Chương 7: OP-AMP_Khuếch đại và ứng dụng
T
5
: Là tầng đơn cực chuyển tiếp giữa vi sai và tầng cuối.
T
7
: Là mạch cực thu chung đầu tiên và T
8
là mạch di chuyển điện thế với điện trở 3.4k.
T
9
: Là mạch cực thu chung cũng là tầng cuối để đạt được tổng trở ra nhỏ.
7.2 MẠCH KHUẾCH ÐẠI OP-AMP CĂN BẢN:
Trong chương này, ta khảo sát op-amp ở trạng thái lý tưởng. Sau đây là các đặc tính
của một op-amp lý tưởng:
- Ðộ lợi vòng hở A (open loop gain) bằng vô cực.
- Băng tần rộng từ 0Hz đến vô cực.
- Tổng trở vào bằng vô cực.
- Tổng trở ra bằng 0.
- Các hệ số λ bằng vô cực.
- Khi ngõ vào ở 0 volt, ngõ ra luôn ở 0 volt.
Ðương nhiên một op-amp thực tế không thể đạt được các trạng thái lý tưởng như
trên.
Trương Văn Tám VII-5 Mạch Điện Tử
Chương 7: OP-AMP_Khuếch đại và ứng dụng
Từ các đặc tính trên ta thấy:
.
- Z
i
→ ∞
nên không có dòng điện chạy vào op-amp từ các ngõ vào.
- Z
0
→ 0Ω nên ngõ ra v0 không bị ảnh hưởng khi mắc tải.
- Vì A rất lớn nên phải dùng op-amp với hồi tiếp âm. Với hồi tiếp âm, ta có hai dạng
mạch khuếch đại căn bản sau:
7.2.1 Mạch khuếch đại đảo: (Inverting Amplifier)
Dạng mạch căn bản.
(7.2)
Nhận xét:
- Khi Z
f
và Z
i
là điện trở thuần thì v
0
và v
i
sẽ lệch pha 180
0
(nên được gọi là
mạch khuếch đại đảo và ngõ vào ( - ) được gọi là ngõ vào đảo).
- Z
f
đóng vai trò mạch hồi tiếp âm. Z
f
càng lớn (hồi tiếp âm càng nhỏ) độ
khuếch đại của mạch càng lớn.
- Khi Z
f
và Z
i
là điện trở thuần thì op-amp có tính khuếch đại cả điện thế một chiều.
Trương Văn Tám VII-6 Mạch Điện Tử
Chương 7: OP-AMP_Khuếch đại và ứng dụng
7.2.2 Mạch khuếch đại không đảo: (Non_inverting Amplifier)
Dạng mạch căn bản.
Suy ra:
Nhận xét:
- Z
f
, Z
i
có thể có bất kỳ dạng nào.
- v
0
và vi cũng có thể có bất kỳ dạng nào.
- Khi Z
f
, Z
i
là điện trở thuần thì ngõ ra v
0
sẽ có cùng pha với ngõ vào vi (nên
mạch được gọi là mạch khuếch đại không đảo và ngõ vào ( + ) được gọi là ngõ vào không
đảo).
- Z
f
cũng đóng vai trò hồi tiếp âm. Ðể tăng độ khuếch đại A
V
, ta có thể tăng
Z
f
hoặc giảm Z
i
.
- Mạch khuếch đại cả tín hiệu một chiều khi Z
f
và Z
i
là điện trở thuần. Mạch
cũng giữ nguyên tính chất không đảo và có cùng công thức với trường hợp của tín hiệu xoay
chiều.
- Khi Z
f
=0, ta có: A
V
=1 ⇒ v
0
=v
i
hoặc Z
i
=∞ ta cũng có A
V
=1 và v
0
=v
i
(hình
7.10). Lúc này mạch được gọi là mạch “voltage follower” thường được dùng làm mạch đệm
(buffer) vì có tổng trở vào lớn và tổng trở ra nhỏ như mạch cực thu chung ở BJT.
Trương Văn Tám VII-7 Mạch Điện Tử
Chương 7: OP-AMP_Khuếch đại và ứng dụng
7.2.3 Op-amp phân cực bằng nguồn đơn:
Phần trên là các đặc tính và 2 mạch khuếch đại căn bản được khảo sát khi op-amp
được phân cực bằng nguồn đối xứng. Thực tế, để tiện trong thiết kế mạch và sử dụng, khi
không cần thiết thì op-amp được phân cực bằng nguồn đơn; Lúc bấy giờ chân nối với nguồn
âm -V
CC
được nối mass.
Hai dạng mạch khuếch đại căn bản như sau:
Người ta phải phân cực một ngõ vào (thường là ngõ vào +) để điện thế phân cực ở
hai ngõ vào lúc này là V
CC
/2 và điện thế phân cực ở ngõ ra cũng là V
CC
/2. Hai điện trở R
phải được chọn khá lớn để tránh làm giảm tổng trở vào của op-amp. Khi đưa tín hiệu vào
phải qua tụ liên lạc (C
2
trong mạch) để không làm lệch điện thế phân cực. Như vậy, khi
phân cực bằng nguồn đơn, op-amp mất tính chất khuếch đại tín hiệu một chiều. Trong hình
a, mạch khuếch đại đảo, C
1
là tụ lọc điện thế phân cực ở ngõ vào (+). Trong hình b, mạch
khuếch đại không đảo, C
1
dùng để tạo hồi tiếp xoay chiều cho mạch và giữ điện thế phân
cực ở ngõ vào (-) là V
CC
/2. Ðộ khuếch đại của mạch vẫn không đổi.
7.3 MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA OP-AMP:
7.3.1Mạch làm toán:
Ðây là các mạch điện tử đặc biệt trong đó sự liên hệ giữa điện thế ngõ vào và ngõ ra
là các phương trình toán học đơn giản.
a/ Mạch cộng:
Trương Văn Tám VII-8 Mạch Điện Tử
Chương 7: OP-AMP_Khuếch đại và ứng dụng
Tín hiệu ngõ ra bằng tổng các tín hiệu ngõ vào nhưng ngược pha.
Ta chú ý là vi là một điện thế bất kỳ có thể là một chiều hoặc xoay chiều.
b/ Mạch trừ:
Ta có 2 cách tạo mạch trừ.
* Trừ bằng phương pháp đổi dấu:
Ðể trừ một số, ta cộng với số đối của số đó.
v
2
đầu tiên được làm đảo rồi cộng với v
1
. Do đó theo mạch ta có:
Như vậy tín hiệu ở ngõ ra là hiệu của 2 tín hiệu ngõ vào nhưng đổi dấu.
* Trừ bằng mạch vi sai:
Dạng cơ bản
Thay trị số của v
m
vào biểu thức trên ta tìm được:
Trương Văn Tám VII-9 Mạch Điện Tử
Chương 7: OP-AMP_Khuếch đại và ứng dụng
c/ Mạch tích phân:
Dạng mạch
Dòng điện ngõ vào:
* Hai vấn đề thực tế:
- Ðiều kiện ban đầu hay hằng số tích phân:
Dạng mạch căn bản
Trương Văn Tám VII-10 Mạch Điện Tử
Chương 7: OP-AMP_Khuếch đại và ứng dụng
số thấp. Như vậy khi có R
f
, mạch chỉ có tính tích phân khi tần số của tín hiệu f thỏa:
, R
f
không được quá lớn vì sự hồI tiếp âm sẽ yếu.
d/ Mạch vi phân:
Dạng mạch
Vấn đề thực tế: giảm tạp âm.
Mạch đơn giản như trên ít được dùng trong thực tế vì có đặc tính khuếch đại tạp âm ở
tần số cao, đây là do độ lợi của toàn mạchĠtăng theo tần số. Ðể khắc phục một phần nào,
người ta mắc thêm một điện trở nối tiếp với tụ C ở ngõ vào như hình 7.19.
Trương Văn Tám VII-11 Mạch Điện Tử
Chương 7: OP-AMP_Khuếch đại và ứng dụng
7.3.2 Mạch so sánh:
a/ Ðiện thế ngõ ra bảo hòa:
Ta xem mạch hình 7.20
Trong đó A là độ lợi vòng hở của op-amp. Vì A rất lớn nên theo công thức trên v
0
rất
lớn.
Khi E
d
nhỏ, v
0
được xác định. Khi E
d
vượt quá một trị số nào đó thì v
0
đạt đến trị số
bảo hòa và được gọi là V
Sat
Trị số của Ed tùy thuộc vào mỗi op-amp và có trị số vào
khoảng vài chục μV.
- Khi E
d
âm, mạch đảo pha nên v
0
=-V
Sat
- Khi E
d
dương, tức v
1
>v
2
thì v0=+V
Sat
.
Ðiện thế ngõ ra bảo hòa thường nhỏ hơn điện thế nguồn từ 1 volt đến 2 volt. Ðể ý là
|+V
Sat
| có thể khác |-V
Sat
|.
Như vậy ta thấy điện thế E
d
tối đa là:
b/ Mạch so sánh mức 0: (tách mức zéro)
* So sánh mức zéro không đảo
Trương Văn Tám VII-12 Mạch Điện Tử
Chương 7: OP-AMP_Khuếch đại và ứng dụng
* Mạch so sánh mức zéro đảo:
c/Mạch so sánh với 2 ngõ vào có điện thế bất kỳ:
* So sánh mức dương đảo và không đảo:
- So sánh mức dương không đảo:
Trương Văn Tám VII-13 Mạch Điện Tử
Chương 7: OP-AMP_Khuếch đại và ứng dụng
- So sánh mức dương đảo:
* So sánh mức âm đảo và không đảo:
Trương Văn Tám VII-14 Mạch Điện Tử
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực dệt- may .doc
Cơ sở cho hoạt động FDI không chỉ là lợi nhuận cao nhất mà còn là sự đa
dạng hoá danh mục đầu t, giảm thiểu rủi ro, mở rộng thị trờng, kết hợp lợi thế so
sánh về công nghệ, quản lý với các yếu tố khác.
b. Những lợi thế kinh tế của FDI đối với nớc nhận đầu t:
1. Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng và thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Vốn đầu t cho phát triển kinh tế bao gồm nguồn vốn trong nớc và vốn nớc
ngoài. Hầu hết các nớc đang phát triển trong giai đoạn đầu đều phải đơng đầu với
sự khan hiếm vốn. Do vậy, để đạt đợc sự tăng trởng ổn định cao nhằm đa đất nớc
thoát ra khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu thì các nớc này phải tìm kiếm nguồn bổ sung
từ bên ngoài mà trong đó FDI đóng vai trò quan trọng nhằm tăng cờng vốn đầu t
trong nớc và bù đắp sự thiếu hụt ngoại tệ. Ngoài ra, FDI còn bổ sung đáng kể
nguồn thu ngân sách của Chính phủ các nớc nhận đầu t thông qua thuế Đây là
nguồn vốn quan trọng để đầu t cho các dự án phát triển của nớc chủ nhà.
2. Chuyển giao công nghệ:
Khi đầu t vào một nớc nào đó chủ đầu t không chỉ chuyển vào nớc đó vốn
bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật nh máy móc thiết bị và vốn vô hình,
chuyên gia kỹ thuật, bí quyết công nghệ, quản lý. Thông qua tiếp nhận FDI, các n-
ớc nhận đầu t có thể tiếp nhận đợc công nghệ hiện đại, sau đó cải tiến và phát triển
phù hợp thành công nghệ cho nớc mình.
3. Học tập kinh nghiệm và tiếp cận thị trờng mới.
FDI giúp các nớc nhận đầu t đào tạo kiến thức kinh doanh, quản lý, tay nghề
và tiếp cận thị trờng thế giới. Thông thờng ở các nớc nhận đầu t trình độ quản lý
của các cán bộ quản lý, trình độ tay nghề và nhận thức của công nhân còn yếu
kém nên khi đầu t, để tiếp cận công nghệ mới, các chủ đầu t nớc ngoài thờng tổ
chức các lớp đào tạo, bồi dỡng kiến thức cho cán bộ, công nhân để thực hiện dự
án. Bằng con đờng này, kiến thức của các cán bộ quản lý và tay nghề của công
nhân đợc nâng lên. Hơn nữa, FDI giúp các doanh nghiệp tiếp cận và xâm nhập đợc
vào thị trờng thế giới thông qua liên doanh và mạng lới thị trờng rộng lớn của hệ
thống các công ty xuyên quốc gia.
4. FDI là công cụ để kích thích cạnh tranh:
Chính phủ các nớc chủ nhà thờng muốn sử dụng FDI nh một công cụ để kích
thích và liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong nớc. Các công ty nớc ngoài
5
nh một đối tợng để cho các doanh nghiệp trong nớc tăng tính cạnh tranh của mình,
thay đổi tác phong kinh doanh cũ. Mặt khác các doanh nghiệp nội địa cũng mở
rộng đợc quy mô sản xuất và lĩnh vực kinh doanh nhờ cung cấp các yếu tố đầu vào
và tiêu thụ đầu ra cho các công ty nớc ngoài.
Ngày nay, đầu t trực tiếp nớc ngoài trở thành một tất yếu khách quan trong
điều kiện quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền sản xuất, lu thông và ngày càng đợc tăng
cờng mạnh mẽ. Có thể nói không một quốc gia nào dù phát triển hay đang phát
triển lại không cần đến nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài và coi đó là nguồn lực,
phơng tiện để khai thác và hoà nhập vào cộng đồng quốc tế.
5. FDI tạo công ăn việc làm cho lực lợng lao động nớc sở tại.
FDI tạo công ăn việc làm và thu nhập đáng kể cho lực lợng lao động của nớc
nhận đầu t, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và góp phần chuyển dịch cơ cấu
lao động theo các ngành nghề, lãnh thổ theo hớng tích cực. Điều đáng kể là số lao
động tại các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc tiếp tục đào tạo hoặc đợc
nâng cao nghiệp vụ và đợc bố trí vào các vị trí của công ty.
c. Những hạn chế của FDI đối với các nớc nhận đầu t.
1. Chi phí của việc thu hút FDI.
Để thu hút FDI, nớc nhận đầu t phải áp dụng một số u đãi cho nhà đầu t:
Giảm thuế, miễn thuế trong một thời gian cho các dự án đầu t nớc ngoài hoặc mức
giá tiền thuê đất, nhà xởng và một số dịch vụ trong nớc thấp. Hay trong một số các
lĩnh vực họ đợc Nhà nớc bảo hộ thuế quan và nh vậy đôi khi lợi ích của nhà đầu t
có thể vợt lợi ích mà nớc chủ nhà nhận đợc trong một thời gian nhất định.
2. Hiện tợng chuyển giá:
Các công ty xuyên quốc gia, các nhà đầu t thờng liên kết chặt chẽ với nhau
để nâng giá những nguyên, vật liệu đầu vào, bán thành phẩm, máy móc thiết bị
nhập vào để thực hiện đầu t đồng thời giảm giá sản phẩm bán ra, thậm chí rất thấp
so với giá thành nhằm, giấu lợi nhuận thực tế thu đợc để tránh thuế của nớc chủ
nhà đánh vào lợi nhuận của nhà đầu t. Từ đó, hạn chế đối thủ cạnh tranh xâm nhập
thị trờng, hạn chế khả năng và dần dần đẩy đối tác Việt Nam trong liên doanh đến
phá sản do liên doanh thua lỗ kéo dài. Hoặc tạo ra chi phí sản xuất cao giả tạo ở
nớc nhận đầu t và nớc chủ nhà phải mua hàng hoá do nhà đầu t nớc ngoài sản xuất
với giá cao hơn.
6
Tuy nhiên việc tính giá đó chỉ xảy ra khi nớc chủ nhà thiếu thông tin, trình
độ quản lý yếu, hoặc chính sách của nớc đó còn nhiều khe hở khiến các nhà đầu t
có thể lợi dụng đợc.
3. Các nhà đầu t thờng bị buộc tội là đã chuyển giao công nghệ và kỹ thuật
lạc hậu vào nớc họ đầu t.
Điều này có thể đợc giải thích nh sau: - (1) Dới tác động của cách mạng khoa
học kỹ thuật, cho nên máy móc, công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu, vì vậy
họ thờng chuyển giao những công nghệ đã lạc hậu cho các nớc nhận đầu t để đổi
mới công nghệ, đổi mới, nâng cao chất lợng sản phẩm ở chính quốc; (2) Vào giai
đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nớc đều sử dụng công nghệ sử dụng nhiều
lao động. Tuy nhiên, sau quá trình phát triển, giá lao động tăng lên, làm cho giá
thành sản phẩm cao, vì vậy họ muốn thay thế công nghệ này bằng những công
nghệ có hàm lợng kỹ thuật cao để hạ giá thành sản phẩm.
Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các nớc nhận đầu t
nh là: (1). Khó tính đợc giá trị thực của những máy móc chuyển giao, do vậy nớc
nhận đầu t thờng bị thiệt trong việc tính giá trị tỷ lệ góp vốn trong các doanh
nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận; (2). Gây tổn
hại đến môi trờng; (3). Chất lợng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao và do đó sản
phẩm của nớc nhận đầu t khó có thể cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
Tuy nhiên, mặt trái này cũng một phần phụ thuộc vào chính sách công nghệ,
pháp Luậtvề đầu t, bảo vệ môi trờng và khả năng tiếp nhận công nghệ của nớc
nhận đầu t.
