trong trường hợp đó, phần thanh toán vượt sẽ bị
đánh thuế theo luật của từng Nước ký kết có xem xét tới các quy định khác của Hiệp định này.
Điều 13
LỢI TỨC TỪ CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN
1. Lợi tức do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ việc chuyển nhượng bất động sản
được nêu tại Điều 6 và bất động sản đó nằm tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Lợi tức từ việc chuyển nhượng động sản là một phần của tài sản kinh doanh của một cơ sở thường trú
mà một doanh nghiệp của một Nước ký kết có tại Nước ký kết kia hoặc động sản thuộc một cơ sở cố định
của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết có ở Nước ký kết kia để tiến hành hoạt động dịch vụ cá
nhân độc lập kể cả lợi tức từ việc chuyển nhượng cơ sở thường trú đó (riêng cơ sở thường trú đó hoặc
cùng với toàn bộ doanh nghiệp) hoặc cơ sở cố định đó có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
3. Lợi tức thu được từ việc chuyển nhượng các tàu thủy hoặc máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế hay
từ chuyển nhượng động sản gắn liền với hoạt động của các tàu thủy hoặc máy bay đó sẽ bị đánh thuế tại
Nước ký kết nơi doanh nghiệp đó là đối tượng cư trú.
4. Lợi tức một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ việc chuyển nhượng các cổ phần hay
các lợi ích tương ứng phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50 phần trăm giá trị từ bất động sản nằm tại
một Nước ký kết có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
5. Lợi tức thu được từ việc chuyển nhượng một phần vốn từ 25 phần trăm trở lên trong vốn cổ phần của
một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, trừ những trường hợp đã nêu tại khoản 4, có thể bị
đánh thuế tại Nước đó.
6. Lợi tức thu được từ việc chuyển nhượng bất kỳ tài sản nào khác với tài sản nêu tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5
sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi đối tượng chuyển nhượng là đối tượng cư trú.
Điều 14
HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CÁ NHÂN ĐỘC LẬP
1. Thu nhập do một cá nhân là đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các hoạt động dịch vụ
ngành nghề hay các hoạt động khác có tính chất độc lập sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó trừ những trường
hợp sau, thu nhập đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia:
(a) Nếu đối tượng đó thường xuyên có tại Nước ký kết kia một cơ sở cố định nhằm mục đích thực hiện
các hoạt động của mình; trong những trường hợp đó chỉ phần thu nhập được phân bổ cho cơ sở cố định
đó có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia; hay
(b) Nếu đối tượng đó có mặt tại Nước ký kết kia trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian
gộp lại đến hay trên 183 ngày trong năm tài chính có liên quan; trong trường hợp đó chỉ phần thu nhập
thu được từ các hoạt động của đối tượng này được thực hiện tại Nước kia có thể bị đánh thuế tại Nước
kia.
2. Thuật ngữ “dịch vụ ngành nghề” bao gồm chủ yếu những hoạt động độc lập như khoa học, văn học,
nghệ thuật, giáo dục hay giảng dạy cũng như các hoạt động độc lập của các thầy thuốc, bác sĩ, luật sư, kỹ
sư, kiến trúc sư, nha sĩ và kế toán viên.
Điều 15
HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CÁ NHÂN PHỤ THUỘC
1. Thể theo các quy định tại Điều 16, 18, 19, 20 và 21, các khoản tiền lương, tiền công, và các khoản tiền
thù lao tương tự khác do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ lao động làm công sẽ chỉ
bị đánh thuế tại Nước đó, trừ khi công việc của đối tượng đó được thực hiện tại Nước ký kết kia. Nếu
công việc làm công được thực hiện như vậy, số tiền công trả cho lao động đó có thể bị đánh thuế tại Nước
kia.
2. Mặc dù có những quy định tại khoản 1, tiền công do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu
được từ lao động làm công tại Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước thứ nhất nếu:
(a) người nhận tiền công có mặt tại Nước kia trong một khoảng thời gian hoặc nhiều khoảng thời gian
gộp lại không quá 183 ngày trong năm tài chính liên quan, và
(b) chủ lao động hay đối tượng đại diện chủ lao động trả tiền thù lao lao động không phải là đối tượng cư
trú tại Nước kia, và
(c) số tiền công không phải phát sinh tại một cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định mà đối tượng chủ lao
động có tại Nước kia.
3. Mặc dù có những quy định trên của Điều này, tiền công thu được từ lao động làm trên tàu thủy hoặc
máy bay do một doanh nghiệp của một Nước ký kết điều hành trong vận tải quốc tế sẽ chỉ bị đánh thuế tại
Nước ký kết đó.
Điều 16
THÙ LAO CHO GIÁM ĐỐC
Các khoản thù lao cho giám đốc và các khoản thanh toán tương tự khác do một đối tượng cư trú của một
Nước ký kết nhận được với tư cách là thành viên của ban giám đốc của một công ty là đối tượng cư trú
của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế ở Nước kia.
Điều 17
NGHỆ SĨ VÀ VẬN ĐỘNG VIÊN
1. Mặc dù có những quy định tại Điều 14 và 15, thu nhập của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết
thu được với tư cách là người biểu diễn như diễn viên sân khấu, điện ảnh, phát thanh hay truyền hình,
hoặc nhạc công, hoặc với tư cách là vận động viên từ những hoạt động cá nhân của mình thực hiện tại
Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế ở Nước kia.
2. Trường hợp thu nhập liên quan đến các hoạt động trình diễn cá nhân của người biểu diễn hoặc vận
động viên nhưng không được trả cho bản thân người biểu diễn hoặc vận động viên, mà trả cho một đối
tượng khác thì thu nhập này có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi diễn ra những hoạt động trình diễn
của người biểu diễn hoặc vận động viên, mặc dù đã có những quy định tại Điều 7, 14 và 15
3. Mặc dù những quy định tại khoản 1 và 2, thu nhập do những người biểu diễn hay vận động viên là đối
tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các hoạt động cá nhân của mình tại Nước ký kết kia trong
khuôn khổ chương trình trao đổi văn hóa giữa Chính phủ của hai Nước ký kết sẽ được miễn thuế tại Nước
ký kết kia.
Điều 18
PHỤC VỤ CHÍNH PHỦ
1. (a) Các khoản tiền lương, tiền công và các khoản thù lao tương tự khác, trừ tiền lương hưu, do một
Nước ký kết hoặc một cơ quan chính quyền cơ sở hay chính quyền địa phương của Nước đó trả cho một
cá nhân đối với việc phục vụ cho Nước đó hoặc chính quyền cơ sở hay chính quyền địa phương đó sẽ chỉ
bị đánh thuế ở Nước đó.
(b) Tuy nhiên, khoản tiền lượng, tiền công và các khoản thù lao tương tự khác sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước
ký kết kia nếu việc phục vụ này được thực hiện tại Nước kia và cá nhân này là đối tượng cư trú của Nước
kia, đồng thời:
(i) là đối tượng mang quốc tịch của Nước kia; hoặc
(ii) không trở thành đối tượng cư trú của Nước kia chỉ đơn thuần vì thực hiện những công việc trên.
2 (a) Bất kỳ khoản tiền lương hưu nào do một Nước ký kết, một cơ quan chính quyền cơ sở hoặc một cơ
quan chính quyền địa phương của Nước đó hoặc do các quỹ của những cơ quan này lập ra trả cho một cá
nhân đối với các công việc phục vụ cho Nhà nước hoặc các cơ quan chính quyền cơ sở hay chính quyền
địa phương tại Nước đó sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước đó.
(b) Tuy nhiên, những khoản tiền lương hưu này sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước ký kết kia nếu cá nhân này là
đối tượng cư trú và là đối tượng mang quốc tịch của Nước kia.
3. Các quy định của Điều 15, 16, 17 và 18 sẽ áp dụng đối với tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù
lao tương tự khác và lương hưu được trả đối với việc phục vụ liên quan đến một hoạt động kinh doanh
được tiến hành bởi một Nước ký kết hoặc cơ quan chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương của
Nước đó.
Điều 20
SINH VIÊN VÀ THỰC TẬP SINH
1. Những khoản tiền mà một sinh viên hay thực tập sinh nhận được để trang trải các chi phí hoạt động,
học tập hay đào tạo mà người sinh viên hay thực tập sinh này ngay trước khi đến một Nước ký kết đang
và đã là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia và hiện có mặt tại Nước thứ nhất chỉ với mục đích học tập
hay đào tạo, sẽ không bị đánh thuế tại Nước đó, với điều kiện những khoản tiền đó có nguồn gốc từ bên
ngoài Nước này.
2. Mặc dù có những quy định tại Điều 14 và 15, các khoản tiền thù lao trả cho các dịch vụ do sinh viên và
thực tập sinh thực hiện tại một Nước ký kết sẽ không chịu thuế tại Nước đó đối với khoản tiền ban đầu có
giá trị 15.000 Euro hoặc số tương đương bằng đồng Việt Nam cho mỗi năm tài chính, với điều kiện các
dịch vụ này liên quan tới việc học tập hay đào tạo của sinh viên và thực tập sinh đó.
Điều 21
GIÁO VIÊN, GIÁO SƯ VÀ NHÀ NGHIÊN CỨU
1. Một cá nhân, đối tượng hiện là hay ngay trước khi sang một Nước ký kết đã là đối tượng cư trú của
một Nước ký kết và có mặt tại Nước ký kết thứ nhất với mục đích giảng dạy hoặc tiến hành nghiên cứu
tại một trường đại học, cao đẳng, trường học hay cơ sở giáo dục hay viện nghiên cứu khoa học mang tính
chất công tại Nước ký kết thứ nhất sẽ được miễn thuế tại Nước ký kết thứ nhất đó đối với khoản tiền thù
lao ban đầu có giá trị 30.000 euro hay số lượng tương đương bằng đồng Việt Nam cho việc giảng dạy,
hay nghiên cứu nêu trên cho mỗi năm tài chính, trong giai đoạn hai năm kể từ ngày cá nhân đó lần đầu
tiên sang Nước ký kết thứ nhất.
2. Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với thu nhập từ hoạt động nghiên cứu nếu việc nội dung đó do cá nhân
thực hiện nhằm phục vụ lợi ích công cộng và chủ yếu được thực hiện không vì lợi ích của một cá nhân
hay tổ chức tư nhân nào khác.
Điều 22
THU NHẬP KHÁC
1. Những khoản thu nhập của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết, cho dù phát sinh ở đâu, chưa
được đề cập đến tại những Điều trên của Hiệp định này sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
2. Những quy định tại khoản 1 sẽ không áp dụng đối với thu nhập, trừ thu nhập từ bất động sản được định
nghĩa tại khoản 2 Điều 6, nếu đối tượng nhận thu nhập là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, có tiến
hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước kia hay
thực hiện tại Nước kia những hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định tại Nước
kia, và quyền hay tài sản liên quan đến số thu nhập được chi trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú
hay cơ sở cố định đó. Trong trường hợp như vậy những quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng
trường hợp, sẽ được áp dụng.
Điều 23
CÁC BIỆN PHÁP XÓA BỎ VIỆC ĐÁNH THUẾ HAI LẦN
1. Tại Việt Nam, việc đánh thuế hai lần sẽ được xóa bỏ như sau:
(a) Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được thu nhập, lợi tức hay lợi tức từ chuyển
nhượng tài sản mà theo luật của Tây Ban Nha và phù hợp với Hiệp định này có thể bị đánh thuế tại Tây
Ban Nha, khi đó, Việt Nam sẽ cho phép hưởng một khoản khấu trừ thuế đối với thu nhập, lợi tức hay lợi
tức từ chuyển nhượng tài sản tương đương với số thuế đã nộp tại Tây Ban Nha. Tuy nhiên, số thuế khấu
trừ sẽ không vượt quá số thuế Việt Nam đối với thu nhập, lợi tức hay lợi tức từ chuyển nhượng tài sản
được tính phù hợp với các luật thuế và các quy định về thuế của Việt Nam.
(b) Trường hợp căn cứ theo các quy định của Hiệp định thu nhập mà một đối tượng cư trú của Việt Nam
nhận được được miễn thuế tại Việt Nam, khi đó trong quá trình xác định số thuế phải nộp đối với thu
nhập còn lại của đối tượng cư trú đó, Việt Nam có thể xem xét đến khoản thu nhập được miễn thuế đó.
2. Tại Tây Ban Nha, phù hợp với các quy định và trong phạm vi các luật của Tây Ban Nha, việc đánh
thuế hai lần sẽ được xóa bỏ như sau:
(a) Khi một đối tượng cư trú của Tây Ban Nha nhận được thu nhập, phù hợp với các quy định của Hiệp
định này, có thể bị đánh thuế tại Việt Nam thì Tây Ban Nha sẽ cho phép:
(i) được khấu trừ thuế đối với thu nhập của đối tượng cư trú đó tương đương với số thuế thu nhập đã nộp
tại Việt Nam;
(ii) được khấu trừ thuế thu nhập công ty liên quan đến số thu nhập dùng để chia lãi cổ phần phù hợp với
nội luật của Tây Ban Nha.
Tuy nhiên, khoản khấu trừ đó sẽ không vượt quá phần thuế thu nhập đã được tính trước khi thực hiện việc
khấu trừ và được phân bổ, tùy từng trường hợp, cho thu nhập có thể chịu thuế tại Việt Nam.
Tuy nhiên, khoản khấu trừ đó sẽ không vượt quá phần thuế thu nhập đã được tính trước khi thực hiện việc
khấu trừ và được phân bổ, tùy từng trường hợp, cho thu nhập có thể chịu thuế tại Việt Nam.
(b) Phù hợp với các quy định của Hiệp định này, trường hợp thu nhập của một đối tượng cư trú của Tây
Ban Nha được miễn thuế tại Tây Ban Nha, khi tính thuế đối với thu nhập còn lại của đối tượng cư trú đó,
Tây Ban Nha có thể xem xét đến khoản thu nhập đã được miễn thuế.
(c) Theo nội dung tại điểm 2(a) Điều này, thuế thu nhập do một đối tượng cư trú Tây Ban Nha đã nộp tại
Việt Nam đối với lợi tức kinh doanh thu được thông qua một cơ sở thường trú đặt tại Việt Nam sẽ được
coi là bao gồm mọi khoản thuế lẽ ra phải nộp như là thuế Việt Nam trong bất kỳ năm nào nếu không được
hưởng miễn hay giảm thuế cho năm đó hay bất kỳ khoản miễn hoặc giảm thuế nào do áp dụng các quy
định của Luật Việt Nam nhằm mở rộng giới hạn thời gian được hưởng ưu đãi thuế để khuyến khích đầu
tư nước ngoài cho mục đích phát triển. Các quy định tại điểm này sẽ được áp dụng trong khoảng thời gian
10 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Các nhà chức trách có thẩm quyền sẽ tham khảo ý kiến của
nhau để xác định khoảng thời gian này sẽ được gia hạn hay không.
(d) Theo nội dung tại điểm 2(a) Điều này, số thuế đã nộp tại Việt Nam đối với tiền lãi cổ phần áp dụng
theo khoản 2 Điều 10, lãi từ tiền cho vay theo khoản 2 Điều 11 và tiền bản quyền theo khoản 2 Điều 12,
sẽ được coi là các mức thuế suất được thiết lập liên quan tới Điều 10 của Hiệp định này đối với tổng số
tiền lãi cổ phần, 10 phần trăm tổng số lãi từ tiền cho vay và 10 phần trăm tổng số tiền bản quyền đã nêu
trên. Các quy định tại điểm này sẽ áp dụng trong khoảng thời gian 10 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu
lực và sẽ không có hiệu lực đối với các khoản thu nhập từ đầu tư gián tiếp, như được quy định tại Luật
thuế công ty của Tây Ban Nha. Các nhà chức trách có thẩm quyền sẽ tham khảo ý kiến của nhau để xác
định khoảng thời gian này sẽ được gia hạn hay không.
Điều 24
KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ
1. Những đối tượng mang quốc tịch của một Nước ký kết sẽ không phải chịu bất kỳ hình thức thuế nào
hay bất kỳ yêu cầu nào có liên quan tại Nước ký kết kia, khác với hay nặng hơn so với hình thức thuế và
các yêu cầu có liên quan hiện mà các đối tượng mang quốc tịch của Nước kia trong cùng những hoàn
cảnh như nhau hiện đang hoặc có thể phải chịu thuế.
2. Hình thức thuế áp dụng đối với một cơ sở thường trú mà một doanh nghiệp của một Nước ký kết đặt tại
Nước ký kết kia sẽ không kém thuận lợi hơn thuế áp dụng đối với các doanh nghiệp của Nước kia khi
thực hiện các hoạt động như nhau.
3. Trừ trường hợp áp dụng các quy định của khoản 1 Điều 9, khoản 8 Điều 11, hay khoản 6 Điều 12, lãi
từ tiền cho vay, tiền bản quyền và các khoản thanh toán khác đã trả, khi xác định các khoản lợi tức chịu
thuế của doanh nghiệp đó, sẽ được trừ vào chi phí theo cùng những điều kiện như các khoản tiền đó được
trả cho một đối tượng cư trú của Nước thứ nhất.
4. Các doanh nghiệp của một Nước ký kết có toàn bộ hay một phần vốn do một hay nhiều đối tượng cư
trú của Nước ký kết kia sở hữu hay kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, sẽ không phải chịu tại Nước ký kết
thứ nhất bất kỳ hình thức thuế hay yêu cầu liên quan khác với hay nặng hơn so với hình thức thuế và các
yêu cầu liên quan mà các doanh nghiệp tương tự khác của Nước thứ nhất hiện đang hoặc có thể phải chịu
thuế.
5. Không nội dung nào tại Điều này sẽ được giải thích là buộc một Nước ký kết cho phép các đối tượng
cư trú của Nước ký kết kia hưởng các khoản trợ cấp cá nhân, miễn và giảm dưới giác độ thuế mà Nước đó
cho các đối tượng cư trú của mình hưởng vì tư cách công dân hay các trách nhiệm đối với gia đình.
6. Mặc dù có những quy định tại Điều này, cho tới khai Việt Nam tiếp tục cấp giấy phép cho các nhà đầu
tư theo Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam, trong đó quy định hình thức thuế mà nhà đầu tư sẽ phải
chịu, khi đó, việc áp dụng hình thức thuế đó sẽ không được coi là vi phạm các điều khoản tại khoản 2 và
4 của Điều này.
7. Những quy định tại Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với các loại thuế thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp
định này.
Điều 25
THỦ TỤC THỎA THUẬN SONG PHƯƠNG
1. Trường hợp một đối tượng là đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận thấy rằng việc giải quyết của
nhà chức trách có thẩm quyền của một hay cả hai Nước ký kết làm cho hay sẽ làm cho đối tượng đó phải
nộp thuế không phù hợp với những quy định của Hiệp định này, đối tượng này có thể giải trình trường
hợp của mình với nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết mà đối tượng đó là đối tượng cư trú,
mặc dù trong nội luật của hai Nước đã quy định những chế độ xử lý khiếu nại. Trường hợp đó phải được
giải trình trong thời hạn 3 năm kể từ lần thông báo giải quyết đầu tiên đến hình thức thuế áp dụng không
đúng với những quy định của Hiệp định.
2. Nhà chức trách có thẩm quyền sẽ cố gắng, nếu như việc khiếu nại là hợp lý và nếu bản thân nhà chức
trách đó không thể đi đến một giải pháp thỏa đáng, phối hợp với nhà chức trách có thẩm quyền của Nước
ký kết kia để cùng giải quyết trường hợp khiếu nại bằng thỏa thuận chung, nhằm mục đích trách đánh
thuế không phù hợp với nội dung của Hiệp định này. Mọi thỏa thuận đạt được sẽ được thực hiện mặc dù
có những giới hạn thời gian trong nội luật của hai Nước ký kết.
3. Nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ cố gắng giải quyết mọi khó khăn hay vướng mắc
nảy sinh trong quá trình áp dụng Hiệp định này. Nhà chức trách có thẩm quyền của Hai Nước cũng có thể
cùng trao đổi nhằm xóa bỏ việc đánh thuế hai lần trong các trường hợp không được quy định tại Hiệp
định này.
4. Nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết có thể liên hệ trực tiếp với nhau nhằm mục đích đạt
được một thỏa thuận theo nội dung những khoản trên đây.
Điều 26
TRAO ĐỔI THÔNG TIN
1. Nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ trao đổi những thông tin cần thiết để thực hiện
những quy định của Hiệp định này hay của nội luật từng Nước ký kết liên quan đến các loại thuế mà Hiệp
định này áp dụng sao cho việc đánh thuế theo nội luật sẽ không trái với Hiệp định này. Mọi thông tin do
một Nước ký kết nhận được sẽ được giữ bí mật giống như thông tin thu nhận theo nội luật của Nước này
và thông tin đó sẽ chỉ được cung cấp cho các đối tượng hay các cơ quan chức trách (bao gồm toà án và
các cơ quan hành chính) có liên quan đến việc tính toán hay thu thuế, cưỡng chế hay truy tố hoặc xác định
các khiếu nại về các loại thuế mà Hiệp định này áp dụng. Các đối tượng hoặc các cơ quan chức trách này
sẽ chỉ sử dụng các thông tin đó vào các mục đích nêu trên. Các đối tượng và các cơ quan đó có thể cung
cấp các thông tin này trong quá trình tố tụng công khai của tòa án hay trong các quyết định của tòa án.
2. Không có trường hợp nào những quy định tại khoản 1 được giải thích là buột một Nước ký kết có
nghĩa vụ:
(a) thực hiện các biện pháp hành chính khác với luật pháp hay thông lệ về quản lý hành chính của Nước
ký kết đó hay của Nước ký kết kia;
(b) cung cấp những thông tin không thể tiết lộ được theo các luật hay trong khuôn khổ quản lý hành
chính thông thường của Nước ký kết đó hay của Nước ký kết kia;
(c) cung cấp những thông tin có thể làm tiết lộ bí mật về thương mại, kinh doanh, công nghiệp, thương
nghiệp hay bí mật nghề nghiệp hoặc các phương thức kinh doanh, hoặc cung cấp những thông tin mà việc
tiết lộ chúng có thể trái với chính sách nhà nước.
Điều 27
CÁC VIÊN CHỨC NGOẠI GIA VÀ LÃNH SỰ
Không nội dung nào trong Hiệp định này ảnh hưởng đến những ưu đãi về thuế của các viên chức ngoại
giao và lãnh sự theo những nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế hay những quy định trong các hiệp
định đặc biệt.