4. Những mặt trái khác:
Mục đích của nhà đầu t là kiếm lợi nhuận tối đa nên họ chỉ đầu t vào những
địa bàn, có cơ sở hạ tầng tơng đối tốt, và những lĩnh vực nhanh chóng thu hồi vốn
và có lợi. Vì vậy đôi khi vốn đầu t nớc ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối giữa
các vùng, giữa nông thôn và thành thị. FDI cũng có thể có ảnh hởng xấu về xã hội:
Gây phân hoá giàu nghèo, thay đổi lối sống tiêu cực, xâm hại đến các giá trị văn
hoá - xã hội truyền thống cùng với sự gia tăng của các tệ nạn xã hội nh nghiện hút,
mại dâm
7
Từ sự phân tích trên ta thấy đối với mỗi nớc nhận đầu t, FDI không chỉ đem
lại những lợi ích mà nó có thể gây ra những tác động xấu, do đó cần có sự quản lý
của Nhà nớc trong lĩnh vực này.
II. Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài
1. Khái niệm quản lý:
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các
đối tợng quản lý để điều khiển đối tợng quản lý nhằm đạt đợc mục đích đã đề ra.
Quản lý đầu t chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hớng vào quá
trình đầu t bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội và tổ chức -
kỹ thuật cùng các biện pháp nhằm đạt đợc hiệu quả kinh tế - xã hội cao trong
những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy
Luậtkinh tế khách quan nói chung và quy Luậtvận động đặc thù của đầu t nói
riêng.
2. Quản lý Nhà nớc về kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam.
Nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng bao gồm nhiều thành kinh tế: kinh
tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế hộ gia đình, kinh tế t bản Nhà
nớc. Mỗi chủ thể kinh tế trong nền kinh tế có những dự kiến, phán đoán và quyết
định khác nhau phù hợp với những lợi ích của mình. Để các quyết định tập trung,
hớng vào mục tiêu chung, vừa có lợi cho mỗi bản thân chủ thể, vừa có lợi cho
quốc kế dân sinh cần có sự điều hoà theo một định hớng chung, có hiệu quả cao
nhất. Trong một nền kinh tế thị trờng thuần tuý, cơ chế điều hoà phối hợp, đó là cơ
chế thị trờng mà bản chất là cơ chế giá cả. Tuy nhiên, trong một nền kinh tế hỗn
hợp, đặc biệt là một nền kinh tế nh nớc ta, thị trờng cha phát triển, giá cả cha đủ
mạnh để động viên các nguồn lực thì vai trò của Nhà nớc là đặc biệt quan trọng.
Vai trò đó đợc nâng lên trong điều kiện chúng ta phải tập trung mọi sức lực để
tăng trởng và phát triển nhanh đảm bảo các mục tiêu công bằng xã hội.
Nhà nớc thực hiện chức năng quản lý vừa với t cách là cơ quan quyền lực đại
diện cho nhân dân, vừa với chức năng là ngời chủ tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
Tuy vậy, chức năng, phơng thức quản lý của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng
đã có nhiều thay đổi so với trớc đây. Có nhiều quan điểm sung quanh vai trò và
chức năng của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng, nhng trong giai đoạn hiện nay,
có thể nói, Nhà nớc chủ yếu tập trung vào những chức năng chủ yếu sau:
8
Một là, thể chế hoá một cách đồng bộ, nhất quán các chính sách kinh tế và cơ
chế kinh tế, tạo điều kiện môi trờng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cạnh
tranh lành mạnh, chống độc quyền.
Hai là, cải cách bộ máy Nhà nớc sao cho bộ máy này có đủ khả năng và t
cách là một ngời trọng tài nghiêm minh, giải quyết và điều hoà các mối quan hệ
lợi ích trong nền kinh tế thị trờng.
Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu t có trọng điểm khu vực kinh tế quốc
doanh, xây dựng một số ngành mũi nhọn, cung cấp các dịch vụ công cộng cho
toàn xã hội.
Với các chức năng nh vậy, phơng thức quản lý của Nhà nớc cũng chuyển dần
quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp bằng công cụ Luậtpháp, kế hoạch và các
chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng.
Trong giai đoạn đầu có thể vẫn phải sử dụng phơng pháp quản lý trực tiếp là
chủ yếu, dần dần chuyển sang kết hợp giữa quản lý trực tiếp và quản lý gián tiếp.
Cuối cùng, khi Luậtpháp và các công cụ đã hoàn chỉnh, Nhà nớc sử dụng nhiều
đến biện pháp điều tiết gián tiếp thông qua thị trờng.
Để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nớc sử dụng các
công cụ quản lý của mình với t cách là môi trờng, là vật truyền dẫn và khách thể
quản lý tới các đối tợng quản lý. Môi trờng tốt bao gồm không chỉ môi trờng pháp
lý đồng bộ, hoàn chỉnh, môi trờng kinh tế nhiều tiềm năng phát triển, môi trờng
các nguồn lực dồi dào, phong phú nh nguồn nhân lực với giá rẻ. Môi trờng hành
chính thuận tiện, nhanh chóng đáp ứng đợc yêu cầu của nền kinh tế, của quản lý
kinh tế, quản lý sản xuất kinh doanh mà còn bao gồm cả khả năng giải quyết đúng
đắn quan hệ lợi ích kinh tế thời kỳ các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trờng.
Nói cách khác, với hệ thống công cụ quản lý vĩ mô, quản lý Nhà nớc về kinh tế có
cơ hội tạo dựng, xác lập môi trờng tốt cho các hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài
hoạt động một cách có hiệu quả nhất, bao gồm các loại hình doanh nghiệp khác
nhau. Các công cụ quản lý kinh tế - xã hội chính là phơng tiện mà Nhà nớc dùng
để tác động, điều chỉnh hành vi của con ngời trong xã hội nhằm đạt đợc các ý đồ,
mục tiêu mong muốn của mình. Chính nhờ các công cụ quản lý với t cách là vật
truyền dẫn tác động mà Nhà nớc chuyển tải đợc các ý định và ý chí tác động của
mình lên mỗi con ngời trên toàn bộ các vùng của đất nớc và các khu vực bên
ngoài.
9
Các công cụ quản lý vĩ mô bao gồm: Chính sách kinh tế - xã hội; Bộ máy
Nhà nớc và công chức Nhà nớc; Pháp luật; Kế hoạch - chiến lợc; Các quyết định
hành chính v.v
Chính sách kinh tế - xã hội: Là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các
biện pháp, các thủ thuật mà chủ thể quản lý (trong phạm vi quốc gia đó là Nhà n-
ớc) sử dụng, nhằm tác động lên đối tợng và khách thể quản lý để đạt đợc các mục
tiêu trong số các mục tiêu chiến lợc chung của đất nớc một cách tốt nhất sau một
thời gian xác định.
Đối với hoạt động đầu t nớc ngoài, chính sách kinh tế của Nhà nớc một mặt
tạo ra sự thông thoáng cho các doanh nghiệp FDI phát triển, mặt khác phải bảo vệ
các doanh nghiệp trong nớc phát triển, hớng các hoạt động đầu t trực tiếp vào các
ngành, các vùng, các lĩnh vực bức thiết của nền kinh tế quốc dân.
Bộ máy Nhà nớc và công chức Nhà nớc: Theo hiến pháp năm 1992, Bộ máy
Nhà nớc bao gồm các loại cơ quan chủ thể là các cơ quan quyền lực Nhà nớc (gồm
Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp), các cơ quan quản lý Nhà nớc (gồm
Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan khác thuộc Chính phủ, Uỷ
ban nhân dân các cấp), các cơ quan kiểm sát, các cơ quan xét xử. Bộ máy Nhà nớc
ta là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan để thực thi các chức năng lập pháp,
hành pháp, t pháp đã đợc xác định trong hiến pháp và tại các Luậtvề tổ chức các
cơ quan trong bộ máy Nhà nớc.
Các công chức là những ngời làm nhiệm vụ tại các công sở của Nhà nớc, đợc
hởng lơng và phụ cấp theo công việc đợc giao lấy từ ngân sách Nhà nớc.
Đối với hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài, Nhà nớc ta và đội ngũ cán bộ
công chức Nhà nớc phải tạo môi trờng thông thoáng, đặc biệt là khâu thủ tục hành
chính và các quy định về các loại, mức thuế, lệ phí phải nộp để tạo hành lang cho
các doanh nghiệp phát triển và thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu t nớc ngoài
vào làm ăn ở Việt Nam.
Công sản: Là các nguồn vốn và phơng tiện vật chất mà Nhà nớc có thể sử
dụng để điều hành xã hội nh: Ngân sách, đất đai, kho bạc, kết cấu hạ tầng, các
doanh nghiệp Nhà nớc và các tài sản tự nhiên khác mà Nhà nớc nắm giữ, đa vào
khai thác, sử dụng. Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài Nhà nớc,
phải tạo điều kiện về quỹ đất đai cho các doanh nghiệp theo những quy hoạch đã
định và phải luôn quan tâm bảo vệ nguồn tài sản này, tránh để các doanh nghiệp
10
vốn đầu t nớc ngoài vì lợi ích riêng làm tổn hại đến tài nguyên đất đai của đất nớc.
Mặt khác, kết cấu hạ tầng đang là một vật cản đối với các doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài, do sự lạc hậu và thiếu đồng bộ gây ra, vì vậy Nhà nớc cần đặc biệt
quan tâm để từng bớc hoàn thiện cơ sở hạ tầng.
Kế hoạch là tập hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ và các nguồn lực phải có để
thực hiện các mục tiêu, các nhiệm vụ đặt ra.
Công tác kế hoạch của Nhà nớc đối với hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài
phải tuân thủ các đòi hỏi của các quy Luậtkinh tế, thị trờng do đó nó chỉ mang
tính định hớng, gián tiếp dựa trên một quy hoạch tổng thể chung thông qua các
đòn bẩy kinh tế và lợi ích kinh tế để cho các doanh nghiệp doanh nghiệp FDI tự do
phát triển trong một hành lang quy định chuẩn xác của Nhà nớc.
Các quyết định hành chính Nhà nớc: Là sản phẩm trí tuệ của các nhà lãnh
đạo và các công chức Nhà nớc để điều hành, quản lý xã hội; là sự thể hiện ý chí
của Nhà nớc bằng các mệnh lệnh mang tính đơn phơng của quyền hành pháp Nhà
nớc, nhờ đó việc điều hành xã hội đợc thuận lợi. Đây là trách nhiệm tối thợng của
Nhà nớc đối với xã hội.
Các quyết định quản lý của Nhà nớc đối với hoạt động đầu t trực tiếp nớc
ngoài phải hợp lý dựa trên việc xử lý kết hợp hài hoà lợi ích của Nhà đầu t với Nhà
nớc và tập thể ngời lao động trong doanh nghiệp. Các quyết định phải đảm bảo sự
ổn định lâu dài cho các hoạt động FDI phát triển thuận lợi. Các công cụ quản lý vĩ
mô của Nhà nớc có thể đợc mô hình hoá theo sơ đồ dới đây
11
Sơ đồ các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc đối với hoạt động đầu t
trực tiếp nớc ngoài.
3. Quản lý Nhà nớc về hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI).
FDI là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân Việt Nam và là mối
quan hệ của kinh tế nớc ta với các nớc trên thế giới. Quản lý FDI cũng tuân thủ
những nguyên lý chung về quản lý Nhà nớc về kinh tế nhng cũng có nét đặc thù
riêng. Nét đặc thù này xuất phát từ đặc điểm nội tại của hoạt động FDI đồng thời
cũng xuất phát từ điều kiện và yêu cầu riêng về quản lý FDI của Nhà nớc.
Những đặc điểm cơ bản của FDI.
Thứ nhất, FDI là hoạt động thị trờng hơn thế nữa là thị trờng mang tính chất
và quy Luậtcủa thị trờng quốc tế. Do điều kiện cạnh tranh quốc tế các nhà đầu t
phải tính toán kỹ khả năng, điều kiện thị trờng để thu lợi nhuận. Họ sẽ không hoặc
sẽ đầu t hạn chế vào những dự án mà hiệu quả kinh tế không rõ ràng và kém hấp
dẫn. Do vậy, một trong những yêu cầu quản lý Nhà nớc là phải tạo điều kiện để
các nhà đầu t nớc ngoài hiểu đầy đủ và rõ ràng các thông tin về đờng lối, chính
sách của Nhà nớc về pháp luật, thị trờng, đối tác và những quy định cụ thể khác
đối với FDI.
Thứ hai, FDI là hoạt động của khu vực t nhân và hơn thế nữa là hoạt động
của t nhân nớc ngoài có quyền sở hữu và quyền quản lý. Động cơ của nhà đầu t n-
ớc ngoài khác với mục tiêu của nớc chủ nhà. Các nhà đầu t nớc ngoài quan tâm
đến những vấn đề thiết thực nh thuế, giá thuê các loại, chi phí sản xuất và cuối
cùng là lợi nhuận thực tế. Trong khi đó nớc chủ nhà lại quan tâm đến hiệu quả
kinh tế - xã hội, đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Do vậy quản lý Nhà n-
12
Các công cụ quản lý vĩ
mô của Nhà nớc đối với
hoạt động FDI
Các chính
sách kinh
tế - x hộiã
Bộ máy
Nhà nớc
Pháp
luật
Kế
hoạch
chiến lợc
Quyết
định
hành
chính
ớc về FDI phải tạo điều kiện cho cả 2 lợi ích này dung hoà đợc với nhau, bằng các
chính sách hớng dẫn cụ thể và hấp dẫn đồng thời không áp đặt, ép buộc một cách
chủ quan, duy ý chí.
Thứ ba, FDI phần lớn do các công ty xuyên quốc gia tiến hành. Lý thuyết và
kinh nghiệm cho thấy các công ty này có lợi thế về uy tín, nhãn hiệu, thị trờng nh-
ng có xu hớng "bảo hộ" mạnh, vì vậy việc thu hút các công ty này là một việc làm
tốt, cần thiết. Đồng thời cần có biện pháp thu hút tối đa lợi thế của họ nh công
nghệ, bí quyết quản lý, kinh doanh.
Thứ t, FDI đợc thực hiện thông qua các dự án đầu t. Quy trình hoạt động dự
án FDI có nhiều đặc điểm khác với quy trình của các loại dự án khác. Quy trình
này bắt đầu từ việc chuẩn bị dự án, lựa chọn đối tác, đàm phán, lập hồ sơ, ký kết,
xin giấy phép cho việc triển khai và đa dự án vào hoạt động. Sự phức tạp này đòi
hỏi cần có một cơ quan quản lý Nhà nớc đủ mạnh để theo dõi, hỗ trợ cho dự án
hoạt động thành công.
FDI là một lĩnh vực mới mẻ và phức tạp của hoạt động kinh tế đối ngoại ở
Việt Nam, nên ngay từ đầu, Nhà nớc đã đứng ra chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ
quá trình hoạt động của đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Mục tiêu chung của công tác quản lý hoạt động FDI là thực hiện mục tiêu
chung của Nhà nớc trong quan hệ hợp tác với nớc ngoài, tranh thủ mọi nguồn lực
có thể có của thế giới về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trờng và sự
phân công lao động quốc tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng về lao động, tài
nguyên của đất nớc để phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng tích luỹ, cải
thiện đời sống nhân dân, từng bớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Mục tiêu cụ thể của công tác quản lý FDI là giúp các nhà đầu t thực hiện một
cách tốt nhất, hiệu quả nhất Luậtđầu t nớc ngoài ở Việt Nam, tạo môi trờng hoạt
động thông thoáng, giải quyết, xử lý và điều chỉnh những phát sinh trong quá trình
đầu t, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.
Nội dung của công tác quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài:
- Xây dựng chiến lợc, quy hoạch và chính sách, định hớng cho các hoạt động
đầu t.
- Ban hành các văn bản pháp luật, quy chế quản lý đầu t nh Luật đầu t,
Luậtthuế
13
- Hớng dẫn các ngành, địa phơng thực hiện các công việc liên quan đến hoạt
động đầu t nớc ngoài
- Cấp và thu hồi giấy phép.
- Quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan Nhà nớc trong quản lý hoạt
động đầu t nớc ngoài.
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Công tác quản lý Nhà nớc về hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc thực
hiện thông qua các cơ quan sau:
a) Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài tại
Việt Nam.
Chính phủ quy định việc cấp giấy phép đầu t của Bộ Kế hoạch và Đầu t: Căn
cứ vào quy định, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, lĩnh vực, quy mô, tính chất
của dự án đầu t; quyết định việc phân cấp giấy phép đầu t cho UBND tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ơng có đủ điều kiện, quy định việc cấp giấy phép đầu t đối
với dự án đầu t vào khu chế xuất, khu công nghiệp.
b) Bộ Kế hoạch và Đầu t:
Là cơ quan quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, giúp Chính phủ quản lý hoạt
động đầu t nớc ngoài tại Việt Nam. Bộ Kế hoạch và Đầu t có nhiệm vụ và quyền
hạn sau:
- Chủ trì xây dựng, trình Thủ tớng Chính phủ chiến lợc, quy hoạch thu hút
vốn đầu t nớc ngoài, soạn thảo các dự án pháp luật, chính sách về đầu t nớc ngoài,
phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc quản
lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, hớng dẫn UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung -
ơng trong việc thực hiện pháp luật, chính sách về đầu t nớc ngoài.
- Xây dựng tổng hợp danh mục đầu t; hớng dẫn về thủ tục đầu t, quản lý Nhà
nớc đối với các hoạt động xúc tiến và hớng dẫn đầu t.
- Tiếp nhận dự án đầu t và chủ trì thẩm định, cấp giấy phép đầu t cho các dự
án đầu t thuộc thẩm quyền.
- Làm đầu mối giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành,
triển khai và thực hiện dự án đầu t nớc ngoài.