Điều 28
HIỆU LỰC
1. Chính phủ của hai Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau các thủ tục nội bộ cần thiết của từng Nước ký
kết để Hiệp định này có hiệu lực. Hiệp định này sẽ có hiệu lực kể từ ngày thông báo sau cùng.
2. Hiệp định này sẽ được áp dụng:
(a) đối với các khoản thuế khấu trừ tại nguồn, liên quan đến khoản chịu thuế được chi trả vào hoặc sau
ngày 01 tháng 01 của năm dương lịch tiếp sau năm Hiệp định có hiệu lực và trong các năm dương lịch
tiếp theo;
(b) đối với các loại thuế khác, liên quan đến thu nhập, lợi tức hay lợi tức từ chuyển nhượng tài sản phát
sinh trong năm dương lịch tiếp sau năm Hiệp định có hiệu lực và trong các năm dương lịch tiếp theo.
Điều 29
KẾT THÚC HIỆP ĐỊNH
Hiệp định này sẽ vẫn còn hiệu lực cho tới khi một Nước ký kết tuyên bố chấm dứt hiệu lực. Từng Nước
ký kết thông qua đường ngoại giao có thể chấm dứt hiệu lực Hiệp định bằng cách gửi cho Nước ký kết
kia thông báo bằng văn bản về việc chấm dứt hiệu lực Hiệp định ít nhất sáu tháng trước khi kết thúc bất
kỳ năm dương lịch bắt đầu từ sau thời hạn năm năm kể từ ngày Hiệp định sẽ hết hiệu lực thi hành:
(a) đối với các loại thuế khấu trừ tại nguồn, liên quan đến các khoản chịu thuế được chi trả vào hoặc sau
ngày 01 tháng 01 của năm dương lịch tiếp sau năm dương lịch gửi thông báo kết thúc hiệu lực Hiệp định
và trong các năm dương lịch tiếp theo.
ĐỂ LÀM BẰNG những người được ủy quyền của từng Chính phủ dưới đây đã ký vào Hiệp định này.
Hiệp định làm thành hai bản tại Hà Nội ngày 07 tháng 3 năm hai ngàn không trăm linh năm mỗi bản gồm
các ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh, tất cả các văn bản đều có giá trị như nhau.
Trường hợp có sự giải thích khác nhau, văn bảng tiếng Anh sẽ có giá trị quyết định./.
TM. CHÍNH PHỦ
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
THỨ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH VIỆT NAM
TM. CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC
TÂY BAN NHA
QUỐC VỤ KHANH THƯƠNG MẠI
VÀ DU LỊCH
Lê Thị Băng Tâm
Pedro Mejía Gómez
NGHỊ ĐỊNH THƯ
Tại thời điểm ký kết Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Tây Ban
Nha về việc trách đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu
nhập, những người được ủy quyền dưới đây đã thỏa thuận những quy định sau sẽ là phần không thể tách
rời của Hiệp định.
I. Liên quan đến Điều 5 khoản 3
Thuật ngữ “cùng một dự án” đề cập đến một dự án có thể bao gồm nhiều phần khác nhau, trong trường
hợp như vậy, mỗi phần phải có một mối liên kết với nhau về nghĩa thương mại và địa lý.
II. Liên quan đến Điều 5 khoản 6
Câu thứ hai tại khoản 6 Điều 5 sẽ được giải thích như sau:
Một nhân tố cần xem xét khi xác định tư cách độc lập là số lượng các doanh nghiệp do một đại lý làm đại
diện. Tư cách độc lập sẽ ít có khả năng nếu các hoạt động của đại lý được thực hiện toàn bộ hay hầu như
toàn bộ thay mặt cho chỉ một doanh nghiệp trong suốt thời gian kinh doanh hay trong một khoảng thời
gian dài. Tuy nhiên, thực tế này chưa đủ để xác định là yếu tố quyết định. Cần phải xem xét toàn bộ sự
kiện thực tế cũng như hoàn cảnh để xác định liệu các hoạt động của đại lý có tạo thành việc kinh doanh tự
chủ do chính đại lý tiến hành, trong đó những hoạt động này là do đại lý chịu rủi ro và được hưởng lợi
nhuận thông qua việc sử dụng những kỹ năng và kiến thức kinh doanh của mình. Trường hợp một đại lý
đại diện cho nhiều doanh nghiệp trong khuôn khổ hoạt động kinh doanh thông thường của mình và không
doanh nghiệp nào chiếm ưu thế đối với hoạt động kinh doanh do đại lý thực hiện, khi đó sẽ coi là có sự
phối phụ thuộc pháp lý nếu các doanh nghiệp phối hợp cùng kiểm soát các hoạt động của đại lý trong
khuôn khổ hoạt động kinh doanh của đại lý thay mặt cho các doanh nghiệp này.
III. Liên quan đến Điều 5
Ngay khi khung pháp lý về tài chính của hai Nước ký kết cho phép các công ty bảo hiểm đặt tại một
Nước ký kết được cung cấp các dịch vụ tại Nước ký kết kia thông qua một đối tượng, không phải là đại lý
độc lập, trên cơ sở có đi có lại, các nhà chức trách có thẩm quyền có thể, thông qua thư trao đổi, thiết lập
tư cách cư trú của các công ty trên để thống nhất việc bổ sung một khoản mới vào Điều 5 Hiệp định.
IV. Liên quan đến Điều 5 và Khoản 1 Điều 7
a) Tại Nước ký kết nơi cơ sở thường trú đóng, không khoản lợi nhuận nào sẽ được phân bổ cho địa điểm
xây dựng hay công trường xây dựng hay dự án lắp đặt trừ những khoản lợi tức là kết quả của chính những
hoạt động nêu trên. Lợi tức thu được từ việc cung cấp máy móc hay thiết bị liên quan đến các hoạt động
này và chịu ảnh hưởng của cơ sở thường trú chính hay bất kỳ cơ sở thường trú nào khác của doanh nghiệp
hay chịu ảnh hưởng của bên thứ ba sẽ không được phân bổ địa điểm xây dựng hoặc công trình xây dựng
hay dự án lắp đặt.
b) Trường hợp không có dữ liệu kế toán hay dữ liệu khác phù hợp để xác định lợi tức phân bổ cho cơ sở
thường trú, khi đó thuế được tính lại Nước ký kết nơi cơ sở thường trú đóng có thể được tính phù hợp với
các luật của Nước đó, đặc biệt có xem xét tới các khoản lợi tức thông thường của các doanh nghiệp tương
tự cùng tham gia trong các điều kiện như nhau hay tương tự, với điều kiện dựa trên thông tin sẵn có, việc
xác định lợi tức của cơ sở thường trú phải phù hợp với các nguyên tắc được nêu tại Điều này.
c) Các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ trao đổi như theo Điều 25 Hiệp định này để
làm rõ việc áp dụng các lợi ích của Hiệp định tại từng Nước ký kết.
V. Liên quan đến Điều 10 khoản 2
Đối với Điều 10, 11 và 12, nếu sau khi Hiệp định này có hiệu lực, Việt Nam đã ký Thỏa thuận hay Hiệp
định tránh đánh thuế hai lần với Nước thứ ba là thành viên của Liên minh Châu Âu, và Thỏa thuận hay
***
Số: 01/2006/LPQT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2006
Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Tây Ban Nha về tránh đánh
thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập có hiệu lực từ ngày
22 tháng 12 năm 2005./.
TL. BỘ TRƯỞNG
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ LUẬT PHÁP VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
PHÓ VỤ TRƯỞNG
Nguyễn Thị Hoàng Anh
Hà Nội, ngày 07 tháng 03 năm 2005
HIỆP ĐỊNH
GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA
VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC
LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP
Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Tây Ban Nha,
Mong muốn ký kết một Hiệp định về việc tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với
các loại thuế đánh và thu nhập,
Đã thỏa thuận dưới đây:
Điều 1
PHẠM VI ÁP DỤNG
Hiệp định này được áp dụng cho các đối tượng là những đối tượng cư trú của một hoặc của cả hai Nước
ký kết.
Điều 2
CÁC LOẠI THUẾ BAO GỒM TRONG HIỆP ĐỊNH
1. Hiệp định này áp dụng đối với các loại thuế do một Nước ký kết hoặc các cơ quan chính quyền cơ sở
hay chính quyền địa phương của Nước đó đánh vào thu nhập, bất kể hình thức áp dụng của các loại thuế
đó như thế nào?
2. Tất cả các loại thuế thu trên tổng thu nhập, hoặc những phần của thu nhập bao gồm các khoản thuế đối
với lợi nhuận từ việc chuyển nhượng động sản hoặc bất động sản, các loại thuế đánh trên tổng số tiền
lương hoặc tiền công do doanh nghiệp chi trả cũng như các loại thuế đánh vào giá trị tài sản tăng thêm
đều được coi là thuế đánh vào thu nhập.
3. Những loại thuế hiện hành được áp dụng trong Hiệp định này cụ thể là:
(a) tại Việt Nam:
(i) thuế thu nhập cá nhân; và
(ii) thuế thu nhập doanh nghiệp;
(iii) thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài;
(dưới đây được gọi là “thuế Việt Nam”);
(b) tại Tây Ban Nha:
(i) thuế thu nhập cá nhân;
(ii) thuế công ty;
(iii) thuế thu nhập đối với các đối tượng không cư trú; và
(iv) các loại thuế địa phương thu trên thu nhập;
(dưới đây được gọi là “thuế Tây Ban Nha”).
4. Hiệp định này cũng sẽ được áp dụng cho các loại thuế có tính chất tương tự hay về căn bản giống như
các loại thuế trên ban hành sau ngày ký Hiệp định này để bổ sung, hoặc thay thế các loại thuế hiện hành.
Các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau những thay đổi quan trọng
trong các luật thuế của từng Nước.
Điều 3
CÁC ĐỊNH NGHĨA CHUNG
1. Theo nội dung của Hiệp định này, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi sự giải thích khác:
(a) từ “Việt Nam” có nghĩa là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; khi dùng theo nghĩa địa lý,
thuật ngữ này có nghĩa là toàn bộ lãnh thổ quốc gia Việt Nam, kể cả lãnh hải Việt Nam và mọi vùng ở
ngoài và đi liền với lãnh hải Việt Nam mà theo luật pháp Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế, Việt
Nam có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng
đất dưới đáy biển và khối nước ở trên;
(b) từ “Tây Ban Nha” có nghĩa là Vương quốc Tây Ban Nha và khi dùng theo nghĩa địa lý, thuật ngữ này
có nghĩa là toàn bộ vùng lãnh thổ của Vương quốc Tây Ban Nha, kể cả các vùng lãnh hải và các vùng
biển ngoài lãnh hải, phù hợp với luật pháp quốc tế và việc áp dụng nội luật, Vương quốc Tây Ban Nha
thực hiện hay trong tương lai có thể thực hiện quyền tài phán và quyền chủ quyền đối với đáy biển, lòng
đất dưới đáy biển và khối nước ở trên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đó;
(c) thuật ngữ: “một Nước ký kết” và “Nước ký kết kia” có nghĩa là Việt Nam hay Tây Ban Nha, tùy theo
từng ngữ cảnh đòi hỏi;
(d) thuật ngữ “đối tượng” bao gồm cá nhân, công ty và bất kỳ tổ chức nhiều đối tượng nào khác;
(e) thuật ngữ “công ty” có nghĩa là các tổ chức công ty hoặc bất kỳ một thực thể nào được coi là tổ chức
công ty dưới giác độ thuế;
(f) thuật ngữ “doanh nghiệp của một Nước ký kết” và “doanh nghiệp của Nước ký kết kia” theo thứ tự có
nghĩa là một doanh nghiệp do đối tượng cư trú của một Nước ký kết và một doanh nghiệp do đối tượng
cư trú của Nước ký kết kia điều hành;
(g) thuật ngữ “đối tượng mang quốc tịch” có nghĩa:
(i) bất kỳ các pháp nhân, tổ chức nào mang quốc tịch của một Nước ký kết;
(ii) bất kỳ các pháp nhân, tổ chức hùn vốn hay hiệp hội nào có tư cách được chấp nhận theo các luật có
hiệu lực tại một Nước ký kết;
(h) thuật ngữ “vận tải quốc tế” có nghĩa là bất cứ sự vận chuyển nào bằng tàu thủy hoặc máy bay do một
doanh nghiệp của một Nước ký kết thực hiện, trừ trường hợp khi chiếc tàu thủy hoặc máy bay đó chỉ hoạt
động giữa những địa điểm ở Nước ký kết kia; và
(i) thuật ngữ “nhà chức trách có thẩm quyền” có nghĩa:
(i) trong trường hợp đối với Việt Nam là Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc người đại diện được ủy quyền của
Bộ trưởng Bộ Tài chính; và
(ii) trong trường hợp đối với Tây Ban Nha là Bộ Tài chính hoặc người đại diện được ủy quyền của Bộ
trưởng Bộ Tài chính;
2. Trong khi một Nước ký kết áp dụng Hiệp định này vào bất kỳ thời điểm nào, mọi thuật ngữ chưa có
được định nghĩa trong Hiệp định này, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi sự giải thích khác, vào thời điểm
đó sẽ có nghĩa theo như định nghĩa trong luật của Nước đó đối với các loại thuế mà Hiệp định này áp
dụng, bất kỳ nghĩa nào theo các luật thuế được áp dụng tại Nước đó sẽ có giá trị cao hơn nghĩa được giải
thích cho thuật ngữ này theo các luật khác tại Nước đó.
Điều 4
ĐỐI TƯỢNG CƯ TRÚ
1. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước ký kết” có nghĩa là bất cứ
đối tượng nào, mà theo các luật của Nước đó, là đối tượng chịu thuế căn cứ vào nhà ở, nơi cư trú, trụ sở
điều hành, nơi thành lập hoặc bất kỳ tiêu thức nào khác có tính chất tương tự và cũng bao gồm cả Nước
đó và bất cứ cơ quan chính quyền cơ sở hay chính quyền địa phương của Nước đó. Tuy nhiên, thuật ngữ
này không bao gồm bất kỳ đối tượng nào là đối tượng chịu thuế tại Nước đó chỉ đối với thu nhập từ các
nguồn tại Nước đó.
2. Trường hợp theo những quy định tại khoản 1, khi một cá nhân là đối tượng cư trú của cả hai Nước ký
kết, thì thân phận cư trú của cá nhân đó sẽ được xác định như sau:
(a) cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước mà tại đó cá nhân đó có nhà ở thường trú; nếu cá
nhân đó có nhà ở thường trú ở cả hai Nước, cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước mà cá
nhân đó có các quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi chủ yếu);
(b) nếu như không thể xác định được Nước nơi cá nhân đó có trung tâm các quyền lợi chủ yếu, hoặc nếj
cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở cả hai Nước, thì cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của
Nước mà cá nhân đó thường sống;
(c) nếu cá nhân đó thường sống ở cả hai Nước hay không sống thường xuyên ở Nước nào, thì cá nhân đó
sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước mà cá nhân đó mang quốc tịch.
(d) nếu cá nhân đó mang quốc tịch của cả hai Nước hay không mang quốc tịch của Nước nào, các nhà
chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ giải quyết vấn đề đó bằng thỏa thuận chung.
3. Trường hợp do những quy định tại khoản 1, khi một đối tượng không phải là cá nhân, là đối tượng cư
trú của cả hai Nước ký kết, lúc đó đối tượng trên sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước ký kết nơi có
trụ sở điều hành thực tế của đối tượng đó.
Điều 5
CƠ SỞ THƯỜNG TRÚ
1. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” có nghĩa là một cơ sở kinh doanh cố
định mà qua đó doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của mình.
2. Thuật ngữ “cơ sở thường trú” chủ yếu bao gồm:
(a) trụ sở điều hành;
(b) chi nhánh;
(c) văn phòng;
(d) nhà máy;
(e) xưởng;
(f) mỏ, giếng dầu hoặc khí, mỏ đá hoặc bất kỳ địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên; và
(g) cấu trúc lắp đặt hay thiết bị được sử dụng cho việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên.
3. Thuật ngữ “cơ sở thường trú” cũng bao gồm:
(a) địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, dự án lắp ráp hoặc lắp đặt hay các hoạt động giám sát liên
quan đến các công trình, địa điểm trên, nhưng chỉ khi địa điểm, công trình hay các hoạt động đó kéo dài
trong giai đoạn trên sáu tháng;
(b) việc cung cấp các dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn của một doanh nghiệp thông qua các nhân viên
hay cá nhân khác được doanh nghiệp giao thực hiện các hoạt động trên, nhưng chỉ khi các hoạt động
mang tính chất nêu trên kéo dài, trong cùng một dự án, tại một Nước trong một giai đoạn hay nhiều giai
đoạn gộp lại hơn sáu tháng trong giai đoạn 12 tháng liên tục.
4. Mặc dù có những quy định trên của Điều này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” sẽ được coi là không bao
gồm:
(a) việc sử dụng các phương tiện riêng chỉ cho mục đích lưu kho, trưng bày hay giao hàng hóa của doanh
nghiệp;
(b) việc duy trì kho hàng hóa của doanh nghiệp chỉ với mục đích lưu kho, trưng bày hay giao hàng;
(c) việc duy trì kho hàng hóa của doanh nghiệp chỉ với mục đích để cho doanh nghiệp khác gia công;
(d) việc duy trì một cơ sở kinh doanh cố định chỉ với mục đích mua hàng hóa hay để thu thập thông tin
cho doanh nghiệp;
(e) việc duy trì một cơ sở kinh doanh cố định chỉ với mục đích tiến hành bất kỳ hoạt động nào khác có
tính chất chuẩn bị hoặc phụ trợ cho doanh nghiệp;
(f) việc duy trì một cơ sở kinh doanh cố định chỉ với mục đích kết hợp các hoạt động nêu tại các điểm (a)
tới điểm (e), với điều kiện sự kết hợp toàn bộ hoạt động nêu trên của cơ sở kinh doanh cố định đó mang
tính chất chuẩn bị hay phụ trợ.
5. Mặc dù có những quy định tại khoản 1 và 2, trường hợp một đối tượng - trừ đại lý có tư cách độc lập
được điều chỉnh tại khoản 6 - hoạt động tại một Nước ký kết thay mặt cho một doanh nghiệp của Nước ký
kết kia, doanh nghiệp đó sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết thứ nhất đối với mọi hoạt
động mà đối tượng trên thực hiện cho doanh nghiệp, nếu đối tượng đó:
(a) có và thường xuyên thực hiện tại Nước đó thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên doanh nghiệp,
trừ khi các hoạt động của đối tượng đó chỉ giới hạn trong phạm vi các hoạt động nêu tại khoản 4 mà
những hoạt động đó nếu được thực hiện thông qua một cơ sở kinh doanh cố định thì sẽ không làm cho cơ
sở kinh doanh cố định đó trở thành một cơ sở thường trú theo những quy định tại khoản đó; hay
(b) không có thẩm quyền nêu trên, nhưng thường xuyên duy trì tại Nước thứ nhất một kho hàng hóa, qua
đó đối tượng này thường xuyên giao hàng hóa thay mặt cho doanh nghiệp, với điều kiện có một hoạt
động khác liên quan tới việc bán hàng (như quảng cáo, xúc tiến hay các dịch vụ sau khi bán hàng) cũng
được chính doanh nghiệp hay do bất kỳ đối tượng nào khác thực hiện tại Nước thứ nhất.
6. Một doanh nghiệp sẽ không được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết nếu doanh nghiệp chỉ thực
hiện kinh doanh tại Nước đó thông qua một đại lý môi giới, một đại lý hoa hồng hoặc bất kỳ một đại lý
nào khác có tư cách độc lập, với điều kiện những đối tượng này chỉ hoạt động trong khuôn khổ kinh
doanh thông thường của họ. Tuy nhiên, khi các hoạt động của đại lý đó dành toàn bộ hay hầu như toàn bộ
cho hoạt động đại diện cho doanh nghiệp đó, đại lý đó sẽ không được coi là đại lý có tư cách độc lập theo
nghĩa của khoản này.
7. Việc một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết kiểm soát hoặc chịu sự kiểm soát bởi một
công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia hoặc đang tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước kia
(có thể thông qua một cơ sở thường trú hay dưới hình thức khác) sẽ không làm cho bất kỳ công ty nào trở
thành cơ sở thường trú của công ty kia.
Điều 6
THU THẬP TỪ BẤT ĐỘNG SẢN
1. Thu thập mà một đối tượng “bất động sản” sẽ có nghĩa theo như luật của Nước ký kết nơi có tài sản.
Trong mọi trường hợp thuật ngữ sẽ bao gồm cả tài sản đi liền với bất động sản, đàn gia súc và thiết bị sử
dụng trong nông nghiệp và lâm nghiệp, các quyền áp dụng theo các quy định tại luật chung về điền sản,
quyền sử dụng bất động sản và các quyền được hưởng các khoản thanh toán thay đổi hay cố định trả cho
việc khai thác hay quyền khai thác các mỏ, các nguồn khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác; các
tàu thủy, thuyền và máy bay sẽ không được coi là bất động sản.
3. Những quy định tại khoản 1 sẽ áp dụng đối với thu nhập phát sinh từ việc trực tiếp sử dụng, cho thuê
hay sử dụng bất động sản dưới bất kỳ hình thức nào khác.
4. Những quy định tại khoản 1 và 3 cũng sẽ áp dụng cho thu nhập từ bất động sản của một doanh nghiệp
và đối với thu nhập từ bất động sản được sử dụng để thực hiện các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập.
Điều 7
LỢI TỨC KINH DOANH
1. Lợi tức của một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ trường hợp doanh
nghiệp có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú tại Nước
kia. Nếu doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh theo cách trên, thì các khoản lợi tức của doanh nghiệp có
thể bị đánh thuế tại Nước kia, nhưng chỉ trên phần lợi tức phân bổ cho cơ sở thường trú đó.
2. Thể theo các quy định tại khoản 3, khi một doanh nghiệp của một Nước ký kết tiến hành hoạt động
kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú tại Nước kia, thì tại mỗi Nước ký kết sẽ
có những khoản lợi tức được phân bổ cho cơ sở thường trú nói trên mà cơ sở đó có thể thu được, nếu đó
là một doanh nghiệp riêng và tách biệt cùng tham gia vào các hoạt động như nhau hay tương tự trong
cùng những điều kiện như nhau hay tượng tự và có quan hệ hoàn toàn độc lập với doanh nghiệp mà cơ sở
đó được coi là cơ sở thường trú.