14
dạng hoá danh mục đầu t, giảm thiểu rủi ro, mở rộng thị trờng, kết hợp lợi thế so
sánh về công nghệ, quản lý với các yếu tố khác.
b. Những lợi thế kinh tế của FDI đối với nớc nhận đầu t:
1. Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng và thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Vốn đầu t cho phát triển kinh tế bao gồm nguồn vốn trong nớc và vốn nớc
ngoài. Hầu hết các nớc đang phát triển trong giai đoạn đầu đều phải đơng đầu với
sự khan hiếm vốn. Do vậy, để đạt đợc sự tăng trởng ổn định cao nhằm đa đất nớc
thoát ra khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu thì các nớc này phải tìm kiếm nguồn bổ sung
từ bên ngoài mà trong đó FDI đóng vai trò quan trọng nhằm tăng cờng vốn đầu t
trong nớc và bù đắp sự thiếu hụt ngoại tệ. Ngoài ra, FDI còn bổ sung đáng kể
nguồn thu ngân sách của Chính phủ các nớc nhận đầu t thông qua thuế Đây là
nguồn vốn quan trọng để đầu t cho các dự án phát triển của nớc chủ nhà.
2. Chuyển giao công nghệ:
Khi đầu t vào một nớc nào đó chủ đầu t không chỉ chuyển vào nớc đó vốn
bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật nh máy móc thiết bị và vốn vô hình,
chuyên gia kỹ thuật, bí quyết công nghệ, quản lý. Thông qua tiếp nhận FDI, các n-
ớc nhận đầu t có thể tiếp nhận đợc công nghệ hiện đại, sau đó cải tiến và phát triển
phù hợp thành công nghệ cho nớc mình.
3. Học tập kinh nghiệm và tiếp cận thị trờng mới.
FDI giúp các nớc nhận đầu t đào tạo kiến thức kinh doanh, quản lý, tay nghề
và tiếp cận thị trờng thế giới. Thông thờng ở các nớc nhận đầu t trình độ quản lý
của các cán bộ quản lý, trình độ tay nghề và nhận thức của công nhân còn yếu
kém nên khi đầu t, để tiếp cận công nghệ mới, các chủ đầu t nớc ngoài thờng tổ
chức các lớp đào tạo, bồi dỡng kiến thức cho cán bộ, công nhân để thực hiện dự
án. Bằng con đờng này, kiến thức của các cán bộ quản lý và tay nghề của công
nhân đợc nâng lên. Hơn nữa, FDI giúp các doanh nghiệp tiếp cận và xâm nhập đợc
vào thị trờng thế giới thông qua liên doanh và mạng lới thị trờng rộng lớn của hệ
thống các công ty xuyên quốc gia.
4. FDI là công cụ để kích thích cạnh tranh:
Chính phủ các nớc chủ nhà thờng muốn sử dụng FDI nh một công cụ để kích
thích và liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong nớc. Các công ty nớc ngoài
5
nh một đối tợng để cho các doanh nghiệp trong nớc tăng tính cạnh tranh của mình,
thay đổi tác phong kinh doanh cũ. Mặt khác các doanh nghiệp nội địa cũng mở
rộng đợc quy mô sản xuất và lĩnh vực kinh doanh nhờ cung cấp các yếu tố đầu vào
và tiêu thụ đầu ra cho các công ty nớc ngoài.
Ngày nay, đầu t trực tiếp nớc ngoài trở thành một tất yếu khách quan trong
điều kiện quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền sản xuất, lu thông và ngày càng đợc tăng
cờng mạnh mẽ. Có thể nói không một quốc gia nào dù phát triển hay đang phát
triển lại không cần đến nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài và coi đó là nguồn lực,
phơng tiện để khai thác và hoà nhập vào cộng đồng quốc tế.
5. FDI tạo công ăn việc làm cho lực lợng lao động nớc sở tại.
FDI tạo công ăn việc làm và thu nhập đáng kể cho lực lợng lao động của nớc
nhận đầu t, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và góp phần chuyển dịch cơ cấu
lao động theo các ngành nghề, lãnh thổ theo hớng tích cực. Điều đáng kể là số lao
động tại các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc tiếp tục đào tạo hoặc đợc
nâng cao nghiệp vụ và đợc bố trí vào các vị trí của công ty.
c. Những hạn chế của FDI đối với các nớc nhận đầu t.
1. Chi phí của việc thu hút FDI.
Để thu hút FDI, nớc nhận đầu t phải áp dụng một số u đãi cho nhà đầu t:
Giảm thuế, miễn thuế trong một thời gian cho các dự án đầu t nớc ngoài hoặc mức
giá tiền thuê đất, nhà xởng và một số dịch vụ trong nớc thấp. Hay trong một số các
lĩnh vực họ đợc Nhà nớc bảo hộ thuế quan và nh vậy đôi khi lợi ích của nhà đầu t
có thể vợt lợi ích mà nớc chủ nhà nhận đợc trong một thời gian nhất định.
2. Hiện tợng chuyển giá:
Các công ty xuyên quốc gia, các nhà đầu t thờng liên kết chặt chẽ với nhau
để nâng giá những nguyên, vật liệu đầu vào, bán thành phẩm, máy móc thiết bị
nhập vào để thực hiện đầu t đồng thời giảm giá sản phẩm bán ra, thậm chí rất thấp
so với giá thành nhằm, giấu lợi nhuận thực tế thu đợc để tránh thuế của nớc chủ
nhà đánh vào lợi nhuận của nhà đầu t. Từ đó, hạn chế đối thủ cạnh tranh xâm nhập
thị trờng, hạn chế khả năng và dần dần đẩy đối tác Việt Nam trong liên doanh đến
phá sản do liên doanh thua lỗ kéo dài. Hoặc tạo ra chi phí sản xuất cao giả tạo ở
nớc nhận đầu t và nớc chủ nhà phải mua hàng hoá do nhà đầu t nớc ngoài sản xuất
với giá cao hơn.
6
Tuy nhiên việc tính giá đó chỉ xảy ra khi nớc chủ nhà thiếu thông tin, trình
độ quản lý yếu, hoặc chính sách của nớc đó còn nhiều khe hở khiến các nhà đầu t
có thể lợi dụng đợc.
3. Các nhà đầu t thờng bị buộc tội là đã chuyển giao công nghệ và kỹ thuật
lạc hậu vào nớc họ đầu t.
Điều này có thể đợc giải thích nh sau: - (1) Dới tác động của cách mạng khoa
học kỹ thuật, cho nên máy móc, công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu, vì vậy
họ thờng chuyển giao những công nghệ đã lạc hậu cho các nớc nhận đầu t để đổi
mới công nghệ, đổi mới, nâng cao chất lợng sản phẩm ở chính quốc; (2) Vào giai
đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nớc đều sử dụng công nghệ sử dụng nhiều
lao động. Tuy nhiên, sau quá trình phát triển, giá lao động tăng lên, làm cho giá
thành sản phẩm cao, vì vậy họ muốn thay thế công nghệ này bằng những công
nghệ có hàm lợng kỹ thuật cao để hạ giá thành sản phẩm.
Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các nớc nhận đầu t
nh là: (1). Khó tính đợc giá trị thực của những máy móc chuyển giao, do vậy nớc
nhận đầu t thờng bị thiệt trong việc tính giá trị tỷ lệ góp vốn trong các doanh
nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận; (2). Gây tổn
hại đến môi trờng; (3). Chất lợng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao và do đó sản
phẩm của nớc nhận đầu t khó có thể cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
Tuy nhiên, mặt trái này cũng một phần phụ thuộc vào chính sách công nghệ,
pháp Luậtvề đầu t, bảo vệ môi trờng và khả năng tiếp nhận công nghệ của nớc
nhận đầu t.
4. Những mặt trái khác:
Mục đích của nhà đầu t là kiếm lợi nhuận tối đa nên họ chỉ đầu t vào những
địa bàn, có cơ sở hạ tầng tơng đối tốt, và những lĩnh vực nhanh chóng thu hồi vốn
và có lợi. Vì vậy đôi khi vốn đầu t nớc ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối giữa
các vùng, giữa nông thôn và thành thị. FDI cũng có thể có ảnh hởng xấu về xã hội:
Gây phân hoá giàu nghèo, thay đổi lối sống tiêu cực, xâm hại đến các giá trị văn
hoá - xã hội truyền thống cùng với sự gia tăng của các tệ nạn xã hội nh nghiện hút,
mại dâm
7
Từ sự phân tích trên ta thấy đối với mỗi nớc nhận đầu t, FDI không chỉ đem
lại những lợi ích mà nó có thể gây ra những tác động xấu, do đó cần có sự quản lý
của Nhà nớc trong lĩnh vực này.
II. Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài
1. Khái niệm quản lý:
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các
đối tợng quản lý để điều khiển đối tợng quản lý nhằm đạt đợc mục đích đã đề ra.
Quản lý đầu t chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hớng vào quá
trình đầu t bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội và tổ chức -
kỹ thuật cùng các biện pháp nhằm đạt đợc hiệu quả kinh tế - xã hội cao trong
những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy
Luậtkinh tế khách quan nói chung và quy Luậtvận động đặc thù của đầu t nói
riêng.
2. Quản lý Nhà nớc về kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam.
Nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng bao gồm nhiều thành kinh tế: kinh
tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế hộ gia đình, kinh tế t bản Nhà
nớc. Mỗi chủ thể kinh tế trong nền kinh tế có những dự kiến, phán đoán và quyết
định khác nhau phù hợp với những lợi ích của mình. Để các quyết định tập trung,
hớng vào mục tiêu chung, vừa có lợi cho mỗi bản thân chủ thể, vừa có lợi cho
quốc kế dân sinh cần có sự điều hoà theo một định hớng chung, có hiệu quả cao
nhất. Trong một nền kinh tế thị trờng thuần tuý, cơ chế điều hoà phối hợp, đó là cơ
chế thị trờng mà bản chất là cơ chế giá cả. Tuy nhiên, trong một nền kinh tế hỗn
hợp, đặc biệt là một nền kinh tế nh nớc ta, thị trờng cha phát triển, giá cả cha đủ
mạnh để động viên các nguồn lực thì vai trò của Nhà nớc là đặc biệt quan trọng.
Vai trò đó đợc nâng lên trong điều kiện chúng ta phải tập trung mọi sức lực để
tăng trởng và phát triển nhanh đảm bảo các mục tiêu công bằng xã hội.
Nhà nớc thực hiện chức năng quản lý vừa với t cách là cơ quan quyền lực đại
diện cho nhân dân, vừa với chức năng là ngời chủ tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
Tuy vậy, chức năng, phơng thức quản lý của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng
đã có nhiều thay đổi so với trớc đây. Có nhiều quan điểm sung quanh vai trò và
chức năng của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng, nhng trong giai đoạn hiện nay,
có thể nói, Nhà nớc chủ yếu tập trung vào những chức năng chủ yếu sau:
8
Một là, thể chế hoá một cách đồng bộ, nhất quán các chính sách kinh tế và cơ
chế kinh tế, tạo điều kiện môi trờng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cạnh
tranh lành mạnh, chống độc quyền.
Hai là, cải cách bộ máy Nhà nớc sao cho bộ máy này có đủ khả năng và t
cách là một ngời trọng tài nghiêm minh, giải quyết và điều hoà các mối quan hệ
lợi ích trong nền kinh tế thị trờng.
Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu t có trọng điểm khu vực kinh tế quốc
doanh, xây dựng một số ngành mũi nhọn, cung cấp các dịch vụ công cộng cho
toàn xã hội.
Với các chức năng nh vậy, phơng thức quản lý của Nhà nớc cũng chuyển dần
quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp bằng công cụ Luậtpháp, kế hoạch và các
chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng.
Trong giai đoạn đầu có thể vẫn phải sử dụng phơng pháp quản lý trực tiếp là
chủ yếu, dần dần chuyển sang kết hợp giữa quản lý trực tiếp và quản lý gián tiếp.
Cuối cùng, khi Luậtpháp và các công cụ đã hoàn chỉnh, Nhà nớc sử dụng nhiều
đến biện pháp điều tiết gián tiếp thông qua thị trờng.
Để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nớc sử dụng các
công cụ quản lý của mình với t cách là môi trờng, là vật truyền dẫn và khách thể
quản lý tới các đối tợng quản lý. Môi trờng tốt bao gồm không chỉ môi trờng pháp
lý đồng bộ, hoàn chỉnh, môi trờng kinh tế nhiều tiềm năng phát triển, môi trờng
các nguồn lực dồi dào, phong phú nh nguồn nhân lực với giá rẻ. Môi trờng hành
chính thuận tiện, nhanh chóng đáp ứng đợc yêu cầu của nền kinh tế, của quản lý
kinh tế, quản lý sản xuất kinh doanh mà còn bao gồm cả khả năng giải quyết đúng
đắn quan hệ lợi ích kinh tế thời kỳ các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trờng.
Nói cách khác, với hệ thống công cụ quản lý vĩ mô, quản lý Nhà nớc về kinh tế có
cơ hội tạo dựng, xác lập môi trờng tốt cho các hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài
hoạt động một cách có hiệu quả nhất, bao gồm các loại hình doanh nghiệp khác
nhau. Các công cụ quản lý kinh tế - xã hội chính là phơng tiện mà Nhà nớc dùng
để tác động, điều chỉnh hành vi của con ngời trong xã hội nhằm đạt đợc các ý đồ,
mục tiêu mong muốn của mình. Chính nhờ các công cụ quản lý với t cách là vật
truyền dẫn tác động mà Nhà nớc chuyển tải đợc các ý định và ý chí tác động của
mình lên mỗi con ngời trên toàn bộ các vùng của đất nớc và các khu vực bên
ngoài.
9
Các công cụ quản lý vĩ mô bao gồm: Chính sách kinh tế - xã hội; Bộ máy
Nhà nớc và công chức Nhà nớc; Pháp luật; Kế hoạch - chiến lợc; Các quyết định
hành chính v.v
Chính sách kinh tế - xã hội: Là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các
biện pháp, các thủ thuật mà chủ thể quản lý (trong phạm vi quốc gia đó là Nhà n-
ớc) sử dụng, nhằm tác động lên đối tợng và khách thể quản lý để đạt đợc các mục
tiêu trong số các mục tiêu chiến lợc chung của đất nớc một cách tốt nhất sau một
thời gian xác định.
Đối với hoạt động đầu t nớc ngoài, chính sách kinh tế của Nhà nớc một mặt
tạo ra sự thông thoáng cho các doanh nghiệp FDI phát triển, mặt khác phải bảo vệ
các doanh nghiệp trong nớc phát triển, hớng các hoạt động đầu t trực tiếp vào các
ngành, các vùng, các lĩnh vực bức thiết của nền kinh tế quốc dân.
Bộ máy Nhà nớc và công chức Nhà nớc: Theo hiến pháp năm 1992, Bộ máy
Nhà nớc bao gồm các loại cơ quan chủ thể là các cơ quan quyền lực Nhà nớc (gồm
Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp), các cơ quan quản lý Nhà nớc (gồm
Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan khác thuộc Chính phủ, Uỷ
ban nhân dân các cấp), các cơ quan kiểm sát, các cơ quan xét xử. Bộ máy Nhà nớc
ta là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan để thực thi các chức năng lập pháp,
hành pháp, t pháp đã đợc xác định trong hiến pháp và tại các Luậtvề tổ chức các
cơ quan trong bộ máy Nhà nớc.
Các công chức là những ngời làm nhiệm vụ tại các công sở của Nhà nớc, đợc
hởng lơng và phụ cấp theo công việc đợc giao lấy từ ngân sách Nhà nớc.
Đối với hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài, Nhà nớc ta và đội ngũ cán bộ
công chức Nhà nớc phải tạo môi trờng thông thoáng, đặc biệt là khâu thủ tục hành
chính và các quy định về các loại, mức thuế, lệ phí phải nộp để tạo hành lang cho
các doanh nghiệp phát triển và thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu t nớc ngoài
vào làm ăn ở Việt Nam.
Công sản: Là các nguồn vốn và phơng tiện vật chất mà Nhà nớc có thể sử
dụng để điều hành xã hội nh: Ngân sách, đất đai, kho bạc, kết cấu hạ tầng, các
doanh nghiệp Nhà nớc và các tài sản tự nhiên khác mà Nhà nớc nắm giữ, đa vào
khai thác, sử dụng. Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài Nhà nớc,
phải tạo điều kiện về quỹ đất đai cho các doanh nghiệp theo những quy hoạch đã
định và phải luôn quan tâm bảo vệ nguồn tài sản này, tránh để các doanh nghiệp
10
vốn đầu t nớc ngoài vì lợi ích riêng làm tổn hại đến tài nguyên đất đai của đất nớc.
Mặt khác, kết cấu hạ tầng đang là một vật cản đối với các doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài, do sự lạc hậu và thiếu đồng bộ gây ra, vì vậy Nhà nớc cần đặc biệt
quan tâm để từng bớc hoàn thiện cơ sở hạ tầng.
Kế hoạch là tập hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ và các nguồn lực phải có để
thực hiện các mục tiêu, các nhiệm vụ đặt ra.
Công tác kế hoạch của Nhà nớc đối với hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài
phải tuân thủ các đòi hỏi của các quy Luậtkinh tế, thị trờng do đó nó chỉ mang
tính định hớng, gián tiếp dựa trên một quy hoạch tổng thể chung thông qua các
đòn bẩy kinh tế và lợi ích kinh tế để cho các doanh nghiệp doanh nghiệp FDI tự do
phát triển trong một hành lang quy định chuẩn xác của Nhà nớc.
Các quyết định hành chính Nhà nớc: Là sản phẩm trí tuệ của các nhà lãnh
đạo và các công chức Nhà nớc để điều hành, quản lý xã hội; là sự thể hiện ý chí
của Nhà nớc bằng các mệnh lệnh mang tính đơn phơng của quyền hành pháp Nhà
nớc, nhờ đó việc điều hành xã hội đợc thuận lợi. Đây là trách nhiệm tối thợng của
Nhà nớc đối với xã hội.
Các quyết định quản lý của Nhà nớc đối với hoạt động đầu t trực tiếp nớc
ngoài phải hợp lý dựa trên việc xử lý kết hợp hài hoà lợi ích của Nhà đầu t với Nhà
nớc và tập thể ngời lao động trong doanh nghiệp. Các quyết định phải đảm bảo sự
ổn định lâu dài cho các hoạt động FDI phát triển thuận lợi. Các công cụ quản lý vĩ
mô của Nhà nớc có thể đợc mô hình hoá theo sơ đồ dới đây
11
Sơ đồ các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc đối với hoạt động đầu t
trực tiếp nớc ngoài.
3. Quản lý Nhà nớc về hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI).
FDI là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân Việt Nam và là mối
quan hệ của kinh tế nớc ta với các nớc trên thế giới. Quản lý FDI cũng tuân thủ
những nguyên lý chung về quản lý Nhà nớc về kinh tế nhng cũng có nét đặc thù
riêng. Nét đặc thù này xuất phát từ đặc điểm nội tại của hoạt động FDI đồng thời
cũng xuất phát từ điều kiện và yêu cầu riêng về quản lý FDI của Nhà nớc.
Những đặc điểm cơ bản của FDI.
Thứ nhất, FDI là hoạt động thị trờng hơn thế nữa là thị trờng mang tính chất
và quy Luậtcủa thị trờng quốc tế. Do điều kiện cạnh tranh quốc tế các nhà đầu t
phải tính toán kỹ khả năng, điều kiện thị trờng để thu lợi nhuận. Họ sẽ không hoặc
sẽ đầu t hạn chế vào những dự án mà hiệu quả kinh tế không rõ ràng và kém hấp
dẫn. Do vậy, một trong những yêu cầu quản lý Nhà nớc là phải tạo điều kiện để
các nhà đầu t nớc ngoài hiểu đầy đủ và rõ ràng các thông tin về đờng lối, chính
sách của Nhà nớc về pháp luật, thị trờng, đối tác và những quy định cụ thể khác
đối với FDI.
Thứ hai, FDI là hoạt động của khu vực t nhân và hơn thế nữa là hoạt động
của t nhân nớc ngoài có quyền sở hữu và quyền quản lý. Động cơ của nhà đầu t n-
ớc ngoài khác với mục tiêu của nớc chủ nhà. Các nhà đầu t nớc ngoài quan tâm
đến những vấn đề thiết thực nh thuế, giá thuê các loại, chi phí sản xuất và cuối
cùng là lợi nhuận thực tế. Trong khi đó nớc chủ nhà lại quan tâm đến hiệu quả
kinh tế - xã hội, đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Do vậy quản lý Nhà n-
12
Các công cụ quản lý vĩ
mô của Nhà nớc đối với
hoạt động FDI
Các chính
sách kinh
tế - x hộiã
Bộ máy
Nhà nớc
Pháp
luật
Kế
hoạch
chiến lợc
Quyết
định
hành
chính
ớc về FDI phải tạo điều kiện cho cả 2 lợi ích này dung hoà đợc với nhau, bằng các
chính sách hớng dẫn cụ thể và hấp dẫn đồng thời không áp đặt, ép buộc một cách
chủ quan, duy ý chí.
Thứ ba, FDI phần lớn do các công ty xuyên quốc gia tiến hành. Lý thuyết và
kinh nghiệm cho thấy các công ty này có lợi thế về uy tín, nhãn hiệu, thị trờng nh-
ng có xu hớng "bảo hộ" mạnh, vì vậy việc thu hút các công ty này là một việc làm
tốt, cần thiết. Đồng thời cần có biện pháp thu hút tối đa lợi thế của họ nh công
nghệ, bí quyết quản lý, kinh doanh.
Thứ t, FDI đợc thực hiện thông qua các dự án đầu t. Quy trình hoạt động dự
án FDI có nhiều đặc điểm khác với quy trình của các loại dự án khác. Quy trình
này bắt đầu từ việc chuẩn bị dự án, lựa chọn đối tác, đàm phán, lập hồ sơ, ký kết,
xin giấy phép cho việc triển khai và đa dự án vào hoạt động. Sự phức tạp này đòi
hỏi cần có một cơ quan quản lý Nhà nớc đủ mạnh để theo dõi, hỗ trợ cho dự án
hoạt động thành công.
FDI là một lĩnh vực mới mẻ và phức tạp của hoạt động kinh tế đối ngoại ở
Việt Nam, nên ngay từ đầu, Nhà nớc đã đứng ra chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ
quá trình hoạt động của đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Mục tiêu chung của công tác quản lý hoạt động FDI là thực hiện mục tiêu
chung của Nhà nớc trong quan hệ hợp tác với nớc ngoài, tranh thủ mọi nguồn lực
có thể có của thế giới về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trờng và sự
phân công lao động quốc tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng về lao động, tài
nguyên của đất nớc để phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng tích luỹ, cải
thiện đời sống nhân dân, từng bớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Mục tiêu cụ thể của công tác quản lý FDI là giúp các nhà đầu t thực hiện một
cách tốt nhất, hiệu quả nhất Luậtđầu t nớc ngoài ở Việt Nam, tạo môi trờng hoạt
động thông thoáng, giải quyết, xử lý và điều chỉnh những phát sinh trong quá trình
đầu t, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.
Nội dung của công tác quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài:
- Xây dựng chiến lợc, quy hoạch và chính sách, định hớng cho các hoạt động
đầu t.
- Ban hành các văn bản pháp luật, quy chế quản lý đầu t nh Luật đầu t,
Luậtthuế
13
- Hớng dẫn các ngành, địa phơng thực hiện các công việc liên quan đến hoạt
động đầu t nớc ngoài
- Cấp và thu hồi giấy phép.
- Quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan Nhà nớc trong quản lý hoạt
động đầu t nớc ngoài.
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Công tác quản lý Nhà nớc về hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc thực
hiện thông qua các cơ quan sau:
a) Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài tại
Việt Nam.
Chính phủ quy định việc cấp giấy phép đầu t của Bộ Kế hoạch và Đầu t: Căn
cứ vào quy định, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, lĩnh vực, quy mô, tính chất
của dự án đầu t; quyết định việc phân cấp giấy phép đầu t cho UBND tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ơng có đủ điều kiện, quy định việc cấp giấy phép đầu t đối
với dự án đầu t vào khu chế xuất, khu công nghiệp.
b) Bộ Kế hoạch và Đầu t:
Là cơ quan quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, giúp Chính phủ quản lý hoạt
động đầu t nớc ngoài tại Việt Nam. Bộ Kế hoạch và Đầu t có nhiệm vụ và quyền
hạn sau:
- Chủ trì xây dựng, trình Thủ tớng Chính phủ chiến lợc, quy hoạch thu hút
vốn đầu t nớc ngoài, soạn thảo các dự án pháp luật, chính sách về đầu t nớc ngoài,
phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc quản
lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, hớng dẫn UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung -
ơng trong việc thực hiện pháp luật, chính sách về đầu t nớc ngoài.
- Xây dựng tổng hợp danh mục đầu t; hớng dẫn về thủ tục đầu t, quản lý Nhà
nớc đối với các hoạt động xúc tiến và hớng dẫn đầu t.
- Tiếp nhận dự án đầu t và chủ trì thẩm định, cấp giấy phép đầu t cho các dự
án đầu t thuộc thẩm quyền.
- Làm đầu mối giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành,
triển khai và thực hiện dự án đầu t nớc ngoài.
14
Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở Nhà máy Cơ Khí Giải Phóng
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
I. Khái niệm - Bản chất - Vai trò của tiền l ơng:
1. Khái niệm về tiền l ơng:
- Lao động là một trong nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, nó tác
động đến kết quả sản xuất, trên hai mặt số lợng và chất lợng lao động.
- Số lợng lao động đợc phản ánh trong sổ danh sách lao động do phòng
Tổ chức hành chính lập sổ này, nó đợc tập trung cho toàn Nhà máy, lập riêng
cho từng đơn vị để nắm chắc tình hình phân bố sử dụng lao động hiện có trong
Nhà máy.
- Trong Nhà máy các đơn vị sản xuất thờng có biến động về lao động
tăng hoặc giảm, việc biến động này cũng có ảnh hởng đến việc thực hiện
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Để phản ánh kịp thời chính xác số lợng lao
động trong toàn Nhà máy, phòng Tổ chức hành chính phải ghi vào sổ đăng ký
lao động cho từng đơn vị trong Nhà máy để theo dõi, tuyển dụng, thôi việc,
nghỉ hu một cách kịp thời làm cơ sở cho việc báo cáo về lao động của Nhà
máy vào cuối tháng, quý, hàng năm.
- Để quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động cần phải tổ chức tốt
việc hạch toán thời gian sử dụng lao động, kết quả lao động cả công nhân viên
trong Nhà máy có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh của Nhà máy.
- Nhà máy dùng bảng chấm công theo mãu số : 01- LĐTL cho từng
công nhân viên, từng tổ từng ca, từng bộ phận, từng phân xởng, từng phòng
ban để chấm công đi làm.
- Bảng chấm công là tài liệu quan trọng với công tác kế toán lao động
tiền lơng, là tài liệu để đánh giá phát triển.Tình hình sử dụng thời gian lao
động hàng ngày, hàng tháng Tiền lơng của cán bộ công nhân viên ngoài
bảng chấm công kế toán còn sử dụngmột số chứng từ khác để phản ánh tình
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
5
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
hình cụ thể, thời gian sử dụng lao động, phiếu ghi kết quả sản xuất, phiếu làm
thêm giờ, phiếu giao việc để làm cơ sở tính lơng và BHXH.
- Kết quả lao động của công nhân trong Nhà máy chịu ảnh hởng của
nhiều nhân tố nh: Máy móc thiết bị, thời gian lao động, trình độ tay nghề, tinh
thần thái độ lao động, do vậy trong quá trình hạch toán kế toán phải dựa vào
các yếu tố để đánh giá qua kết quả sản xuất. Năng suất lao động, chất lợng sản
phẩm, công việc hoàn thành là cơ sở cho việc tính tiền lơng và các chế độ cho
ngời lao động.
2. Bản chất của tiền l ơng:
- Tiền lơng, tiền công đợc quan niệm là giá cả sức lao động, đợc hình
thành thông qua sự thoả thuận giữa ngời lao động và ngời sử dụng sức lao
động phù hợp với các quan hệ lao động của nền kinh tế thị trờng.
- Nhà nớc thực hiện trả lơng theo việc, khuyến khích ngời có tài năng,
ngời lao động làm việc tốt.
Cần phân biệt phạm trù tiền lơng với thu nhập. Thu nhập bao gồm tiền
lơng, tiền thởng, phân chia lợi nhuận và các khoản khác ngoài lơng.
3. Vai trò của tiền l ơng:
Vai trò của tiền lơng đợc biểu hiện trên các mặt sau:
* Về kinh tế :
Tiền lơng đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh
tế gia đình, ngời lao động dùng tiền lơng để trang trải các khoản chi phí trong
gia đình nh ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chữa bệnh, vui chơi giải trí phần còn
lại để tích luỹ. Nếu tiền lơng bảo đảm đủ trang trải và có tích luỹ sẽ tạo điều
kiện cho ngời lao động yên tâm phấn khởi làm việc, thực hiện dân giàu nớc
mạnh. Ngợc lại tiền lơng thấp sẽ làm cho mức sống của họ giảm sút, kinh tế
gia đình gặp khó khăn.
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
6
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
* Về chính trị - xã hội:
Tiền lơng không chỉ ảnh hởng tới tâm t của ngời lao động đối với doanh
nghiệp mà còn đối với xã hội. Nếu tiền lơng cao sẽ có ảnh hởng tích cực, ngợc
lại họ sẽ không tha thiết với doanh nghiệp, mất lòng tin vào tơng lai.
Có thể nói tiền lơng là một nhân tố tích cực nhất, cách mạng nhất đối
với nền kinh tế - xã hội.
II. Chức năng của tiền l ơng và nguyên tắc trả l ơng:
1. Chức năng của tiền l ơng:
Tiền lơng có 4 chức năng sau:
- Tiền lơng phải đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động. Đây là
yêu cầu thấp nhất của tiền lơng, phải nuôi sống ngời lao động, duy trì sức lao
động của họ.
- Bảo đảm vai trò kích thích của tiền lơng. Vì tiền lơng mà ngời lao
động phải có trách nhiệm cao với công việc,tiền lơng phải tạo ra đợc niềm say
mê nghề nghiệp, làm cho ngời lao động không ngừng bồi dỡng, nâng cao trình
độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng kỹ sảo, chịu khó học hỏi, tìm tòi
trong lao động.
- Bảo đảm vai trò điều phối lao động tiền lơng:
Với tiền lơng thảo đáng ngời lao động tự nguyện nhận mọi công việc đ-
ợc giao, dù ở đâu làm việc gì, công việc dù có độc hại, nguy hiểm, bất cứ lức
nào thậm chí ngoài giờ làm việc.
- Vai trò quản lý lao động của tiền lơng:
Thông qua việc trả lơng mà ngời quản lý kiểm tra, theo dõi, giám sát
ngời lao động làm việc theo sự chỉ đạo của mình, đảm bảo tiền lơng chi ra
phải đem lại kết quả, hiệu quả rõ rệt. Hiệu quả của tiền lơng không chỉ đợc
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
7
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
tính theo tháng mà còn đợc tính theo ngày, trong từng bộ phậnvà trong toàn
doanh nghiệp.
2. Nguyên tắc tổ chức tiền l ơng:
Việc sử dụng tiền lơng làm công cụ kích thích kinh tế đối với ngời lao
động đòi hỏi phải qui định những nguyên tắc tổ chức tiền lơng sau:
* Nguyên tắc 1: Trả lơng theo số lợng và chất lợng lao động:
Nguyên tắc này bắt nguồn từ qui luật phân phối theo lao động. Trả lơng
theo số lợng và chất lợng lao động sẽ khắc phục đợc chủ nghĩa bình quân
trong phân phối.
- Chất lợng lao động thể hiện ở mức độ phức tạp của công nghệ, trình
độ thành thạo của ngời lao động càng cao thì tiền lơng càng cao hơn.
- Số lợng lao động: thể hiện ở số lợng sản phẩm hoặc khối lợng công
việc đợc hoàn thành.
* Nguyên tắc 2: bảo đảm tái sản xuất sức lao động và không ngừng
nâng cao mức sống:
Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu của qui luật tái sản xuất mở rộng.
Nó là yếu tố khách quan, gồm 3 mặt:
- Tái sản xuất giản đơn sức lao động.
- Tái sản xuất mở rộng sức lao động.
- Tái sản xuất sức lao động mơi.
Thực hiện nguyên tắc này, công tác tiền lơng tính đúng, tính đủ giá trị
sức lao động bỏ ra. Tiền lơng phải đảm bảo cho ngời làm công ăn lơng tái sản
xuất sức lao động của bản thân và gia đình họ.
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
8
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
Trong thiết kế tiền lơng cần tiền tệ hoá tiền lơng một cách tích cực nhất,
xoá bỏ chế độ bao cấp ngoài lơng dới hình thức hiện vật, tiền lơng phải gắn
với giá trị hàng hoá, giá cả t liệu sinh hoạt.
* Nguyên tắc 3: Bảo đảm quan hệ hợp lý giữa tiền lơng và thu nhập của
các bộ phận lao động trong xã hội:
Tổ chức tiền lơng trong doanh nghiệp biểu hiện chính sách đãi ngộ của
Đảng và Nhà nớc đối với ngời lao động, có liên quan đến cuộc sống toàn dân,
đến toàn bộ nền SX - XH, tiền lơng có liên quan đến vấn đề đoàn kết giữa các
công nhân viên chức các ngành, giữa các bộ phận lao động khác và liên quan
đến việc thực hiện công bằng xã hội.
* Nguyên tắc 4: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lơng giữa các
ngành trong nền kinh tế quốc dân:
Cơ sở của nguyên tắc này căn cứ vào chức năng của tiền lơng là tái sản
xuất sức lao động kích thích ngời lao động do đó phải đảm bảo hợp lí giữa các
ngành thông qua chỉ tiêu bình quân giữa các ngành. Tiền lơng bình quân giữa
các ngành đợc quy định bởi các nhân tố:
- Nhân tố trình độ lành nghề bình quân của ngời lao động mỗi ngành,
tính chất phức tạp về kỹ thuật giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân đòi
hỏi trình độ lành nghề bình quân của ngời lao động giữa các ngành khác nhau.
Trả lơng cao hơn cho ngời lao động một cách thích đáng sẽ khuyến khích cho
họ nâng cao trình độ và số lợng lao động.
- Nhân tố điều kiện lao động: những ngời làm việc trong điều kiện nặng
nhọc tổn hao nhiều năng lợng sẽ đợc trả lơng cao hơn những ngời làm việc
trong điều kiện bình thờng để bù đắp sức lao động đã hao phí. Trả công có
tính đến điều kiện lao động có ảnh hởng ít nhiều đến tiền lơng bình quân ở
mỗi ngành nghề.
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
9
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
- Nhân tố Nhà nớc: Do ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành phụ thuộc vào
điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ mà Nhà nớc có sự u tiên nhất định. Các
ngành chủ yếu quyết định sự phát triển của đất nớc thì đợc đảm bảo tiền lơng
cao hơn. Nh vậy mới khuyến khích ngời lao động yên tâm làm việc lâu dài ở
những ngành nghề có vị trí quan trọng ở từng thời kỳ nhất định.