3. Khi xác định lợi tức của một cơ sở thường trú, cơ sở này sẽ được phép khấu trừ các khoản chi phí thực
tế phát sinh phục vụ cho hoạt động kinh doanh của cơ sở thường trú đó, bao gồm cả chi phí điều hành và
chi phí quản lý chung phát sinh tại Nước nơi cơ sở thường trú đó đóng hoặc ở bất kỳ nơi nào khác. Tuy
nhiên, sẽ không cho phép tính vào chi phí được trừ bất kỳ các khoản tiền nào, nếu có, do cơ sở thường trú
trả cho (trừ tiền thanh toán các chi phí thực tế) trụ sở chính của doanh nghiệp hay bất kỳ văn phòng nào
khác của doanh nghiệp, dưới hình thức tiền bản quyền, các khoản phí hay các khoản thanh toán tương tự
khác trả cho việc sử dụng bằng phát minh hay các quyền khác, hay dưới hình thức tiền hoa hồng trả cho
việc thực hiện các dịch vụ đặc biệt, hay trả cho việc quản lý, hay dưới hình thức lãi tiền vay đối với các
khoản tiền cho cơ sở thường trú đó vay, trừ trường hợp lãi tiền vay của tổ chức ngân hàng. Cũng tương
tự, trong khi xác định lợi tức của cơ sở thường trú, sẽ không tính đến các khoản tiền (trừ tiền thanh toán
chi phí thực tế) do cơ sở thường trú thu từ trụ sở chính của doanh nghiệp hay bất kỳ văn phòng khác của
doanh nghiệp dưới hình thức tiền bản quyền, các khoản chi phí hay bất kỳ khoản thanh toán tương tự
khác trả cho việc sử dụng bằng phát minh hay các quyền khác, hay dưới hình thức tiền hoa hồng trả cho
việc thực hiện các dịch vụ đặc biệt hay trả cho việc quản lý hay dưới hình thức lãi tiền vay đối với các
khoản tiền trả cho trụ sở chính của doanh nghiệp hay bất kỳ văn phòng khác của doanh nghiệp vay, trừ
trường hợp lãi tiền vay của tổ chức ngân hàng.
4. Trường hợp tại một Nước ký kết vẫn thường xác định các khoản lợi tức được phân bổ cho một cơ sở
thường trú trên cơ sở phân chia tổng các khoản lợi tức của doanh nghiệp thành những phần khác nhau,
không có nội dung nào tại khoản 2 sẽ ngăn cả Nước ký kết đó xác định lợi tức chịu thuế theo các phân
chia theo thông lệ trên; tuy nhiên, phương pháp phân chia được chấp nhận sẽ có kết quả phù hợp với
những nguyên tắc nêu tại Điều này.
5. Không một khoản lợi tức nào sẽ được phân bổ cho một cơ sở thường trú chỉ vì lý do cơ sở thường trú
đó mua hàng hóa cho doanh nghiệp.
6. Theo nội dung các khoản trên, các khoản lợi tức được phân bổ cho cơ sở thường trú sẽ được xác định
theo cùng một phương pháp giữa các năm trừ khi có đủ lý do chính đáng để xác định theo phương pháp
khác.
7. Khi lợi tức bao gồm các khoản thu nhập được đề cập riêng tại các Điều khác của Hiệp định này, thì các
quy định của các Điều đó sẽ không bị ảnh hưởng bởi những quy định tại Điều này.
Điều 8
VẬN TẢI BIỂN VÀ HÀNG KHÔNG
1. Lợi tức do một doanh nghiệp của một Nước ký kết thu được từ hoạt động của tàu thủy, hoặc máy bay
trong vận tải quốc tế sẽ bị đánh thuế tại Nước ký kết đó.
2. Những quy định tại khoản 1 cũng sẽ áp dụng đối với các khoản lợi tức thu được từ việc tham gia vào
một tổ hợp, liên doanh hay một hãng hoạt động quốc tế.
Điều 9
DOANH NGHIỆP LIÊN KẾT
1. Khi:
(a) một doanh nghiệp của một Nước ký kết tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm
soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của một Nước ký kết và vào một doanh nghiệp của Nước ký kết
kia,
và trong cả hai trường hợp, những điều kiện được đưa ra hoặc áp đặt trong mối quan hệ tài chính và
thương mại giữ hai doanh nghiệp trên khác với điều kiện được đưa ra giữa các doanh nghiệp độc lập, lúc
đó mọi khoản lợi tức mà một doanh nghiệp có thể thu được nếu không có những điều kiện trên nhưng nay
vì những điều kiện này doanh nghiệp đó mà không thu được, sẽ vẫn được một Nước ký kết tính vào các
khoản lợi tức của doanh nghiệp đó và bị đánh thuế tương ứng.
2. Khi một Nước ký kết tính vào các khoản lợi tức của một doanh nghiệp tại Nước đó - và đánh thuế
tương ứng - các khoản lợi tức mà một doanh nghiệp của Nước kia đã bị đánh thuế tại Nước ký kết kia và
Nước kia chấp nhận rằng các khoản lợi tức được tính vào như vậy là những khoản lợi tức lẽ ra thuộc về
doanh nghiệp của Nước thứ nhất nếu các điều kiện đặt ra giữa hai doanh nghiệp trên cũng là các điều kiện
lập ra giữa các doanh nghiệp độc lập, khi đó, Nước kia sẽ điều chỉnh các khoản thuế đã nộp đối với khoản
lợi tức trên cho phù hợp. Khi xác định điều chỉnh trên, sẽ xem xét tới các quy định khác của Hiệp định
này và các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ tham khảo ý kiến của nhau nếu cần thiết.
Điều 10
TIỀN LÃI CỔ PHẦN
1. Tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết trả cho một đối tượng cư trú
của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế ở Nước kia.
2. Tuy nhiên, những khoản tiền lãi cổ phần đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi công ty trả
tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú và theo các luật của Nước đó, nhưng nếu đối tượng thực hưởng tiền lãi
cổp hần là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia thì thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá:
(a) 7 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần nếu đối tượng thực hưởng là công ty (không kể tổ chức hùn vốn)
nắm giữ trực tiếp ít nhất 50 phần trăm vốn của công ty trả tiền lãi cổ phần;
(b) 10 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần nếu đối tượng thực hưởng là công ty (không kể tổ chức hùn
vốn) nắm giữ trực tiếp ít nhất 25 phần trăm những thấp hơn 50 phần trăm vốn của công ty trả tiền lãi cổ
phần;
(c) 15 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần trong tất cả các trường hợp khác.
Khoản này sẽ không ảnh hưởng tới việc đánh thuế công ty đối với lợi tức dùng để chia lãi cổ phần.
3. Thuật ngữ “tiền lãi cổ phần” được sử dụng trong Điều này có nghĩa là thu nhập từ cổ phần, cổ phần
khai thác mỏ, cổ phần sáng lập hoặc các quyền lợi khác không kể các khoản nợ, được hưởng lợi tức, cũng
như thu nhập từ các quyền lợi công ty khác cùng chịu sự điều chỉnh của chính sách thuế đối với thu nhập
từ cổ phần theo luật của Nước nơi công ty chia lãi cổ phần là đối tượng cư trú.
4. Những quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng trong trường hợp đối tượng thực hưởng các khoản
tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú tại một Nước ký kết có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký
kết kia, nơi công ty trả tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú, thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước
đó, hay tiến hành tại Nước kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơsở cố định tại
Nước kia, và quyền nắm giữ cổ phần nhờ đó được hưởng tiền lãi cổ phần, có sự liên hệ thực tế đến cơ sở
thường trú hoặc cơ sở cố định nói trên. Trong trường hợp như vậy các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14,
tùy trường hợp, sẽ được áp dụng.
5. Khi một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết có lợi tức hay thu nhập phát sinh từ Nước ký
kết kia thì Nước có thể không đánh thuế đối với những khoản tiền lãi cổ phần do công ty này trả, trừ
trường hợp những khoản tiền lãi cổ phần này được trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia, hoặc
quyền nắm giữ cổ phần có các khoản tiền lãi cổ phần được trả có sự liên hệ thực tế với một cơ sở thường
trú hay một cơ sở cố định tại Nước kia, đồng thời Nước kia cũng không buộc các khoản lợi tức không
chia của công ty trên phải chịu thuế đối với những khoản lợi tức không chia của công ty, cjho dù những
khoản tiền lãi cổ phần được chia hoặc các lợi tức không chia bao gồm toàn bộ hay một phần các khoản lợi
tức hoặc thu nhập phát sinh tại Nước kia.
Điều 11
LÃI TỪ TIỀN CHO VAY
1. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết
kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Tuy nhiên, khoản tiền lãi này cũng có thể bị đánh thuế ở Nước ký kết nơi phát sinh lãi và theo các luật
của Nước đó, nhưng nếu đối tượng thực hưởng các khoản tiền lãi này là đối tượng cư trú của Nước ký kết
kia thì mức thuế khi đó được tính sẽ không vượt quá 10 phần trăm của tổng số khoản lãi từ tiền cho vay.
3. Mặc dù có những quy định tại khoản 2, lãi từ tiền cho vay phát sinh tại một Nước ký kết và trả cho đối
tượng cư trú của Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước kia nếu người nhận là người thực hưởng lãi
từ tiền cho vay và khoản lãi từ tiền cho vay này là:
(a) do Chính phủ của Nước ký kết kia, kể cả các cơ quan chính quyền cơ sở và chính quyền địa phương
của Nước đó, thu được;
(b) do Ngân hàng Trung ương của Nước ký kết kia thu được;
(c) do một tổ chức tài chính thuộc sở hữu hay chịu sự kiểm soát của Chính phủ của Nước ký kết kia, kể
cả các cơ quan chính quyền cơ sở và chính quyền địa phương của Nước đó, thu được;
(d) trả cho khoản nợ do Chính phủ của Nước đó kể cả cơ quan chính quyền cơ sở và chính quyền địa
phương, Ngân hàng Trung ương của Nước đó hay bất kỳ tổ chức tài chính nào do Chính phủ của Nước đó
sở hữu hay kiểm soát cho vay, bảo lãnh hoặc bảo đảm.
4. Các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ giải quyết cách thức áp dụng khoản 2 và 3
thông qua thủ tục thỏa thuận song phương.
5. Thuật ngữ “lãi từ tiền cho vay” dùng ở Điều này có nghĩa là thu nhập từ các khoản cho vay dưới bất kỳ
dạng nào, có hay không được đảm bảo rằng thế chấp và có hoặc không có quyền được hưởng lợi tức của
người đi vay, và đặc biệt là khoản thu nhập từ chứng khoán của chính phủ và thu nhập từ trái phiếu hoặc
trái phiếu công ty, bao gồm cả tiền thưởng và giải thưởng đi liền với các chứng khoáng, trái phiếu hoặc
trái phiếu công ty đó cũng nhu thu nhập khác tương tự thu nhập từ tiền cho vay theo các luật thuế của
Nước nơi thu nhập phát sinh. Tiền phạt thanh toán chậm sẽ không được coi là lãi từ tiền cho vay theo nội
dung của Điều này.