- Nhân tố phân bố khu vực sản xuất ở mỗi ngành khác nhau: ảnh hởng
đến mức tiền lơng bình quân mỗi ngành do điều kiện sinh hoạt ở các khu vực
khác nhau việc quy định các yếu tố phụ cấp khu vực thờng căn cứ vào điều
kiện khí hậu những nơi xa xôi hẻo lánh, nhu cầu về sức lao động, những chênh
lệch đó phải đợc bù đắp bằng tiền lơng phụ cấp cao hơn và u đãi khác.
Nếu làm khác đi sẽ không thu hút đợc ngời lao động đến làm việc tại
các khấu hao vực kinh tế mới giàu tài nguyên thiên nhiên nhng lại thiếu nhân
lực.
III. Phân loại tiền l ơng:
Ta đã biết tiền lơng là một phần giá trị mới sáng tạo ra của doanh
nghiệp dùng để trả lơng cho ngời lao động. Trên thực tế cái mà ngời lao động
yêu cầu không phải là một khối lợng tiền lơng lớn mà thực tế họ quan tâm đến
khối lợng t liệu sinh hoạt mà họ nhận đợc thông qua tiền lơng. Vấn đề này liên
quan đến tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế:
* Tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế:
+ Tiền lơng danh nghĩa: là chỉ số lợng tiền tệ mà ngời sử dụng lao
độngtrả cho ngời lao động căn cứ vào hợp đồng lao động thoả thuận giữa hai
bên trong việc thuê lao động. Trên thực tế mọi mức lơng trả cho ngời lao động
đều là tiền lơng danh nghĩa.
+ Tiền lơng thực tế: là số lợng t liệu sinh hoạt và dịch vụ mà ngời lao
động có thể mua đợc bằng tiền lơng của mình sau khi đã đóng các khoản thuế
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
10
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
theo qui định của Nhà nớc. Chỉ số tiền lơng thực tế tỷ lệ nghịch với chỉ số tiền
lơng danh nghĩa tại thời điểm xác định.
Ta có công thức:
Tiền lơng thực tế =
Tiền lơng danh nghĩa
Chỉ số giá cả hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ
Qua công thức trên ta thấy chỉ số tiền lơng thực tế thay đổi tỷ lệ thuận với chỉ
số tiền lơng danh nghĩa và tỷ lệ nghịc với chỉ số giá cả
Điều mà ngời lao động quan tâm là làm thế nào để tăng đợc số tiền lơng
thực tế. Xét trên mặt lý thuyết có thể xảy ra trờng hợp sau:
- Trờng hợp 1: chỉ số tiền lơng danh nghĩa tăng và chỉ số giá cả giảm.
- Trờng hợp 2: chỉ số tiền lơng danh nghĩa tăng và chỉ số giá cả không
thay đổi.
- Trờng hợp 3: chỉ số tiền lơng danh nghĩa không thay đổi và chỉ số giá
cả giảm.
- Trờng hợp 4: chỉ số tiền lơng danh nghĩa và chỉ số giá cả cùng tăng
nhng tốc độ tăng của giá cả nhỏ hơn tốc độ tăng của tiền lơng danh nghĩa.
Luật hoá mức lơng tối thiểu nhằm hạn chế sự giãn cách quá lớn giữa
tiền lơng thực tế và tiền lơng danh nghĩa là hình thức can thiệp của Chính phủ.
Mặt khác tiền lơng tối thiểu cũng ảnh hởng trở lại đối với hành vi và động cơ
của doanh nghiệp khi các đại lợng nh: mức sản lợng, mức thuê lao động, mức
lơng, mức lợi nhuận có thể đạt đợc trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đó.
Tóm lại: tiền lơng phụ thuộc vào cơ chế chính sách phân phối các
hình thức trả lơng của doanh nghiệp và sự điều tiết bằng các chính sách của
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
11
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
Chính phủ đối với doanh nghiệp, bản chất của tiền lơng là một yếu tố đầu vào
của chi phí sản xuất kinh doanh.
* Về phơng diện hạch toán: tiền lơng công nhân của các doanh nghiệp
sản xuất đợc chia thành 2 loại: tiền lơng chính và tiền lơng phụ:
- Tiền lơng chính: là tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian làm
việc thực tế có thể làm việc bao gồm cả tiền lơng cấp bậc, tiền thởng và các
khoản phụ cấp có tính chất tiền lơng (phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực)
- Tiền lơng phụ: là tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian thực
tế không làm việc nhng đợc hởng theo chế độ quy định của nhà nớc nh: nghỉ
phép, nghỉ hè, nghỉ tết, nghỉ chủ nhật, hội họp
Cách phân loại này không những giúp cho việc tính toán, phân bổ chi
phí tiền lơng đợc chính xác mà còn cung cấp thông tin cho việc phân tích chi
phí tiền lơng
IV. Các hình thức trả lơng trong doanh nghiệp, quỹ tiền lơng và quỹ
BHXH
1. Hình thức trả l ơng theo thời gian:
Đây là hình thức trả lơng căn cứ vào thời gian lao động, vào lơng cấp
bậc yêu cầu để tính lơng cho công nhân.
Đây cũng là hình thức trả lơng đơn giản nhất và thông thờng nhất, trả l-
ơng theo thời gian là cách trả tiền công lao động theo tỷ lệ tiền công lao động
trong một giờ. Hình thức trả lơng này thờng đợc áp dụngcho ngời làm công tác
quản lý. Với công nhân sản xuất thì áp dụng ở khâu, bộ phận làm bằng máy là
chủ yếu hoặc bộ phận khó định mức chính xác, chặt chẽ.
Hình thức này áp dụng chủ yếu cho cán bộ công nhân viên chức quản lý nh: y
tế, giáo dục, sản xuất trên dây truyền tự động Trong đó có hai loại:
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
12
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
a. Trả l ơng theo thời gian giản đơn:
Đây là số tiền trả cho ngời lao động căn cứ vào bậc lơng và thời gian
thực tế làm việc không xét đến thái độ lao động và kết quả công việc.
Hình thức này phù hợp với loại lao động gián tiếp, thờng đợc áp dụng
cho loại hoạt động không đồng nhất. Trả lơng theo hình thức này cha phát huy
đầy đủ các nguyên tắc phân phối theo lao động vì cha chú ý đến các mặt chất
lợng công tác thực tế của công nhân viên chức.
+ Lơng tháng: áp dụng đối với cán bộ công nhân viên làm ở bộ phận
gián tiếp và đợc quy định cho từng bậc lơng trong bảng lơng:
Mức lơng = Lơng cơ bản + Phụ cấp (nếu có)
+ Lơng ngày: Đối tợng áp dụng nh lơng tháng, khuyến khích ngời lao
động đi làm đều. Căn cứ vào số ngày làm việc thực tế trong tháng và mức lơng
của một ngày để trả lơng, mức lơng ngày bằng mức lơng tháng chia cho 22
ngày:
Mức lơng =
Lơng cơ bản x hệ số lơng
Số ngày làm việc theo chế độ (22ngày)
x
Số ngày làm
việc thực tế
+ Lơng giờ: áp dụng đối với ngời làm việc tạm thời đối với từng công việc.
Căn cứ vào mức lơng ngày chia cho tám giờ và số giờ làm việc thực tế áp dụng để
tính đơn giá tiền lơng trả theo sản phẩm:
Mức lơng =
Mức lơng ngày
8 giờ làm việc
x
Số giờ làm việc thực
tế
b. Trả l ơng theo thời gian có th ởng:
Thực chất của chế độ này là sự kết kợp giữa việc trả lơng theo thời gian
giản đơn và tiền thởng khi công nhân vợt mức chỉ tiêu số lợng và chất lợng qui
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
13
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
định. Nó có u điểm hơn hình thức trả lơng theo thời gian giản đơn, vừa lhản
ánh trình độ thành thạo, thời gian làm việc, vừa khuyến khích đợc ngời lao
động có trách nhiệm với công việc. Nhng việc xác định lơng bao nhiêu là hợp
lý là rất khó khăn vì vậy vó cha đảm bảo phân phối theo lao động:
Mức lơng = Lơng theo thời gian giản đơn + Tiền thởng
Hình thức này chỉ thuần tuý đo lờng đợc sự hiện diện của công nhân
đối với công việc sản xuất, chứ cha đo lờng sức cố gắng hoặc hiệu quả sản
xuất. Nó cha gắn đợc thu nhập với kết quả sản xuất của ngời lao động, còn
mang nặng tính bình quân.
2. Hình thức trả l ơng theo sản phẩm:
Lơng tính theo sản phẩm là tiền lơng tính trả cho ngời công nhân căn cứ
vào số lợng sản phẩm, chất lơng sản phẩm hoặc công việc hoàn thành và đơn
giá tiền lơng trả cho sản phẩm hoàn thành. Hình thức này đã quán triệt đầy đủ
hơn gắn thu nhập tiền lơng với kết quả sản xuất của mỗi công nhân. Do đó
kích thích công nhân nâng cao năng suất lao động, khuyến khích họ ra sức học
tập văn hoá kỹ thuật, nghiệp vụ để nâng cao trình độ lành nghề, ra sức sáng
tạo, cải tiến kỹ thuật, cải tiến phơng pháp lao động, sử dụng tốt máy móc thiết
bị để nâng cao nâng suất lao động góp phần thúc đẩy việc cải tiến quản lý
doanh nghiệp, nhất là công tác lao động và thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh
tế. Theo qui định hiện nay Giám đốc các doanh nghiệp có quyền lựa chọn các
hình thức trả lơng phù họp với từng tập thể hay cá nhân ngời lao động. Trong
việc lựa chọn hình thức và chế độ trả lơng thì Nhà máy có thể lựa chọn một
trong các cách trả lơng sau:
a. Chế độ trả l ơng theo sản phẩm trực tiếp cá nhân:
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
14
cb
I. Khái niệm - Bản chất - Vai trò của tiền l ơng:
1. Khái niệm về tiền l ơng:
- Lao động là một trong nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, nó tác
động đến kết quả sản xuất, trên hai mặt số lợng và chất lợng lao động.
- Số lợng lao động đợc phản ánh trong sổ danh sách lao động do phòng
Tổ chức hành chính lập sổ này, nó đợc tập trung cho toàn Nhà máy, lập riêng
cho từng đơn vị để nắm chắc tình hình phân bố sử dụng lao động hiện có trong
Nhà máy.
- Trong Nhà máy các đơn vị sản xuất thờng có biến động về lao động
tăng hoặc giảm, việc biến động này cũng có ảnh hởng đến việc thực hiện
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Để phản ánh kịp thời chính xác số lợng lao
động trong toàn Nhà máy, phòng Tổ chức hành chính phải ghi vào sổ đăng ký
lao động cho từng đơn vị trong Nhà máy để theo dõi, tuyển dụng, thôi việc,
nghỉ hu một cách kịp thời làm cơ sở cho việc báo cáo về lao động của Nhà
máy vào cuối tháng, quý, hàng năm.
- Để quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động cần phải tổ chức tốt
việc hạch toán thời gian sử dụng lao động, kết quả lao động cả công nhân viên
trong Nhà máy có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh của Nhà máy.
- Nhà máy dùng bảng chấm công theo mãu số : 01- LĐTL cho từng
công nhân viên, từng tổ từng ca, từng bộ phận, từng phân xởng, từng phòng
ban để chấm công đi làm.
- Bảng chấm công là tài liệu quan trọng với công tác kế toán lao động
tiền lơng, là tài liệu để đánh giá phát triển.Tình hình sử dụng thời gian lao
động hàng ngày, hàng tháng Tiền lơng của cán bộ công nhân viên ngoài
bảng chấm công kế toán còn sử dụngmột số chứng từ khác để phản ánh tình
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
5
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
hình cụ thể, thời gian sử dụng lao động, phiếu ghi kết quả sản xuất, phiếu làm
thêm giờ, phiếu giao việc để làm cơ sở tính lơng và BHXH.
- Kết quả lao động của công nhân trong Nhà máy chịu ảnh hởng của
nhiều nhân tố nh: Máy móc thiết bị, thời gian lao động, trình độ tay nghề, tinh
thần thái độ lao động, do vậy trong quá trình hạch toán kế toán phải dựa vào
các yếu tố để đánh giá qua kết quả sản xuất. Năng suất lao động, chất lợng sản
phẩm, công việc hoàn thành là cơ sở cho việc tính tiền lơng và các chế độ cho
ngời lao động.
2. Bản chất của tiền l ơng:
- Tiền lơng, tiền công đợc quan niệm là giá cả sức lao động, đợc hình
thành thông qua sự thoả thuận giữa ngời lao động và ngời sử dụng sức lao
động phù hợp với các quan hệ lao động của nền kinh tế thị trờng.
- Nhà nớc thực hiện trả lơng theo việc, khuyến khích ngời có tài năng,
ngời lao động làm việc tốt.
Cần phân biệt phạm trù tiền lơng với thu nhập. Thu nhập bao gồm tiền
lơng, tiền thởng, phân chia lợi nhuận và các khoản khác ngoài lơng.
3. Vai trò của tiền l ơng:
Vai trò của tiền lơng đợc biểu hiện trên các mặt sau:
* Về kinh tế :
Tiền lơng đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh
tế gia đình, ngời lao động dùng tiền lơng để trang trải các khoản chi phí trong
gia đình nh ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chữa bệnh, vui chơi giải trí phần còn
lại để tích luỹ. Nếu tiền lơng bảo đảm đủ trang trải và có tích luỹ sẽ tạo điều
kiện cho ngời lao động yên tâm phấn khởi làm việc, thực hiện dân giàu nớc
mạnh. Ngợc lại tiền lơng thấp sẽ làm cho mức sống của họ giảm sút, kinh tế
gia đình gặp khó khăn.
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
6
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
* Về chính trị - xã hội:
Tiền lơng không chỉ ảnh hởng tới tâm t của ngời lao động đối với doanh
nghiệp mà còn đối với xã hội. Nếu tiền lơng cao sẽ có ảnh hởng tích cực, ngợc
lại họ sẽ không tha thiết với doanh nghiệp, mất lòng tin vào tơng lai.
Có thể nói tiền lơng là một nhân tố tích cực nhất, cách mạng nhất đối
với nền kinh tế - xã hội.
II. Chức năng của tiền l ơng và nguyên tắc trả l ơng:
1. Chức năng của tiền l ơng:
Tiền lơng có 4 chức năng sau:
- Tiền lơng phải đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động. Đây là
yêu cầu thấp nhất của tiền lơng, phải nuôi sống ngời lao động, duy trì sức lao
động của họ.
- Bảo đảm vai trò kích thích của tiền lơng. Vì tiền lơng mà ngời lao
động phải có trách nhiệm cao với công việc,tiền lơng phải tạo ra đợc niềm say
mê nghề nghiệp, làm cho ngời lao động không ngừng bồi dỡng, nâng cao trình
độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng kỹ sảo, chịu khó học hỏi, tìm tòi
trong lao động.
- Bảo đảm vai trò điều phối lao động tiền lơng:
Với tiền lơng thảo đáng ngời lao động tự nguyện nhận mọi công việc đ-
ợc giao, dù ở đâu làm việc gì, công việc dù có độc hại, nguy hiểm, bất cứ lức
nào thậm chí ngoài giờ làm việc.
- Vai trò quản lý lao động của tiền lơng:
Thông qua việc trả lơng mà ngời quản lý kiểm tra, theo dõi, giám sát
ngời lao động làm việc theo sự chỉ đạo của mình, đảm bảo tiền lơng chi ra
phải đem lại kết quả, hiệu quả rõ rệt. Hiệu quả của tiền lơng không chỉ đợc
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
7
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
tính theo tháng mà còn đợc tính theo ngày, trong từng bộ phậnvà trong toàn
doanh nghiệp.
2. Nguyên tắc tổ chức tiền l ơng:
Việc sử dụng tiền lơng làm công cụ kích thích kinh tế đối với ngời lao
động đòi hỏi phải qui định những nguyên tắc tổ chức tiền lơng sau:
* Nguyên tắc 1: Trả lơng theo số lợng và chất lợng lao động:
Nguyên tắc này bắt nguồn từ qui luật phân phối theo lao động. Trả lơng
theo số lợng và chất lợng lao động sẽ khắc phục đợc chủ nghĩa bình quân
trong phân phối.
- Chất lợng lao động thể hiện ở mức độ phức tạp của công nghệ, trình
độ thành thạo của ngời lao động càng cao thì tiền lơng càng cao hơn.
- Số lợng lao động: thể hiện ở số lợng sản phẩm hoặc khối lợng công
việc đợc hoàn thành.
* Nguyên tắc 2: bảo đảm tái sản xuất sức lao động và không ngừng
nâng cao mức sống:
Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu của qui luật tái sản xuất mở rộng.
Nó là yếu tố khách quan, gồm 3 mặt:
- Tái sản xuất giản đơn sức lao động.
- Tái sản xuất mở rộng sức lao động.
- Tái sản xuất sức lao động mơi.
Thực hiện nguyên tắc này, công tác tiền lơng tính đúng, tính đủ giá trị
sức lao động bỏ ra. Tiền lơng phải đảm bảo cho ngời làm công ăn lơng tái sản
xuất sức lao động của bản thân và gia đình họ.
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
8
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
Trong thiết kế tiền lơng cần tiền tệ hoá tiền lơng một cách tích cực nhất,
xoá bỏ chế độ bao cấp ngoài lơng dới hình thức hiện vật, tiền lơng phải gắn
với giá trị hàng hoá, giá cả t liệu sinh hoạt.
* Nguyên tắc 3: Bảo đảm quan hệ hợp lý giữa tiền lơng và thu nhập của
các bộ phận lao động trong xã hội:
Tổ chức tiền lơng trong doanh nghiệp biểu hiện chính sách đãi ngộ của
Đảng và Nhà nớc đối với ngời lao động, có liên quan đến cuộc sống toàn dân,
đến toàn bộ nền SX - XH, tiền lơng có liên quan đến vấn đề đoàn kết giữa các
công nhân viên chức các ngành, giữa các bộ phận lao động khác và liên quan
đến việc thực hiện công bằng xã hội.
* Nguyên tắc 4: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lơng giữa các
ngành trong nền kinh tế quốc dân:
Cơ sở của nguyên tắc này căn cứ vào chức năng của tiền lơng là tái sản
xuất sức lao động kích thích ngời lao động do đó phải đảm bảo hợp lí giữa các
ngành thông qua chỉ tiêu bình quân giữa các ngành. Tiền lơng bình quân giữa
các ngành đợc quy định bởi các nhân tố:
- Nhân tố trình độ lành nghề bình quân của ngời lao động mỗi ngành,
tính chất phức tạp về kỹ thuật giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân đòi
hỏi trình độ lành nghề bình quân của ngời lao động giữa các ngành khác nhau.
Trả lơng cao hơn cho ngời lao động một cách thích đáng sẽ khuyến khích cho
họ nâng cao trình độ và số lợng lao động.
- Nhân tố điều kiện lao động: những ngời làm việc trong điều kiện nặng
nhọc tổn hao nhiều năng lợng sẽ đợc trả lơng cao hơn những ngời làm việc
trong điều kiện bình thờng để bù đắp sức lao động đã hao phí. Trả công có
tính đến điều kiện lao động có ảnh hởng ít nhiều đến tiền lơng bình quân ở
mỗi ngành nghề.
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
9
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
- Nhân tố Nhà nớc: Do ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành phụ thuộc vào
điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ mà Nhà nớc có sự u tiên nhất định. Các
ngành chủ yếu quyết định sự phát triển của đất nớc thì đợc đảm bảo tiền lơng
cao hơn. Nh vậy mới khuyến khích ngời lao động yên tâm làm việc lâu dài ở
những ngành nghề có vị trí quan trọng ở từng thời kỳ nhất định.
- Nhân tố phân bố khu vực sản xuất ở mỗi ngành khác nhau: ảnh hởng
đến mức tiền lơng bình quân mỗi ngành do điều kiện sinh hoạt ở các khu vực
khác nhau việc quy định các yếu tố phụ cấp khu vực thờng căn cứ vào điều
kiện khí hậu những nơi xa xôi hẻo lánh, nhu cầu về sức lao động, những chênh
lệch đó phải đợc bù đắp bằng tiền lơng phụ cấp cao hơn và u đãi khác.
Nếu làm khác đi sẽ không thu hút đợc ngời lao động đến làm việc tại
các khấu hao vực kinh tế mới giàu tài nguyên thiên nhiên nhng lại thiếu nhân
lực.
III. Phân loại tiền l ơng:
Ta đã biết tiền lơng là một phần giá trị mới sáng tạo ra của doanh
nghiệp dùng để trả lơng cho ngời lao động. Trên thực tế cái mà ngời lao động
yêu cầu không phải là một khối lợng tiền lơng lớn mà thực tế họ quan tâm đến
khối lợng t liệu sinh hoạt mà họ nhận đợc thông qua tiền lơng. Vấn đề này liên
quan đến tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế:
* Tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế:
+ Tiền lơng danh nghĩa: là chỉ số lợng tiền tệ mà ngời sử dụng lao
độngtrả cho ngời lao động căn cứ vào hợp đồng lao động thoả thuận giữa hai
bên trong việc thuê lao động. Trên thực tế mọi mức lơng trả cho ngời lao động
đều là tiền lơng danh nghĩa.
+ Tiền lơng thực tế: là số lợng t liệu sinh hoạt và dịch vụ mà ngời lao
động có thể mua đợc bằng tiền lơng của mình sau khi đã đóng các khoản thuế
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
10
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
theo qui định của Nhà nớc. Chỉ số tiền lơng thực tế tỷ lệ nghịch với chỉ số tiền
lơng danh nghĩa tại thời điểm xác định.
Ta có công thức:
Tiền lơng thực tế =
Tiền lơng danh nghĩa
Chỉ số giá cả hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ
Qua công thức trên ta thấy chỉ số tiền lơng thực tế thay đổi tỷ lệ thuận với chỉ
số tiền lơng danh nghĩa và tỷ lệ nghịc với chỉ số giá cả
Điều mà ngời lao động quan tâm là làm thế nào để tăng đợc số tiền lơng
thực tế. Xét trên mặt lý thuyết có thể xảy ra trờng hợp sau:
- Trờng hợp 1: chỉ số tiền lơng danh nghĩa tăng và chỉ số giá cả giảm.
- Trờng hợp 2: chỉ số tiền lơng danh nghĩa tăng và chỉ số giá cả không
thay đổi.
- Trờng hợp 3: chỉ số tiền lơng danh nghĩa không thay đổi và chỉ số giá
cả giảm.
- Trờng hợp 4: chỉ số tiền lơng danh nghĩa và chỉ số giá cả cùng tăng
nhng tốc độ tăng của giá cả nhỏ hơn tốc độ tăng của tiền lơng danh nghĩa.
Luật hoá mức lơng tối thiểu nhằm hạn chế sự giãn cách quá lớn giữa
tiền lơng thực tế và tiền lơng danh nghĩa là hình thức can thiệp của Chính phủ.
Mặt khác tiền lơng tối thiểu cũng ảnh hởng trở lại đối với hành vi và động cơ
của doanh nghiệp khi các đại lợng nh: mức sản lợng, mức thuê lao động, mức
lơng, mức lợi nhuận có thể đạt đợc trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đó.
Tóm lại: tiền lơng phụ thuộc vào cơ chế chính sách phân phối các
hình thức trả lơng của doanh nghiệp và sự điều tiết bằng các chính sách của
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
11
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
Chính phủ đối với doanh nghiệp, bản chất của tiền lơng là một yếu tố đầu vào
của chi phí sản xuất kinh doanh.
* Về phơng diện hạch toán: tiền lơng công nhân của các doanh nghiệp
sản xuất đợc chia thành 2 loại: tiền lơng chính và tiền lơng phụ:
- Tiền lơng chính: là tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian làm
việc thực tế có thể làm việc bao gồm cả tiền lơng cấp bậc, tiền thởng và các
khoản phụ cấp có tính chất tiền lơng (phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực)
- Tiền lơng phụ: là tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian thực
tế không làm việc nhng đợc hởng theo chế độ quy định của nhà nớc nh: nghỉ
phép, nghỉ hè, nghỉ tết, nghỉ chủ nhật, hội họp
Cách phân loại này không những giúp cho việc tính toán, phân bổ chi
phí tiền lơng đợc chính xác mà còn cung cấp thông tin cho việc phân tích chi
phí tiền lơng
IV. Các hình thức trả lơng trong doanh nghiệp, quỹ tiền lơng và quỹ
BHXH
1. Hình thức trả l ơng theo thời gian:
Đây là hình thức trả lơng căn cứ vào thời gian lao động, vào lơng cấp
bậc yêu cầu để tính lơng cho công nhân.
Đây cũng là hình thức trả lơng đơn giản nhất và thông thờng nhất, trả l-
ơng theo thời gian là cách trả tiền công lao động theo tỷ lệ tiền công lao động
trong một giờ. Hình thức trả lơng này thờng đợc áp dụngcho ngời làm công tác
quản lý. Với công nhân sản xuất thì áp dụng ở khâu, bộ phận làm bằng máy là
chủ yếu hoặc bộ phận khó định mức chính xác, chặt chẽ.
Hình thức này áp dụng chủ yếu cho cán bộ công nhân viên chức quản lý nh: y
tế, giáo dục, sản xuất trên dây truyền tự động Trong đó có hai loại:
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
12
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
a. Trả l ơng theo thời gian giản đơn:
Đây là số tiền trả cho ngời lao động căn cứ vào bậc lơng và thời gian
thực tế làm việc không xét đến thái độ lao động và kết quả công việc.
Hình thức này phù hợp với loại lao động gián tiếp, thờng đợc áp dụng
cho loại hoạt động không đồng nhất. Trả lơng theo hình thức này cha phát huy
đầy đủ các nguyên tắc phân phối theo lao động vì cha chú ý đến các mặt chất
lợng công tác thực tế của công nhân viên chức.
+ Lơng tháng: áp dụng đối với cán bộ công nhân viên làm ở bộ phận
gián tiếp và đợc quy định cho từng bậc lơng trong bảng lơng:
Mức lơng = Lơng cơ bản + Phụ cấp (nếu có)
+ Lơng ngày: Đối tợng áp dụng nh lơng tháng, khuyến khích ngời lao
động đi làm đều. Căn cứ vào số ngày làm việc thực tế trong tháng và mức lơng
của một ngày để trả lơng, mức lơng ngày bằng mức lơng tháng chia cho 22
ngày:
Mức lơng =
Lơng cơ bản x hệ số lơng
Số ngày làm việc theo chế độ (22ngày)
x
Số ngày làm
việc thực tế
+ Lơng giờ: áp dụng đối với ngời làm việc tạm thời đối với từng công việc.
Căn cứ vào mức lơng ngày chia cho tám giờ và số giờ làm việc thực tế áp dụng để
tính đơn giá tiền lơng trả theo sản phẩm:
Mức lơng =
Mức lơng ngày
8 giờ làm việc
x
Số giờ làm việc thực
tế
b. Trả l ơng theo thời gian có th ởng:
Thực chất của chế độ này là sự kết kợp giữa việc trả lơng theo thời gian
giản đơn và tiền thởng khi công nhân vợt mức chỉ tiêu số lợng và chất lợng qui
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
13
Báo cáo chuyên đề nguyễn hồng nhung cđkt8 -
cb
định. Nó có u điểm hơn hình thức trả lơng theo thời gian giản đơn, vừa lhản
ánh trình độ thành thạo, thời gian làm việc, vừa khuyến khích đợc ngời lao
động có trách nhiệm với công việc. Nhng việc xác định lơng bao nhiêu là hợp
lý là rất khó khăn vì vậy vó cha đảm bảo phân phối theo lao động:
Mức lơng = Lơng theo thời gian giản đơn + Tiền thởng
Hình thức này chỉ thuần tuý đo lờng đợc sự hiện diện của công nhân
đối với công việc sản xuất, chứ cha đo lờng sức cố gắng hoặc hiệu quả sản
xuất. Nó cha gắn đợc thu nhập với kết quả sản xuất của ngời lao động, còn
mang nặng tính bình quân.
2. Hình thức trả l ơng theo sản phẩm:
Lơng tính theo sản phẩm là tiền lơng tính trả cho ngời công nhân căn cứ
vào số lợng sản phẩm, chất lơng sản phẩm hoặc công việc hoàn thành và đơn
giá tiền lơng trả cho sản phẩm hoàn thành. Hình thức này đã quán triệt đầy đủ
hơn gắn thu nhập tiền lơng với kết quả sản xuất của mỗi công nhân. Do đó
kích thích công nhân nâng cao năng suất lao động, khuyến khích họ ra sức học
tập văn hoá kỹ thuật, nghiệp vụ để nâng cao trình độ lành nghề, ra sức sáng
tạo, cải tiến kỹ thuật, cải tiến phơng pháp lao động, sử dụng tốt máy móc thiết
bị để nâng cao nâng suất lao động góp phần thúc đẩy việc cải tiến quản lý
doanh nghiệp, nhất là công tác lao động và thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh
tế. Theo qui định hiện nay Giám đốc các doanh nghiệp có quyền lựa chọn các
hình thức trả lơng phù họp với từng tập thể hay cá nhân ngời lao động. Trong
việc lựa chọn hình thức và chế độ trả lơng thì Nhà máy có thể lựa chọn một
trong các cách trả lơng sau:
a. Chế độ trả l ơng theo sản phẩm trực tiếp cá nhân:
Khoa: Kinh tế - Pháp chế
14
Vân Long một điểm đến du lịch hấp dẫn
I. Vân Long trong quần thể các địa điểm du lịch của Ninh Bình
1. Tiềm năng du lịch của Ninh Bình
1.1. Giới thiệu về du lịch Ninh Bình
Ninh Bình là một tỉnh giàu tiềm năng về du lịch , với vị trí cách thủ đô Hà nội
90km, nằm trên trục giao thông chính Bắc Nam . Diện tích tự nhiên của tỉnh là
1.420,77 km2, dân số là 902 nghìn ngời . Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này
tài nguyên du lịch phong phú , đa dạng , độc đáo với nhiều danh lam thắng cảnh kỳ
thú , nhiều hang động và khu du lịch nổi tiếng nh: Vờn quốc gia Cúc Phơng, cố đô
Hoa L , Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nớc Vân Long , suối nớc khoáng Kênh
Gà , động Vân Trình , nhà thờ đá Phát Diệm , khu du lịch hang động Tràng An ,
khu du lịch Tam Cốc Bích Động Tất cả những di tích và danh lam thắng cảnh này
đã trở thành những điểm đến du lịch trong những tour du lịch mà du khách trong và
ngoài nớc rất u chuộng .
Ninh Bình cũng là một địa danh có nhiều di tích lịch sử văn hoá . Trên toàn
tỉnh đã thống kê đợc 975 di tích , trong đó có 80 di tích đợc xếp hạng và cấp bằng
di tích quốc gia .
Ninh Bình cũng có nhiều lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá làng
quê Việt Nam đợc kế thừa và phát triển từ phong tục tập quán của nền văn minh
lúa nớc , văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn đã trải qua hàng ngàn năm về trớc
Với tài nguyên phong phú nh vậy , ở Ninh Bình có thể tổ chức và phát triển du
lịch với nhiều sản phẩm du lịch thuộc các loại hình sau:
- Du lịch văn hoá lịch sử
- Du lịch lễ hội tâm linh
- Du lịch thể thao leo núi , làng nghề
- Du lịch tắm ngâm , chữa bệnh
- Du lịch cuối tuần giải trí câu cá
- Du khảo làng quê
- Du lịch sinh thái
Loại hình du lịch nào cũng hấp dẫn và có thể thu hút khách đến thăm quan dài
ngày .Du lịch một vùng non nớc Ninh Bình là đến nơi một không gian sinh vật
cảnh thiên nhiên kỳ thú . Đặc biệt là vờn quốc gia Cúc Phơng và khu bảo tồn thiên
nhiên đất ngập nớc Vân Long. . .
5
1.2. Các khu du lịch trọng điểm của Ninh Bình
Với rất nhiều khu du lịch và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh nhng đã chia
ra làm 6 khu du lịch trọng điểm sau đây:
1.2.1. Khu du lịch vờn quốc gia Cúc Phơng
Khu rừng nguyên sinh có diện tích tự nhiên rộng lớn 22 ngàn ha trên địa bàn 3
tỉnh là Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá . Theo những kết luận đã đợc các nhà khoa
học dày công nghiên cứu qua nhiều năm : Rừng Cúc phơng còn giữ đợc nguyên vẹn
một khu rừng nhiệt đới , với sự hiện diện phong phú của các loài động thực vật tiêu
biểu .
Đến Cúc Phơng là đến với vờn bách thảo khổng lồ , tổng số thống kê đợc ở trong
bảng danh mục thực vật cho đến thời điểm này là 1944 loài thuộc 912 chi , 219 họ ,
86 bộ của 7 ngành gồm ngành rêu, ngành quyết , ngành thông đất , ngành cỏ tháp
bút , dơng xỉ , hạt trần, hạt kín So với số loài ở Việt nam số loài thực vật ở Cúc
Phơng chiếm 17,27%.
Từ cửa vờn , ta lần lợt đến với động ngời xa , đồi Kim Giao , đợc chứng kiến
tận mắt dấu ấn của ngời cổ đại còn lu lại ở động , đợc nghe tình tiết về câu chuyện
tình huyền thoại trên đồi Kim Giao . Luồn theo những vách núi , cánh rừng , trong
âm thanh kỳ ảo của gió , lảnh lót tiếng chim rừng , qua những bụi dây leo ta đến với
cây Chò Chiến Thắng đồ sộ ngàn năm tuổi , cao tới 70m , ta còn gặp ở đây cây sấu
cổ , gốc sù sì với chi vi là 60m đã ngàn tuổi thọ xong sức sống của nó cha hề có tuôỉ
, cành lá vẫn sum suê vơn xa toả rộng che chở cho muôn loài .
Cây Chò Chỉ vẫn vơn cao sừng sững vợt lên không gian , kiêu hãnh sánh vai với
các bậc đại thụ nh cây Sấu , Chò chiến thắng . Hoa lá, cỏ cây ở rừng Cúc Phong nh
bức tranh thuỷ mạc của thiên nhiên làm du khách đắm say thởng thức . Chỉ riêng
phong lan đã có trên 50 loài , có loài trông mềm mại , e ấp , có loài trông đài các ,
kiêu sa Nhìn lên cao những chùm phong lan đủ mầu đỏ , vàng , tím nh những
chiếc đèn lồng treo trên những thân cây , điểm tô cho cảnh sắc thêm sinh động .
Đến với Cúc Phơng là đến với vờn bách thú đa dạng , quý hiếm . Động vật Cúc Ph-
ơng có tới 255 loài động vật có xơng sống . Trong đó , chim là 140 loài , thú 64 loài
, bò sát 36 loài , lỡng thể 17 loài và một số loài cá . Đó là cha kể đến côn trùng và
nhiều loại khác .
Đến Cúc Phơng du khách còn đợc đến với những địa danh mà mới đợc nghe
đã thấy gợi cảm nh hoà quyện với thiên nhiên nh : Động Trăng Khuyết , động Vui
Xuân , động Ngời xa và xin đ ợc Ngủ lại cùng cỏ cây hoa lá
6
1.2.2. Khu du lịch Tam Cốc Hoa L
Khu du lịch Tam Cốc Hoa L bao gồm : Khu du lịch hang động Tràng An
( mới đợc phát hiện và đang trong quá trình đầu t xây dựng ) , Khu du lịch Tam Cốc
Bích Động .