6. Những quy định tại khoản 2 và 3 sẽ không được áp dụng nếu người thực hưởng các khoản lãi từ tiền
cho vay là đối tượng cư trú tại một Nước ký kết, tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi
phát sinh các khoản lãi từ tiền cho vay, thông qua một cơ sở thường trú tại Nước kia hoặc thực hiện tại
Nước kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định tại Nước kia và khoản nợ có
các khoản tiền lãi được trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú hay cơ sở cố định đó. Trong trường
hợp này, các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14 tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
7. Lãi từ tiền cho vay sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi người trả là đối tượng cư trú của
Nước đó. Tuy nhiên, khi đối tượng trả lãi, có tại một Nước ký kết một cơ sở thường trú hay một cơ sở cố
định liên quan đến các khoản nợ đã phát sinh các khoản lãi này, và khoản tiền lãi trên cơ sở thường trú
hoặc cơ sở cố định đó chịu thì dù đối tượng có là đối tượng cư trú của một Nước ký kết hay không, khoản
tiền lãi này sẽ vẫn được coi là phát sinh tại Nước nơi cơ sở thường trú hay cơ sở cố định đó đóng.
8. Trường hợp do mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả lãi và đối tượng hưởng lãi hoặc giữa cả hai đối
tượng trên và các đối tượng khác, khoản lãi từ tiền cho vay, liên quan đến khoản cho vay có số tiền lãi
được trả vượt quá khoản tiền được thỏa thuận giữa đối tượng đi vay và đối tượng thực hưởng khi không
có mối quan hệ này, thì khi đó, các quy định của Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với các khoản tiền thanh
toán khi không có mối quan hệ đặc biệt trên. Trong trường hợp này, phần thanh toán vượt sẽ bị đánh thuế
theo các luật của mỗi Nước ký kết có xem xét tới các quy định khác của Hiệp định này.
Điều 12
TIỀN BẢN QUYỀN
1. Tiền bản quyền phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có
thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
2. Tuy nhiên, những khoản tiền bản quyền đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi các khoản tiền
bản quyền đó phát sinh, và theo các luật của Nước đó, nhưng nếu đối tượng thực hưởng tiền bản quyền là
đối tượng cư trú của Nước ký kết kia thì mức thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá 10 phần trăm tổng
số tiền bản quyền.
3. Thuật ngữ “tiền bản quyền” được sử dụng trong Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán ở bất kỳ
dạng nào được trả cho việc sử dụng, hoặc quyền sử dụng, bản quyền tác giả của một tác phẩm văn học,
nghệ thuật hay khoa học, kể cả phim điện ảnh và các loại phim hay các loại băng dùng trong phát thanh
và truyền hình, bằng phát minh, nhãn hiệu thương mại, thiết kế hoặc mẫu, đồ án, công thức hoặc quy trình
bí mật, hay trả cho việc sử dụng, hay quyền sử dụng thiết bị công nghiệp, thương mại hoặc khoa học, hay
trả cho thông tin liên quan đến các kinh nghiệm công nghiệp, thương nghiệp hoặc khoa học.
4. Những quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng nếu đối tượng thực hưởng các khoản tiền bản
quyền, là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành hoạt động kinh doanh ở Nước ký kết kia nơi có
khoản tiền bản quyền phát sinh, thông qua một cơ sở thường tur1 nằm tại Nước kia hoặc tiến hành tại
Nước kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định tại Nước kia, và quyền hay
tài sản có các khoản tiền bản quyền được trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định
đó. Trong trường hợp này các quy định của Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
5. Tiền bản quyền sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết đối tượng trả tiền bản quyền chính là đối
tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi một đối tượng trả tiền bản quyền, là hay không là đối tượng cư
trú của một Nước ký kết, có tại một Nước ký kết một cơ sở thường trú haymột cơ sở cố định liên quan
đến trách nhiệm trả tiền bản quyền đã phát sinh và tiền bản quyền đó do cơ sở thường trú hay cơ sở cố
định đó chịu thì khoản tiền bản quyền này sẽ được coi là phát sinh ở Nước nơi cơ sở thường trú hay cơ sở
cố định đó đóng.
6. Trường hợp vì mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả và đối tượng thực hưởng hoặc giữa cả hai đối
tượng trên với các đối tượng khác, khoản tiền bản quyền, liên quan đến việc sử dụng, quyền hay thông tin
có số tiền bản quyền được trả, vượt quá khoản tiền được thỏa thuận giữa đối tượng trả tiền và đối tượng
thực hưởng khi không có mối quan hệ đặc biệt này, thì các quy định của Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với
khoản tiền thanh toán khi không có mối quan hệ trên. Trong trường hợp đó, phần thanh toán vượt sẽ bị
đánh thuế theo luật của từng Nước ký kết có xem xét tới các quy định khác của Hiệp định này.
Điều 13
LỢI TỨC TỪ CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN
1. Lợi tức do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ việc chuyển nhượng bất động sản
được nêu tại Điều 6 và bất động sản đó nằm tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Lợi tức từ việc chuyển nhượng động sản là một phần của tài sản kinh doanh của một cơ sở thường trú
mà một doanh nghiệp của một Nước ký kết có tại Nước ký kết kia hoặc động sản thuộc một cơ sở cố định
của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết có ở Nước ký kết kia để tiến hành hoạt động dịch vụ cá
nhân độc lập kể cả lợi tức từ việc chuyển nhượng cơ sở thường trú đó (riêng cơ sở thường trú đó hoặc
cùng với toàn bộ doanh nghiệp) hoặc cơ sở cố định đó có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
3. Lợi tức thu được từ việc chuyển nhượng các tàu thủy hoặc máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế hay
từ chuyển nhượng động sản gắn liền với hoạt động của các tàu thủy hoặc máy bay đó sẽ bị đánh thuế tại
Nước ký kết nơi doanh nghiệp đó là đối tượng cư trú.
4. Lợi tức một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ việc chuyển nhượng các cổ phần hay
các lợi ích tương ứng phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50 phần trăm giá trị từ bất động sản nằm tại
một Nước ký kết có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
5. Lợi tức thu được từ việc chuyển nhượng một phần vốn từ 25 phần trăm trở lên trong vốn cổ phần của
một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, trừ những trường hợp đã nêu tại khoản 4, có thể bị
đánh thuế tại Nước đó.
6. Lợi tức thu được từ việc chuyển nhượng bất kỳ tài sản nào khác với tài sản nêu tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5
sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi đối tượng chuyển nhượng là đối tượng cư trú.
Điều 14
HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CÁ NHÂN ĐỘC LẬP
1. Thu nhập do một cá nhân là đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các hoạt động dịch vụ
ngành nghề hay các hoạt động khác có tính chất độc lập sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó trừ những trường
hợp sau, thu nhập đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia:
(a) Nếu đối tượng đó thường xuyên có tại Nước ký kết kia một cơ sở cố định nhằm mục đích thực hiện
các hoạt động của mình; trong những trường hợp đó chỉ phần thu nhập được phân bổ cho cơ sở cố định
đó có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia; hay
(b) Nếu đối tượng đó có mặt tại Nước ký kết kia trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian
gộp lại đến hay trên 183 ngày trong năm tài chính có liên quan; trong trường hợp đó chỉ phần thu nhập
thu được từ các hoạt động của đối tượng này được thực hiện tại Nước kia có thể bị đánh thuế tại Nước
kia.
2. Thuật ngữ “dịch vụ ngành nghề” bao gồm chủ yếu những hoạt động độc lập như khoa học, văn học,
nghệ thuật, giáo dục hay giảng dạy cũng như các hoạt động độc lập của các thầy thuốc, bác sĩ, luật sư, kỹ
sư, kiến trúc sư, nha sĩ và kế toán viên.
Điều 15
HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CÁ NHÂN PHỤ THUỘC
1. Thể theo các quy định tại Điều 16, 18, 19, 20 và 21, các khoản tiền lương, tiền công, và các khoản tiền
thù lao tương tự khác do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ lao động làm công sẽ chỉ
bị đánh thuế tại Nước đó, trừ khi công việc của đối tượng đó được thực hiện tại Nước ký kết kia. Nếu
công việc làm công được thực hiện như vậy, số tiền công trả cho lao động đó có thể bị đánh thuế tại Nước
kia.
2. Mặc dù có những quy định tại khoản 1, tiền công do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu
được từ lao động làm công tại Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước thứ nhất nếu:
(a) người nhận tiền công có mặt tại Nước kia trong một khoảng thời gian hoặc nhiều khoảng thời gian
gộp lại không quá 183 ngày trong năm tài chính liên quan, và
(b) chủ lao động hay đối tượng đại diện chủ lao động trả tiền thù lao lao động không phải là đối tượng cư
trú tại Nước kia, và
(c) số tiền công không phải phát sinh tại một cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định mà đối tượng chủ lao
động có tại Nước kia.
3. Mặc dù có những quy định trên của Điều này, tiền công thu được từ lao động làm trên tàu thủy hoặc
máy bay do một doanh nghiệp của một Nước ký kết điều hành trong vận tải quốc tế sẽ chỉ bị đánh thuế tại
Nước ký kết đó.
Điều 16
THÙ LAO CHO GIÁM ĐỐC
Các khoản thù lao cho giám đốc và các khoản thanh toán tương tự khác do một đối tượng cư trú của một
Nước ký kết nhận được với tư cách là thành viên của ban giám đốc của một công ty là đối tượng cư trú
của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế ở Nước kia.
Điều 17
NGHỆ SĨ VÀ VẬN ĐỘNG VIÊN
1. Mặc dù có những quy định tại Điều 14 và 15, thu nhập của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết
thu được với tư cách là người biểu diễn như diễn viên sân khấu, điện ảnh, phát thanh hay truyền hình,
hoặc nhạc công, hoặc với tư cách là vận động viên từ những hoạt động cá nhân của mình thực hiện tại
Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế ở Nước kia.
2. Trường hợp thu nhập liên quan đến các hoạt động trình diễn cá nhân của người biểu diễn hoặc vận
động viên nhưng không được trả cho bản thân người biểu diễn hoặc vận động viên, mà trả cho một đối
tượng khác thì thu nhập này có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi diễn ra những hoạt động trình diễn
của người biểu diễn hoặc vận động viên, mặc dù đã có những quy định tại Điều 7, 14 và 15
3. Mặc dù những quy định tại khoản 1 và 2, thu nhập do những người biểu diễn hay vận động viên là đối
tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các hoạt động cá nhân của mình tại Nước ký kết kia trong
khuôn khổ chương trình trao đổi văn hóa giữa Chính phủ của hai Nước ký kết sẽ được miễn thuế tại Nước
ký kết kia.
Điều 18
PHỤC VỤ CHÍNH PHỦ
1. (a) Các khoản tiền lương, tiền công và các khoản thù lao tương tự khác, trừ tiền lương hưu, do một
Nước ký kết hoặc một cơ quan chính quyền cơ sở hay chính quyền địa phương của Nước đó trả cho một
cá nhân đối với việc phục vụ cho Nước đó hoặc chính quyền cơ sở hay chính quyền địa phương đó sẽ chỉ
bị đánh thuế ở Nước đó.
(b) Tuy nhiên, khoản tiền lượng, tiền công và các khoản thù lao tương tự khác sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước
ký kết kia nếu việc phục vụ này được thực hiện tại Nước kia và cá nhân này là đối tượng cư trú của Nước
kia, đồng thời:
(i) là đối tượng mang quốc tịch của Nước kia; hoặc
(ii) không trở thành đối tượng cư trú của Nước kia chỉ đơn thuần vì thực hiện những công việc trên.