Khu du lịch Tam Cốc- Bích Động nằm trên địa bàn xã Ninh Hải , huyện Hoa
L , tỉnh Ninh Bình . Với vị trí địa lý thuận lợi , cách thị xã Ninh Bình 7 km , cách
quốc lộ 1A 2,5 km và cách cố đô Hoa L 10km , lại có hệ thống tài nguyên du lịch
phong phú , đa dạng với 16 hang động , 7 đền , đình , chùa ( trong đó có 3 đình ,
đền , chùa đã đợc Nhà nớc xếp hạng di tích lịch sử văn hoá quốc gia ) . Tại đây có
thể khai thác đồng thời nhiều loại hình du lịch nh :Du lịch tham quan , du lịch tìm
hiểu văn hoá lịch sử , du lịch sinh thái , leo núi , du lịch nghỉ núi cuối tuần
Khu du lịch nằm trên địa bàn khu dân c nên các hoạt động du lịch cũng đan
xen với hoạt động cộng đồng dân c . Công ty cổ phần du lịch Ninh Bình xác định ,
sự tham gia trực tiếp của ngời dân vào hoạt động du lịch đợc xem nh một tiềm năng
là tăng thêm tính hấp dẫn cho hoạt động du lịch tại Tam Cốc , bởi khách du lịch đ-
ợc tham gia trực tiếp vào các hoạt động của cộng đồng dân c , đợc tìm hiểu những
nét đặc trng của văn hoá địa phơng Nh ng đó cũng là một thách thức lớn trong quá
trình tổ chức hoạt động trên địa bàn .
Khu du lịch Tam Cốc Bích Động là khu du lịch quan trọng trong bản đồ
du lịch Ninh Bình và đã đợc quan tâm và đầu t mạnh mẽ : Vốn đầu t đợc duyệt là
199,85 tỷ đồng , ớc thực hiện đến 31/12/2005 là 103,45 tỷ đồng . Vốn đầu t kế
hoạch giao năm 2005 là 14 tỷ đồng .
Khu du lịch Tràng An mới đợc khám phá và đang đầu t khai thác du lịch
nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình . Khu du lịch Tràng An là quần thể di tích
danh thắng , có thể gọi là một Vịnh Hạ Long trên cạncủa Ninh Bình . Tràng An
một vùng non nớc ẩn chứa nhiều di tích thới Đinh , Lê một thời dựng nớc và giữ nớc
của dân tộc Việt Nam . Với hệ thống núi non , hang động kỳ ảo đan xen giữa các
dòng sông và thung lũng tạo nên một kỳ quan thiên nhiên tráng lệ cho Ninh Bình
Theo quy hoạch tổng thể bảo tồn , tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch
sử , văn hoá Cố đô Hoa L đã đợc Thủ tớng Chính phủ phê duyệt tại quyết định
số82/2003/QĐ-TTg ngày 29/4/2003 thì khu hang động Tràng An là một dự án
thành phần nằm trong dự án quy hoạch bảo tồn.
Dự án đầu t xây dựng khu du lịch Tràng An : Vốn đầu t đợc duyệt là 579.457
tỷ đồng , ớc thực hiện đến 31/12/2005 là 183 tỷ đồng , kế hoạch đơc giao năm
2005 là 170 tỷ đồng , thực hiện trong năm 2005 là 170 tỷ đồng .Doanh nghiệp xây
dựng Xuân Trờng đầu t và xây dựng với tổng mức đầu t là 630,937 tỷ đồng , hiện
dự án đang đợc thi công các hạng mục .
7
Chắc chắn rằng trong thời gian tới , khu du lịch Tràng An hoàn thành và đi
vào hoạt động thu hút đợc đông đảo du khách đến tham quan sẽ tạo cho Du lịch
Ninh Bình một bớc tăng trởng mới , góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
tỉnh và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.
1.2.3. Khu du lịch Kênh Gà - Vân Trình
Khu du lịch Kênh Gà - Vân Trình thuộc huyện Gia Viễn , bao gồm các khu
du lịch và danh lam thắng cảnh sau :
- Suối nớc nóng Kênh Gà
- Động Vân Trình
- Khu du lịch sinh thái Vân Long
- Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng
- Đền Nguyễn Minh Không
- Chùa Địch Lộng
Trong đó đặc biệt là Suối nớc nóng Kênh Gà luôn sôi ở nhiệt độ là 53 C , các
nhà khoa học đã qua khảo sát cho biết dòng khoáng này là một tài nguyên có nhiều
canxi và muối đicacbonat có thể đóng chai nớc khoáng và ngâm tắm để chữa bệnh
hiệu quả . Vân Trình là một trong những hang động đẹp và lớn nhất ở nơi đây , trảI
qua bao thăng trầm và ma nắng , thiên nhiên đã tạo nên những bức tranh cổ tích
trong lòng hang và con ngời cảm nhận vẻ đẹp ấy bằng những liên tởng xúc động
lãng mạn của riêng mình mà đặt tên cho những bức tranh đợc khắc tạo bởi bàn tay
vô giá của thiên nhiên đó là hình ảnh tợng phật , tiên nữ , mâm xôi, hoa quả , con
vật muôn hình vạn dạng sinh động.
Vân Long là khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nớc lớn nhất đồng bằng Bắc
Bộ , Vân Long có nhiều cảnh đẹp và độ đa dạng sinh học cao nên đã trở thành khu
du lịch sinh thái của tỉnh Ninh Bình . Với diện tích trải dài trên 7 xã của huyện Gia
Viễn , với 1643 ha đất ngập nớc có núi đá vôi tạo thành một vùng non nớc hữu
tình , có nhiều hanh động đẹp và có giá trị du lịch nh : Hang vồng , Hang bóng các
hang có nớc ngầm chảy qua tạo thành hệ thống xuyên thuỷ động xen lẫn những
thung lũng . Chính vì thế nên vùng này đựoc ví nh Vịnh Hạ Long không sóng .
Khu du lịch sinh thái Vân Long là một quần thể núi đá hang động với núi Quản
Bút , núi Nghiên , núi Hóm Sách và đặc biệt là có hai dãy núi chạy song song là
Hoàng Quyển và Mèo Cào làm nên bức tờng thành thiên nhiên tuyệt đẹp . Theo
thống kê ở đây có gần 32 hang động lớn nhỏ với nhiều nhũ đá lấp lánh mang nhiều
hình thù kỳ thú . Tại đây có năm có 5 hồ và đầm lu giữ gần nh nguyên vẹn những
loài thuỷ sinh nh rong đuôi Chó , lá Bàn Trang , Năn Lác , Cà Cuống , Ba Ba Trên
núi là nơi sinh sống của loài Voọc quần đùi trắng , khỉ vàng , đại bàng, xâm cầm
đen , cò , sít , le le , các loài chim và nhiều loại gỗ quý nh Lim, Trác , Sến
8
Chùa Địch Lộng bao gồm hang và chùa Địch Lộng , đợc biết tới bởi thắng
cảnh đẹp thứ 3 trời Nam Nam thiên đệ tam động . Du khách từ Hà Nội về thăm
Ninh Bình qua Cầu Khúât rẽ phải là đến Địch Lộng tuyệt đẹp với 2 hang Sáng và
hang Tối . Hang Sáng thờ Phật , trên vòm hang nhiều nhũ đá lấp lánh nh voi chầu ,
hổ phục , s tử nằm Hang Tối trông nh một cung điện có ngai vàng của Vua , rồng
vàng , cây vàng , cây bạc giữa hang nhũ đá thắt lại tạo thành cửa gió vi vu nh
tiếng sáo thổi , chính vì vậy nơi đây đợc đặt tên là Địch Lộng ( Sáo trời)
1.2.4. Khu du lịch thị xã Ninh Bình
Khu du lịch thị xã Ninh Bình thuộc thị xã Ninh Bình bao gồm các địa điểm
sau:
- Núi Kỳ Lân
- Núi Ngọc mỹ nhân
- Đền thờ Trơng Hán Siêu
- Núi Non Nớc
- Bảo tàng Ninh Bình
Khu du lịch thị xã Ninh Bình đã đi vào hoạt động và khai thác du lịch phục
vụ du khách trong và ngoài nớc và góp phần vào sự phát triển của du lịch Ninh Bình
. Đặc biệt là Núi Non Nớc đã đi vào sử sách , thơ ca của nhiều nhà văn và nhà thơ
khi đứng trớc cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình trong đó phải kể đến là : Nguyễn
Trãi , Bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hơng và nhiều nhà văn , thơ khác.
1.2.5. Khu du lịch Phát Diệm
Khu du lịch Phát Diệm thuộc huyện Kim Sơn , tỉnh Ninh Bình bao gồm các
địa điểm sau :
- Nhà thờ đá Phát Diệm
- Chùa Đồng Đắc
- Đền thờ Nguyễn Công Trứ
Trong đó đặc biệt là nhà thờ đá Phát Diệm đợc xây dựng chủ yếu bằng đá ,
với kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc đặc biệt tạo nên một nét riêng biệt của Phát
Diệm với các nhà thờ khác ở miền Bắc và Việt Nam . Phát Diệm là điểm đến lý thú
và hấp dẫn cho du khách muốn khám phá nét cổ kính của nghệ thuật chạm khắc và
kiến trúc cổ , hàng năm thu hút rất nhiều khách đến tham quan .
1.2.6. Khu du lịch thị xã Tam Điệp
Khu du lịch Tam Điệp bao gồm các địa điểm và khu du lịch mới đợc phát
hiện vá đang trong quá trình đầu t xây dựng để phục vụ cho du lịch bao gồm :
9
- Khu du lịch hồ Yên Thắng
- Khu du lịch hồ Đồng Thái
- Khu du lịch sinh thái hồ Đồng Chơng
Phát triển du lịch sinh thái , và có thể phát triển dịch vụ câu cá giải trí cuối
tuần . Ngoài ra với địa hình gồm chủ yếu là đồi núi trong tơng lai có thể phát triển
đợc hình thức du lịch tham quan trang trại kết hợp phát triển kinh tế trang trại và
khai thác du lịch .
1.3. Tình hình hoạt động du lịch năm 2005
Năm 2005 là năm đất nớc có nhiều sự kiện mới , năm kết thúc kế hoạch 5
năm . Theo kế hoạch đề ra , năm 2005 du lịch Ninh Bình phấn đấu đón đợc
1.000.000 lợt ngời . Doanh thu là 61 tỷ , nộp ngân sách 6,1 tỷ đồng . Với nỗ lực
phấn đấu đạt vợt mức kế hoạch đề ra . Năm 2005 toàn ngành du lịch Ninh Bình đã
đạt đợc các kết quả sau :
1.3.1. Kết quả kinh doanh
- Lợt khách : Toàn ngành phục vụ 1.021.236 lợt khách , đạt 102,12% , tăng
19.6% so với năm 2004 , trong đó khách quốc tế 329,847 lợt , đạt 106,4%, tăng
16% so với năm 2004.
- Doanh thu toàn ngành đạt 63,117 tỷ đồng , bằng 104% kế hoạch năm , tăng
24,5% so với năm 2004 .
- Nộp ngân sách đạt 7.463,98 triệu đồng , đạt 105% kế hoạch năm , tăng
10,4% so với năm 2004.
1.3.2. Công tác quản lý nhà nớc về du lịch trên địa bàn tỉnh
- Tham mu cho UBND tỉnh bổ sung quy hoạch chi tiết khu du lịch Tam Cốc
Bích Động, khu du lịch sinh thái hồ Đồng Thái - Động Mã Tiên.
- Tổ chức triển khai có hiệu quả Thông báo số 21/TB-UB ngày 13/5/2005
thông báo của UBND tỉnh về kết luận của Chủ tịch tỉnh tại Hội nghị kiểm điểm bàn
biện pháp tháo gỡ khó khăn đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án phát triển du lịch
trên địa bàn tỉnh.
- Phối hợp với viện nghiên cứu và phát triển du lịch hoàn thành công tác điều
tra 70 cơ sở lu trú du lịch giai đoạn II năm 2005 . Nghiên cứu xây dựng kế hoạch
phát triển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình đến năm 2015 theo hớng của Tổng
cục du lịch.
- Tổ chức thẩm định và xếp hạng 2 khách sạn 2 sao và 2 khách sạn đạt tiêu
chuẩn tối thiểu . T vấn cho các doanh nghiệp , tổ chức, cá nhân đầu t phát triển du
lịch tại Ninh Bình.
10
- Tham mu cho ban chỉ đạo Nhà nớc về du lịch tỉnh báo cáo tổng kết chơng
trình hành động quốc gia về du lịch Ninh Bình năm 2000-2006.
- Xây dựng dự thảo nhiệm vụ cho UBND xã , phờng , thị trấn về công tác
quản lý Nhà nớc về du lịch trình UBND tỉnh quyết định .
- Tham mu cho UBND tỉnh xây dựng đề án thành lập Ban quản lý khu du
lịch Kênh Gà- Vân Trình , Vân Long , Địch Lộng, Động Hoa L . Phối hợp với Sở
Tài chính và các ngành liên quan xây dựng phí tham quan , phí chở đò ở các khu
du lịch trên địa bàn tỉnh trình HDND, UBND tỉnh phê duyệt . Phối hợp với Khoa
Khách Sạn và Du Lịch trờng Đại học Kinh Tế Quốc Dân , Viện Asia của Nhật Bản ,
Vụ Lữ hành Tổng cục du lịch nghiên cứu chơng trình phát triển du lịch láng nghề
dọc hành lang Đông Tây tại làng nghề thêu ren Ninh Hải.
- Tổ chức nghiên cứu đề tài Cơ sở khoa học và giải pháp khai thác hanh
động karst phục vụ phát triển du lịch Ninh Bình .
1.3.3. Hoạt động xúc tiến đầu t phát triển du lịch
- Tuyên truyền quảng bá , chào bán sản phẩm du lịch Ninh Bình tại lễ hội Tr-
ờng Yên và tham gia các hội chợ du lịch quốc tế tại Hà Nội và Quảng Nam .
- Phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam xây dựng hoàn chỉnh một số bộ
phim tuyên truyền cho du lịch Ninh Bình.
- Cùng với Đài truyền hình Ninh Bình mở các chuyên mục du lịch Ninh Bình
, phát sóng hàng tháng trên Đài truyền hình Ninh Bình.
- Thay một số biển quảng cáo tấm lớn tại cầu Lim ( TXNB) và xã Gia Xuân (
Gia viễn) .
- Phối hợp cùng với Nhà xuất bản Thế giới thiết kế , xây dựng nội dung sa
bàn điện tử về du lịch Ninh Bình , áp dụng công nghệ vi tính 3D.
- Phối hợp cùng với trờng Cao đẳng du lịch Hà Nội mời giảng viên về giảng
các lớp bồi dỡng giáo dục du lịch cộng đồng tại các xã nh : Gia Vân , Đông Sơn ,
Gia Sinh, số ngời tham gia 3 đợt là 1500 ngời .
1.3.4. Các dự án đầu t xây dựng CSHT và đầu t cơ sở kinh doanh vào các khu du lịch
.
Ninh Bình là một tỉnh giàu tiềm năng du lịch , nhằm khai thác tốt tiềm năng
thế mạnh về du lịch , UBND tỉnh Ninh Bình đã chỉ đạo công tác phát triển du lịch
tại địa phơng . Tỉnh chỉ đạo các huyện , thị xã xây dựng quy hoạch , dành quỹ đát
thích hợp xây dựng các khu du lịch kêu gọi đầu t , xây dựng cơ sỏ hạ tầng . Năm
2002, UBND tỉnh đã ban hành quyết định 568/QĐ-UB về quy định đãi khuyến
khích đầu t vào các khu công nghiệp , khu du lịch trên địa bàn tỉnh . Theo tinh thần
của cơ chế khuyến khích đầu t phát triển du lịch của tỉnh thì ngoài những u đãi
11
chung đang áp dụng tại Luật khuyến khích đầu t trong nớc , khi đầu t vào du lịch
Ninh Bình nhà đầu t sẽ đợc hởng những u đãi riêng của tỉnh , nhữngu đãi đầu t phát
triển du lịch gồm : Ưu đãi về thuê đất, u đãi về vốn đầu t , u đãi về lãi suất vay vốn,
u đãi về đầu t xây dựng các công trình hạ tầng khu du lịch , hỗ trợ kinh phí đào tạo
nghề cho lao động địa phơng
Từ khi ban hành các chính sách khuyến khích đầu t , tỉnh Ninh Bình đã thu hút
đợc rất nhiều đầu t xây dựng CSHT các khu du lịch và các khu công nghiệp ;Tình từ
năm 2001 đến nay đã thu hút đợc gần 40 dự án du lịch đầu t vào Ninh Bình
Trong năm 2005 có 5 dự án đợc cấp giấy phép đầu t vào hoạt động du lịch ,
với tổng mức đầu t là 1.020,387 tỷ đồng :
- Dự án đầu t xây dựng khu du lịch Tràng An của doanh nghiệp xây
dựng Xuân Trờng với tổng mức vốn là 630,937 tỷ đồng , hiện
doanh nghiệp đang đầu t các hạng mục chính .
- Dự án đầu t xây dựng khu du lịch sinh thái Vân Long của Công ty
TNHH Thơng mại và Vận tải Hoàng Gia Hà Nội với tổng mức
đầu t là 18,4 tỷ đồng , hiện đang tổ chức san lấp mặt bằng .
- Dự án đầu t khu văn phòng siêu thị , khách sạn cao tầng , địa điểm
phờng Tân Thành , TXNB của công ty TNHH Đầu t và phát triển
Thơng mại sản xuất Hoàng Phát , tổng mức đầu t là 199 tỷ đồng
-Dự án mở rộng cơ sở dịch vụ khu du lịch sinh thái Vân Long của
công ty TNHH Thảo Sơn với tổng mức đầu t là 22,25 tỷ đồng .