2 (a) Bất kỳ khoản tiền lương hưu nào do một Nước ký kết, một cơ quan chính quyền cơ sở hoặc một cơ
quan chính quyền địa phương của Nước đó hoặc do các quỹ của những cơ quan này lập ra trả cho một cá
nhân đối với các công việc phục vụ cho Nhà nước hoặc các cơ quan chính quyền cơ sở hay chính quyền
địa phương tại Nước đó sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước đó.
(b) Tuy nhiên, những khoản tiền lương hưu này sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước ký kết kia nếu cá nhân này là
đối tượng cư trú và là đối tượng mang quốc tịch của Nước kia.
3. Các quy định của Điều 15, 16, 17 và 18 sẽ áp dụng đối với tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù
lao tương tự khác và lương hưu được trả đối với việc phục vụ liên quan đến một hoạt động kinh doanh
được tiến hành bởi một Nước ký kết hoặc cơ quan chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương của
Nước đó.
Điều 20
SINH VIÊN VÀ THỰC TẬP SINH
1. Những khoản tiền mà một sinh viên hay thực tập sinh nhận được để trang trải các chi phí hoạt động,
học tập hay đào tạo mà người sinh viên hay thực tập sinh này ngay trước khi đến một Nước ký kết đang
và đã là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia và hiện có mặt tại Nước thứ nhất chỉ với mục đích học tập
hay đào tạo, sẽ không bị đánh thuế tại Nước đó, với điều kiện những khoản tiền đó có nguồn gốc từ bên
ngoài Nước này.
2. Mặc dù có những quy định tại Điều 14 và 15, các khoản tiền thù lao trả cho các dịch vụ do sinh viên và
thực tập sinh thực hiện tại một Nước ký kết sẽ không chịu thuế tại Nước đó đối với khoản tiền ban đầu có
giá trị 15.000 Euro hoặc số tương đương bằng đồng Việt Nam cho mỗi năm tài chính, với điều kiện các
dịch vụ này liên quan tới việc học tập hay đào tạo của sinh viên và thực tập sinh đó.
Điều 21
GIÁO VIÊN, GIÁO SƯ VÀ NHÀ NGHIÊN CỨU
1. Một cá nhân, đối tượng hiện là hay ngay trước khi sang một Nước ký kết đã là đối tượng cư trú của
một Nước ký kết và có mặt tại Nước ký kết thứ nhất với mục đích giảng dạy hoặc tiến hành nghiên cứu
tại một trường đại học, cao đẳng, trường học hay cơ sở giáo dục hay viện nghiên cứu khoa học mang tính
chất công tại Nước ký kết thứ nhất sẽ được miễn thuế tại Nước ký kết thứ nhất đó đối với khoản tiền thù
lao ban đầu có giá trị 30.000 euro hay số lượng tương đương bằng đồng Việt Nam cho việc giảng dạy,
hay nghiên cứu nêu trên cho mỗi năm tài chính, trong giai đoạn hai năm kể từ ngày cá nhân đó lần đầu
tiên sang Nước ký kết thứ nhất.
2. Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với thu nhập từ hoạt động nghiên cứu nếu việc nội dung đó do cá nhân
thực hiện nhằm phục vụ lợi ích công cộng và chủ yếu được thực hiện không vì lợi ích của một cá nhân
hay tổ chức tư nhân nào khác.
Điều 22
THU NHẬP KHÁC
1. Những khoản thu nhập của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết, cho dù phát sinh ở đâu, chưa
được đề cập đến tại những Điều trên của Hiệp định này sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
2. Những quy định tại khoản 1 sẽ không áp dụng đối với thu nhập, trừ thu nhập từ bất động sản được định
nghĩa tại khoản 2 Điều 6, nếu đối tượng nhận thu nhập là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, có tiến
hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước kia hay
thực hiện tại Nước kia những hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định tại Nước
kia, và quyền hay tài sản liên quan đến số thu nhập được chi trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú
hay cơ sở cố định đó. Trong trường hợp như vậy những quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng
trường hợp, sẽ được áp dụng.
Điều 23
CÁC BIỆN PHÁP XÓA BỎ VIỆC ĐÁNH THUẾ HAI LẦN
1. Tại Việt Nam, việc đánh thuế hai lần sẽ được xóa bỏ như sau:
(a) Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được thu nhập, lợi tức hay lợi tức từ chuyển
nhượng tài sản mà theo luật của Tây Ban Nha và phù hợp với Hiệp định này có thể bị đánh thuế tại Tây
Ban Nha, khi đó, Việt Nam sẽ cho phép hưởng một khoản khấu trừ thuế đối với thu nhập, lợi tức hay lợi
tức từ chuyển nhượng tài sản tương đương với số thuế đã nộp tại Tây Ban Nha. Tuy nhiên, số thuế khấu
trừ sẽ không vượt quá số thuế Việt Nam đối với thu nhập, lợi tức hay lợi tức từ chuyển nhượng tài sản
được tính phù hợp với các luật thuế và các quy định về thuế của Việt Nam.
(b) Trường hợp căn cứ theo các quy định của Hiệp định thu nhập mà một đối tượng cư trú của Việt Nam
nhận được được miễn thuế tại Việt Nam, khi đó trong quá trình xác định số thuế phải nộp đối với thu
nhập còn lại của đối tượng cư trú đó, Việt Nam có thể xem xét đến khoản thu nhập được miễn thuế đó.
2. Tại Tây Ban Nha, phù hợp với các quy định và trong phạm vi các luật của Tây Ban Nha, việc đánh
thuế hai lần sẽ được xóa bỏ như sau:
(a) Khi một đối tượng cư trú của Tây Ban Nha nhận được thu nhập, phù hợp với các quy định của Hiệp
định này, có thể bị đánh thuế tại Việt Nam thì Tây Ban Nha sẽ cho phép:
(i) được khấu trừ thuế đối với thu nhập của đối tượng cư trú đó tương đương với số thuế thu nhập đã nộp
tại Việt Nam;
(ii) được khấu trừ thuế thu nhập công ty liên quan đến số thu nhập dùng để chia lãi cổ phần phù hợp với
nội luật của Tây Ban Nha.
Tuy nhiên, khoản khấu trừ đó sẽ không vượt quá phần thuế thu nhập đã được tính trước khi thực hiện việc
khấu trừ và được phân bổ, tùy từng trường hợp, cho thu nhập có thể chịu thuế tại Việt Nam.
Tuy nhiên, khoản khấu trừ đó sẽ không vượt quá phần thuế thu nhập đã được tính trước khi thực hiện việc
khấu trừ và được phân bổ, tùy từng trường hợp, cho thu nhập có thể chịu thuế tại Việt Nam.
(b) Phù hợp với các quy định của Hiệp định này, trường hợp thu nhập của một đối tượng cư trú của Tây
Ban Nha được miễn thuế tại Tây Ban Nha, khi tính thuế đối với thu nhập còn lại của đối tượng cư trú đó,
Tây Ban Nha có thể xem xét đến khoản thu nhập đã được miễn thuế.
(c) Theo nội dung tại điểm 2(a) Điều này, thuế thu nhập do một đối tượng cư trú Tây Ban Nha đã nộp tại
Việt Nam đối với lợi tức kinh doanh thu được thông qua một cơ sở thường trú đặt tại Việt Nam sẽ được
coi là bao gồm mọi khoản thuế lẽ ra phải nộp như là thuế Việt Nam trong bất kỳ năm nào nếu không được
hưởng miễn hay giảm thuế cho năm đó hay bất kỳ khoản miễn hoặc giảm thuế nào do áp dụng các quy
định của Luật Việt Nam nhằm mở rộng giới hạn thời gian được hưởng ưu đãi thuế để khuyến khích đầu
tư nước ngoài cho mục đích phát triển. Các quy định tại điểm này sẽ được áp dụng trong khoảng thời gian
10 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Các nhà chức trách có thẩm quyền sẽ tham khảo ý kiến của
nhau để xác định khoảng thời gian này sẽ được gia hạn hay không.
(d) Theo nội dung tại điểm 2(a) Điều này, số thuế đã nộp tại Việt Nam đối với tiền lãi cổ phần áp dụng
theo khoản 2 Điều 10, lãi từ tiền cho vay theo khoản 2 Điều 11 và tiền bản quyền theo khoản 2 Điều 12,
sẽ được coi là các mức thuế suất được thiết lập liên quan tới Điều 10 của Hiệp định này đối với tổng số
tiền lãi cổ phần, 10 phần trăm tổng số lãi từ tiền cho vay và 10 phần trăm tổng số tiền bản quyền đã nêu
trên. Các quy định tại điểm này sẽ áp dụng trong khoảng thời gian 10 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu
lực và sẽ không có hiệu lực đối với các khoản thu nhập từ đầu tư gián tiếp, như được quy định tại Luật
thuế công ty của Tây Ban Nha. Các nhà chức trách có thẩm quyền sẽ tham khảo ý kiến của nhau để xác
định khoảng thời gian này sẽ được gia hạn hay không.
Điều 24
KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ
1. Những đối tượng mang quốc tịch của một Nước ký kết sẽ không phải chịu bất kỳ hình thức thuế nào
hay bất kỳ yêu cầu nào có liên quan tại Nước ký kết kia, khác với hay nặng hơn so với hình thức thuế và
các yêu cầu có liên quan hiện mà các đối tượng mang quốc tịch của Nước kia trong cùng những hoàn
cảnh như nhau hiện đang hoặc có thể phải chịu thuế.
2. Hình thức thuế áp dụng đối với một cơ sở thường trú mà một doanh nghiệp của một Nước ký kết đặt tại
Nước ký kết kia sẽ không kém thuận lợi hơn thuế áp dụng đối với các doanh nghiệp của Nước kia khi
thực hiện các hoạt động như nhau.
3. Trừ trường hợp áp dụng các quy định của khoản 1 Điều 9, khoản 8 Điều 11, hay khoản 6 Điều 12, lãi
từ tiền cho vay, tiền bản quyền và các khoản thanh toán khác đã trả, khi xác định các khoản lợi tức chịu
thuế của doanh nghiệp đó, sẽ được trừ vào chi phí theo cùng những điều kiện như các khoản tiền đó được
trả cho một đối tượng cư trú của Nước thứ nhất.
4. Các doanh nghiệp của một Nước ký kết có toàn bộ hay một phần vốn do một hay nhiều đối tượng cư
trú của Nước ký kết kia sở hữu hay kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, sẽ không phải chịu tại Nước ký kết
thứ nhất bất kỳ hình thức thuế hay yêu cầu liên quan khác với hay nặng hơn so với hình thức thuế và các
yêu cầu liên quan mà các doanh nghiệp tương tự khác của Nước thứ nhất hiện đang hoặc có thể phải chịu
thuế.
5. Không nội dung nào tại Điều này sẽ được giải thích là buộc một Nước ký kết cho phép các đối tượng
cư trú của Nước ký kết kia hưởng các khoản trợ cấp cá nhân, miễn và giảm dưới giác độ thuế mà Nước đó
cho các đối tượng cư trú của mình hưởng vì tư cách công dân hay các trách nhiệm đối với gia đình.
6. Mặc dù có những quy định tại Điều này, cho tới khai Việt Nam tiếp tục cấp giấy phép cho các nhà đầu
tư theo Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam, trong đó quy định hình thức thuế mà nhà đầu tư sẽ phải
chịu, khi đó, việc áp dụng hình thức thuế đó sẽ không được coi là vi phạm các điều khoản tại khoản 2 và
4 của Điều này.
7. Những quy định tại Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với các loại thuế thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp
định này.
Điều 25
THỦ TỤC THỎA THUẬN SONG PHƯƠNG
1. Trường hợp một đối tượng là đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận thấy rằng việc giải quyết của
nhà chức trách có thẩm quyền của một hay cả hai Nước ký kết làm cho hay sẽ làm cho đối tượng đó phải
nộp thuế không phù hợp với những quy định của Hiệp định này, đối tượng này có thể giải trình trường
hợp của mình với nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết mà đối tượng đó là đối tượng cư trú,
mặc dù trong nội luật của hai Nước đã quy định những chế độ xử lý khiếu nại. Trường hợp đó phải được
giải trình trong thời hạn 3 năm kể từ lần thông báo giải quyết đầu tiên đến hình thức thuế áp dụng không
đúng với những quy định của Hiệp định.
2. Nhà chức trách có thẩm quyền sẽ cố gắng, nếu như việc khiếu nại là hợp lý và nếu bản thân nhà chức
trách đó không thể đi đến một giải pháp thỏa đáng, phối hợp với nhà chức trách có thẩm quyền của Nước
ký kết kia để cùng giải quyết trường hợp khiếu nại bằng thỏa thuận chung, nhằm mục đích trách đánh
thuế không phù hợp với nội dung của Hiệp định này. Mọi thỏa thuận đạt được sẽ được thực hiện mặc dù
có những giới hạn thời gian trong nội luật của hai Nước ký kết.
3. Nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ cố gắng giải quyết mọi khó khăn hay vướng mắc
nảy sinh trong quá trình áp dụng Hiệp định này. Nhà chức trách có thẩm quyền của Hai Nước cũng có thể
cùng trao đổi nhằm xóa bỏ việc đánh thuế hai lần trong các trường hợp không được quy định tại Hiệp
định này.
4. Nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết có thể liên hệ trực tiếp với nhau nhằm mục đích đạt
được một thỏa thuận theo nội dung những khoản trên đây.
Điều 26
TRAO ĐỔI THÔNG TIN
1. Nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ trao đổi những thông tin cần thiết để thực hiện
những quy định của Hiệp định này hay của nội luật từng Nước ký kết liên quan đến các loại thuế mà Hiệp
định này áp dụng sao cho việc đánh thuế theo nội luật sẽ không trái với Hiệp định này. Mọi thông tin do
một Nước ký kết nhận được sẽ được giữ bí mật giống như thông tin thu nhận theo nội luật của Nước này
và thông tin đó sẽ chỉ được cung cấp cho các đối tượng hay các cơ quan chức trách (bao gồm toà án và
các cơ quan hành chính) có liên quan đến việc tính toán hay thu thuế, cưỡng chế hay truy tố hoặc xác định
các khiếu nại về các loại thuế mà Hiệp định này áp dụng. Các đối tượng hoặc các cơ quan chức trách này
sẽ chỉ sử dụng các thông tin đó vào các mục đích nêu trên. Các đối tượng và các cơ quan đó có thể cung
cấp các thông tin này trong quá trình tố tụng công khai của tòa án hay trong các quyết định của tòa án.
2. Không có trường hợp nào những quy định tại khoản 1 được giải thích là buột một Nước ký kết có
nghĩa vụ:
(a) thực hiện các biện pháp hành chính khác với luật pháp hay thông lệ về quản lý hành chính của Nước
ký kết đó hay của Nước ký kết kia;
(b) cung cấp những thông tin không thể tiết lộ được theo các luật hay trong khuôn khổ quản lý hành
chính thông thường của Nước ký kết đó hay của Nước ký kết kia;
(c) cung cấp những thông tin có thể làm tiết lộ bí mật về thương mại, kinh doanh, công nghiệp, thương
nghiệp hay bí mật nghề nghiệp hoặc các phương thức kinh doanh, hoặc cung cấp những thông tin mà việc
tiết lộ chúng có thể trái với chính sách nhà nước.
Điều 27
CÁC VIÊN CHỨC NGOẠI GIA VÀ LÃNH SỰ
Không nội dung nào trong Hiệp định này ảnh hưởng đến những ưu đãi về thuế của các viên chức ngoại
giao và lãnh sự theo những nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế hay những quy định trong các hiệp
định đặc biệt.
Điều 28
HIỆU LỰC
1. Chính phủ của hai Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau các thủ tục nội bộ cần thiết của từng Nước ký
kết để Hiệp định này có hiệu lực. Hiệp định này sẽ có hiệu lực kể từ ngày thông báo sau cùng.
2. Hiệp định này sẽ được áp dụng:
(a) đối với các khoản thuế khấu trừ tại nguồn, liên quan đến khoản chịu thuế được chi trả vào hoặc sau
ngày 01 tháng 01 của năm dương lịch tiếp sau năm Hiệp định có hiệu lực và trong các năm dương lịch
tiếp theo;
(b) đối với các loại thuế khác, liên quan đến thu nhập, lợi tức hay lợi tức từ chuyển nhượng tài sản phát
sinh trong năm dương lịch tiếp sau năm Hiệp định có hiệu lực và trong các năm dương lịch tiếp theo.
Điều 29
KẾT THÚC HIỆP ĐỊNH
Hiệp định này sẽ vẫn còn hiệu lực cho tới khi một Nước ký kết tuyên bố chấm dứt hiệu lực. Từng Nước
ký kết thông qua đường ngoại giao có thể chấm dứt hiệu lực Hiệp định bằng cách gửi cho Nước ký kết
kia thông báo bằng văn bản về việc chấm dứt hiệu lực Hiệp định ít nhất sáu tháng trước khi kết thúc bất
kỳ năm dương lịch bắt đầu từ sau thời hạn năm năm kể từ ngày Hiệp định sẽ hết hiệu lực thi hành:
(a) đối với các loại thuế khấu trừ tại nguồn, liên quan đến các khoản chịu thuế được chi trả vào hoặc sau
ngày 01 tháng 01 của năm dương lịch tiếp sau năm dương lịch gửi thông báo kết thúc hiệu lực Hiệp định
và trong các năm dương lịch tiếp theo.
ĐỂ LÀM BẰNG những người được ủy quyền của từng Chính phủ dưới đây đã ký vào Hiệp định này.
Hiệp định làm thành hai bản tại Hà Nội ngày 07 tháng 3 năm hai ngàn không trăm linh năm mỗi bản gồm
các ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh, tất cả các văn bản đều có giá trị như nhau.
Trường hợp có sự giải thích khác nhau, văn bảng tiếng Anh sẽ có giá trị quyết định./.
TM. CHÍNH PHỦ
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
THỨ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH VIỆT NAM
TM. CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC
TÂY BAN NHA
QUỐC VỤ KHANH THƯƠNG MẠI
VÀ DU LỊCH
Lê Thị Băng Tâm
Pedro Mejía Gómez
NGHỊ ĐỊNH THƯ
Tại thời điểm ký kết Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Tây Ban
Nha về việc trách đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu
nhập, những người được ủy quyền dưới đây đã thỏa thuận những quy định sau sẽ là phần không thể tách
rời của Hiệp định.
I. Liên quan đến Điều 5 khoản 3
Thuật ngữ “cùng một dự án” đề cập đến một dự án có thể bao gồm nhiều phần khác nhau, trong trường
hợp như vậy, mỗi phần phải có một mối liên kết với nhau về nghĩa thương mại và địa lý.
II. Liên quan đến Điều 5 khoản 6
Câu thứ hai tại khoản 6 Điều 5 sẽ được giải thích như sau:
Một nhân tố cần xem xét khi xác định tư cách độc lập là số lượng các doanh nghiệp do một đại lý làm đại
diện. Tư cách độc lập sẽ ít có khả năng nếu các hoạt động của đại lý được thực hiện toàn bộ hay hầu như
toàn bộ thay mặt cho chỉ một doanh nghiệp trong suốt thời gian kinh doanh hay trong một khoảng thời
gian dài. Tuy nhiên, thực tế này chưa đủ để xác định là yếu tố quyết định. Cần phải xem xét toàn bộ sự
kiện thực tế cũng như hoàn cảnh để xác định liệu các hoạt động của đại lý có tạo thành việc kinh doanh tự
chủ do chính đại lý tiến hành, trong đó những hoạt động này là do đại lý chịu rủi ro và được hưởng lợi
nhuận thông qua việc sử dụng những kỹ năng và kiến thức kinh doanh của mình. Trường hợp một đại lý
đại diện cho nhiều doanh nghiệp trong khuôn khổ hoạt động kinh doanh thông thường của mình và không
doanh nghiệp nào chiếm ưu thế đối với hoạt động kinh doanh do đại lý thực hiện, khi đó sẽ coi là có sự
phối phụ thuộc pháp lý nếu các doanh nghiệp phối hợp cùng kiểm soát các hoạt động của đại lý trong
khuôn khổ hoạt động kinh doanh của đại lý thay mặt cho các doanh nghiệp này.
III. Liên quan đến Điều 5
Ngay khi khung pháp lý về tài chính của hai Nước ký kết cho phép các công ty bảo hiểm đặt tại một
Nước ký kết được cung cấp các dịch vụ tại Nước ký kết kia thông qua một đối tượng, không phải là đại lý
độc lập, trên cơ sở có đi có lại, các nhà chức trách có thẩm quyền có thể, thông qua thư trao đổi, thiết lập
tư cách cư trú của các công ty trên để thống nhất việc bổ sung một khoản mới vào Điều 5 Hiệp định.
IV. Liên quan đến Điều 5 và Khoản 1 Điều 7
a) Tại Nước ký kết nơi cơ sở thường trú đóng, không khoản lợi nhuận nào sẽ được phân bổ cho địa điểm
xây dựng hay công trường xây dựng hay dự án lắp đặt trừ những khoản lợi tức là kết quả của chính những
hoạt động nêu trên. Lợi tức thu được từ việc cung cấp máy móc hay thiết bị liên quan đến các hoạt động
này và chịu ảnh hưởng của cơ sở thường trú chính hay bất kỳ cơ sở thường trú nào khác của doanh nghiệp
hay chịu ảnh hưởng của bên thứ ba sẽ không được phân bổ địa điểm xây dựng hoặc công trình xây dựng
hay dự án lắp đặt.
b) Trường hợp không có dữ liệu kế toán hay dữ liệu khác phù hợp để xác định lợi tức phân bổ cho cơ sở
thường trú, khi đó thuế được tính lại Nước ký kết nơi cơ sở thường trú đóng có thể được tính phù hợp với
các luật của Nước đó, đặc biệt có xem xét tới các khoản lợi tức thông thường của các doanh nghiệp tương
tự cùng tham gia trong các điều kiện như nhau hay tương tự, với điều kiện dựa trên thông tin sẵn có, việc
xác định lợi tức của cơ sở thường trú phải phù hợp với các nguyên tắc được nêu tại Điều này.
c) Các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ trao đổi như theo Điều 25 Hiệp định này để
làm rõ việc áp dụng các lợi ích của Hiệp định tại từng Nước ký kết.
V. Liên quan đến Điều 10 khoản 2
Đối với Điều 10, 11 và 12, nếu sau khi Hiệp định này có hiệu lực, Việt Nam đã ký Thỏa thuận hay Hiệp
định tránh đánh thuế hai lần với Nước thứ ba là thành viên của Liên minh Châu Âu, và Thỏa thuận hay
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)