- Dự án khu giao lu nghỉ dỡng Vân Long của công ty Cổ phần bất
động sản Hợp Phát Hà Nội với tổng vốn đầu t là 149,8 tỷ đồng ,
hiện đang tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng .
Ngoài ra có các dự án đang làm thủ tục cấp giấy phép đầu t nh :
- Dự án xây dựng sân golf Gia Sinh của sông ty Hwasung Spa Co.ltd
Hàn quốc , tổng vốn đầu t là 9,5 triệu USD (100% vốn nớc ngoài).
- Dự án của tập đoàn đầu t Việt Nam Hotel Project BT ( Hà Lan) với
tổng vốn đầu t là 5 triệu USD đầu t tại xã Ninh Hải , huyện Hoa L ,
tỉnh Ninh Bình ( 100% vốn nứơc ngoài).
2. Khu du lịch Vân Long
2.1. Đặc điểm khu du lịch Vân Long
Non nớc Vân Long là khu vực có diện tích 2643 ha trên địa bàn 7 xã thuộc
huyện Gia Viễn : Gia Hng , Liên Sơn, Gia Hoà , Gia Vân , Gia Lập , Gia Tân , Gia
Thanh , ở phái Bắc tỉnh Ninh Bình , cách TXNB 17 km về phía đông nam .
12
Vân Long chịu ảnh hởng của 3 con sông lớn của Ninh Bình : Sông Đáy ,
Sông Hoàng Long, Sông Bôi . Đất ngập nớc với mức nớc sâu khoảng vài mét , đan
xen là các dãy núi đá vôi nổi lên cao sàn sàn dới 300m , cao nhất là đỉnh Ba Chon
cao 428m . Xen kẽ là một số đồi , núi đá thấp với độ cao không vựơt quá 50m . Núi
đá vôi và đồi núi thấp chiếm khoảng 3/4 diện tích . Đây là khu vực có mức độ đa
dạng sinh học cao , có hệ sinh thái đất ngập nớc nội địa với diện tích lớn nhất đồng
bằng Bắc Bộ , có hệ sinh thái núi đá vôi là nơi sinh sống của quần thể Voọc quần
đùi trắng lớn nhất Việt Nam .
Rừng Vân Long có 457 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 327 chi , 127
họ . Đặc biệt có 8 loài đợc ghi trong sách đỏ Việt Nam là : Kiêng , Lát hoa , tuế lá
rộng cốt toái bồi , sắng , bách bộ , mã tiên hoa tán , bò cạp núi .
Về động vật , có 39 loài , 19 họ , 7 bộ thú , có 12 loài động vật quý hiếm nh :
Gấu ngựa , Sơn dơng , Cu li lớn , khỉ mặt đỏ , cầy vằn , báo gấm , báo hoa mai
Đặc biệt là Voọc quần đùi trắng loài động vật đặc hữu chiếm số lợng lớn nhất của
Việt nam . Trong các loài bò sát có 9 loài đợc ghi trong sách đỏ của Việt Nam nh :
Rắn Hổ chúa , kỳ đá hoa , trăn đất , rắn ráo trâu , rắn ráo thờng , rắn sọc đấu đỏ ,
rắn cạp nong , rắn hổ mang , tắc kè . Chim có 62 loài , 32 họ và 12 bộ .
Điều đáng chú ý là tại khu ngập nớc Vân Long có loái cà cuống thuộc họ
chân bơi , một loái côn trùng quý hiếm .
Du khách đến với Vân Long là đến với một thắng cảnh danh lam kỳ thú .
Một vùng sinh cảnh độc đáo . Du thuyền trôi trên những thảm thuỷ sinh , tới thăm
bức tranh đá thiên nhiên đấy ấn tợng Mèo Cào với những cây cảnh ký trên vách
núi vài trăm năm tuổi .
Với hệ động thực vật phong phú , nhiều di tích lịch sử đặc biệt là đền thờ Tứ
Vị Hồng Nơng bốn tớng của Trng Trắc , Trng Nhị , dịch vụ chu đáo , lợng
khách trong nớc và quốc tế đến ngày càng tăng làm hấp dẫn một vùng sơn kỳ thuỷ
tú này .
Đến với Vân Long khách có thể đi đến các khu du lịch khác của tỉnh Ninh
Bình một cách dễ dàng và thuận tiện .
Tour du lịch văn hoá :
- Đi động Hoa L _ nơi có cờ lau tập trận của Đinh Tiên Hoàng cách 5
km ( Gia Hng ) .
- Đi cố đô Hoa L 20km .
- Đi Địch Lộng Gia Thanh 3km ( là di tích lịch sử đợc Nhà nớc xếp
hạng và Vua Cảnh Hng xếp là hang đẹp thứ 3 trời nam ).
- Cách đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng khoảng 3km ( Gia Phơng).
13
Tour du lịch sinh thái từ Vân Long :
- Từ Vân Long đi rừng quốc gia Cúc Phơng 23km .
- Từ Vân Long đi suối nớc nóng Kênh Gà 6km .
- Từ Vân Long đi Tràng An Tam Cốc Bích Động là 15 km .
- Từ Vân Long đi Địch Lộng 3 km
2.2. Sản phẩm du lịch tại Vân Long
Khu du lịch Vân Long mới đợc phát hiện và đi vào khai thác du lịch nên sản
phẩm du lịch còn rất nghèo nàn và hạn chế bao gồm các sản phẩm du lịch sau đây :
- Khi du khách đến với Vân Long, sản phẩm du lịch đầu tiên mà du
khách ai cũng cảm thấy hấp dẫn và thích thú đó là dich vụ chở du
khách bằng các phơng tiện mang tính chất địa phơng nh : Xe Trâu ,
Xe Bò cổ kính . Đa du khách tìm lại đợc cảm giác thời thơ ấu của
mình hoặc cảm giác mới lạ .
- Du khách đến chân khu du lịch thì có dịch vụ chở đò , đa du khách
đi tham quan toàn cảnh khu du lịch Vân Long trên những chiếc đò
tre do ngời dân địa phơng điều khiển ,khám phá những nét đẹp và
hấp dẫn của Vân Long .
- Du khách có thể đi thăm quan nhà cổ trong các khu dân c bằng
các phơng tiện mang tính chất đặc thù của nông thôn Việt Nam
thời xa , tại đây du khách có thể khám phá , tìm hiểu về nghệ thuật
và kiến trúc xây dựng của cha ông ta ngày xa xa .
- Du khách có thể thởng thức những món ăn đặc sản của địa phơng và
Việt Nam trên các khu nhà sàn mang đậm phong cách văn hoá m-
ờng ( Hoà Bình ) hoặc các món ăn và phong cách ẩm thực mang
đậm nét đẹp cung đình Huế.
- Đến Vân Long du khách có thể mua các hàng hoá lu niệm rất phong
phú mang đậm nét dân tộc Việt Nam và địa phơng với sự phục vụ
nhiệt tình của nhân viên bán hàng .
- Ngoài ra Vân Long có thể là nơi để nghiên cú khoa học về đa dạng
sinh học và bảo tồn các loại động thực vật quý hiếm , là điểm đến lý
thú cho những ai thích tìm hiểu về đa dạng sinh học , các viện, tr-
ờng đại học , cao đẳng hoặc sinh viên thực tập .
Trong tơng lai Vân Long sẽ ngày càng có nhiều sản phẩm du lịch hơn phục
vụ khách du lịch trong và ngoài nớc .
14
1. Tiềm năng du lịch của Ninh Bình
1.1. Giới thiệu về du lịch Ninh Bình
Ninh Bình là một tỉnh giàu tiềm năng về du lịch , với vị trí cách thủ đô Hà nội
90km, nằm trên trục giao thông chính Bắc Nam . Diện tích tự nhiên của tỉnh là
1.420,77 km2, dân số là 902 nghìn ngời . Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này
tài nguyên du lịch phong phú , đa dạng , độc đáo với nhiều danh lam thắng cảnh kỳ
thú , nhiều hang động và khu du lịch nổi tiếng nh: Vờn quốc gia Cúc Phơng, cố đô
Hoa L , Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nớc Vân Long , suối nớc khoáng Kênh
Gà , động Vân Trình , nhà thờ đá Phát Diệm , khu du lịch hang động Tràng An ,
khu du lịch Tam Cốc Bích Động Tất cả những di tích và danh lam thắng cảnh này
đã trở thành những điểm đến du lịch trong những tour du lịch mà du khách trong và
ngoài nớc rất u chuộng .
Ninh Bình cũng là một địa danh có nhiều di tích lịch sử văn hoá . Trên toàn
tỉnh đã thống kê đợc 975 di tích , trong đó có 80 di tích đợc xếp hạng và cấp bằng
di tích quốc gia .
Ninh Bình cũng có nhiều lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá làng
quê Việt Nam đợc kế thừa và phát triển từ phong tục tập quán của nền văn minh
lúa nớc , văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn đã trải qua hàng ngàn năm về trớc
Với tài nguyên phong phú nh vậy , ở Ninh Bình có thể tổ chức và phát triển du
lịch với nhiều sản phẩm du lịch thuộc các loại hình sau:
- Du lịch văn hoá lịch sử
- Du lịch lễ hội tâm linh
- Du lịch thể thao leo núi , làng nghề
- Du lịch tắm ngâm , chữa bệnh
- Du lịch cuối tuần giải trí câu cá
- Du khảo làng quê
- Du lịch sinh thái
Loại hình du lịch nào cũng hấp dẫn và có thể thu hút khách đến thăm quan dài
ngày .Du lịch một vùng non nớc Ninh Bình là đến nơi một không gian sinh vật
cảnh thiên nhiên kỳ thú . Đặc biệt là vờn quốc gia Cúc Phơng và khu bảo tồn thiên
nhiên đất ngập nớc Vân Long. . .
5
1.2. Các khu du lịch trọng điểm của Ninh Bình
Với rất nhiều khu du lịch và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh nhng đã chia
ra làm 6 khu du lịch trọng điểm sau đây:
1.2.1. Khu du lịch vờn quốc gia Cúc Phơng
Khu rừng nguyên sinh có diện tích tự nhiên rộng lớn 22 ngàn ha trên địa bàn 3
tỉnh là Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá . Theo những kết luận đã đợc các nhà khoa
học dày công nghiên cứu qua nhiều năm : Rừng Cúc phơng còn giữ đợc nguyên vẹn
một khu rừng nhiệt đới , với sự hiện diện phong phú của các loài động thực vật tiêu
biểu .
Đến Cúc Phơng là đến với vờn bách thảo khổng lồ , tổng số thống kê đợc ở trong
bảng danh mục thực vật cho đến thời điểm này là 1944 loài thuộc 912 chi , 219 họ ,
86 bộ của 7 ngành gồm ngành rêu, ngành quyết , ngành thông đất , ngành cỏ tháp
bút , dơng xỉ , hạt trần, hạt kín So với số loài ở Việt nam số loài thực vật ở Cúc
Phơng chiếm 17,27%.
Từ cửa vờn , ta lần lợt đến với động ngời xa , đồi Kim Giao , đợc chứng kiến
tận mắt dấu ấn của ngời cổ đại còn lu lại ở động , đợc nghe tình tiết về câu chuyện
tình huyền thoại trên đồi Kim Giao . Luồn theo những vách núi , cánh rừng , trong
âm thanh kỳ ảo của gió , lảnh lót tiếng chim rừng , qua những bụi dây leo ta đến với
cây Chò Chiến Thắng đồ sộ ngàn năm tuổi , cao tới 70m , ta còn gặp ở đây cây sấu
cổ , gốc sù sì với chi vi là 60m đã ngàn tuổi thọ xong sức sống của nó cha hề có tuôỉ
, cành lá vẫn sum suê vơn xa toả rộng che chở cho muôn loài .
Cây Chò Chỉ vẫn vơn cao sừng sững vợt lên không gian , kiêu hãnh sánh vai với
các bậc đại thụ nh cây Sấu , Chò chiến thắng . Hoa lá, cỏ cây ở rừng Cúc Phong nh
bức tranh thuỷ mạc của thiên nhiên làm du khách đắm say thởng thức . Chỉ riêng
phong lan đã có trên 50 loài , có loài trông mềm mại , e ấp , có loài trông đài các ,
kiêu sa Nhìn lên cao những chùm phong lan đủ mầu đỏ , vàng , tím nh những
chiếc đèn lồng treo trên những thân cây , điểm tô cho cảnh sắc thêm sinh động .
Đến với Cúc Phơng là đến với vờn bách thú đa dạng , quý hiếm . Động vật Cúc Ph-
ơng có tới 255 loài động vật có xơng sống . Trong đó , chim là 140 loài , thú 64 loài
, bò sát 36 loài , lỡng thể 17 loài và một số loài cá . Đó là cha kể đến côn trùng và
nhiều loại khác .
Đến Cúc Phơng du khách còn đợc đến với những địa danh mà mới đợc nghe
đã thấy gợi cảm nh hoà quyện với thiên nhiên nh : Động Trăng Khuyết , động Vui
Xuân , động Ngời xa và xin đ ợc Ngủ lại cùng cỏ cây hoa lá
6
1.2.2. Khu du lịch Tam Cốc Hoa L
Khu du lịch Tam Cốc Hoa L bao gồm : Khu du lịch hang động Tràng An
( mới đợc phát hiện và đang trong quá trình đầu t xây dựng ) , Khu du lịch Tam Cốc
Bích Động .
Khu du lịch Tam Cốc- Bích Động nằm trên địa bàn xã Ninh Hải , huyện Hoa
L , tỉnh Ninh Bình . Với vị trí địa lý thuận lợi , cách thị xã Ninh Bình 7 km , cách
quốc lộ 1A 2,5 km và cách cố đô Hoa L 10km , lại có hệ thống tài nguyên du lịch
phong phú , đa dạng với 16 hang động , 7 đền , đình , chùa ( trong đó có 3 đình ,
đền , chùa đã đợc Nhà nớc xếp hạng di tích lịch sử văn hoá quốc gia ) . Tại đây có
thể khai thác đồng thời nhiều loại hình du lịch nh :Du lịch tham quan , du lịch tìm
hiểu văn hoá lịch sử , du lịch sinh thái , leo núi , du lịch nghỉ núi cuối tuần
Khu du lịch nằm trên địa bàn khu dân c nên các hoạt động du lịch cũng đan
xen với hoạt động cộng đồng dân c . Công ty cổ phần du lịch Ninh Bình xác định ,
sự tham gia trực tiếp của ngời dân vào hoạt động du lịch đợc xem nh một tiềm năng
là tăng thêm tính hấp dẫn cho hoạt động du lịch tại Tam Cốc , bởi khách du lịch đ-
ợc tham gia trực tiếp vào các hoạt động của cộng đồng dân c , đợc tìm hiểu những
nét đặc trng của văn hoá địa phơng Nh ng đó cũng là một thách thức lớn trong quá
trình tổ chức hoạt động trên địa bàn .
Khu du lịch Tam Cốc Bích Động là khu du lịch quan trọng trong bản đồ
du lịch Ninh Bình và đã đợc quan tâm và đầu t mạnh mẽ : Vốn đầu t đợc duyệt là
199,85 tỷ đồng , ớc thực hiện đến 31/12/2005 là 103,45 tỷ đồng . Vốn đầu t kế
hoạch giao năm 2005 là 14 tỷ đồng .
Khu du lịch Tràng An mới đợc khám phá và đang đầu t khai thác du lịch
nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình . Khu du lịch Tràng An là quần thể di tích
danh thắng , có thể gọi là một Vịnh Hạ Long trên cạncủa Ninh Bình . Tràng An
một vùng non nớc ẩn chứa nhiều di tích thới Đinh , Lê một thời dựng nớc và giữ nớc
của dân tộc Việt Nam . Với hệ thống núi non , hang động kỳ ảo đan xen giữa các
dòng sông và thung lũng tạo nên một kỳ quan thiên nhiên tráng lệ cho Ninh Bình
Theo quy hoạch tổng thể bảo tồn , tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch
sử , văn hoá Cố đô Hoa L đã đợc Thủ tớng Chính phủ phê duyệt tại quyết định
số82/2003/QĐ-TTg ngày 29/4/2003 thì khu hang động Tràng An là một dự án
thành phần nằm trong dự án quy hoạch bảo tồn.
Dự án đầu t xây dựng khu du lịch Tràng An : Vốn đầu t đợc duyệt là 579.457
tỷ đồng , ớc thực hiện đến 31/12/2005 là 183 tỷ đồng , kế hoạch đơc giao năm
2005 là 170 tỷ đồng , thực hiện trong năm 2005 là 170 tỷ đồng .Doanh nghiệp xây
dựng Xuân Trờng đầu t và xây dựng với tổng mức đầu t là 630,937 tỷ đồng , hiện
dự án đang đợc thi công các hạng mục .
7
Chắc chắn rằng trong thời gian tới , khu du lịch Tràng An hoàn thành và đi
vào hoạt động thu hút đợc đông đảo du khách đến tham quan sẽ tạo cho Du lịch
Ninh Bình một bớc tăng trởng mới , góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
tỉnh và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.
1.2.3. Khu du lịch Kênh Gà - Vân Trình
Khu du lịch Kênh Gà - Vân Trình thuộc huyện Gia Viễn , bao gồm các khu
du lịch và danh lam thắng cảnh sau :
- Suối nớc nóng Kênh Gà
- Động Vân Trình
- Khu du lịch sinh thái Vân Long
- Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng
- Đền Nguyễn Minh Không
- Chùa Địch Lộng
Trong đó đặc biệt là Suối nớc nóng Kênh Gà luôn sôi ở nhiệt độ là 53 C , các
nhà khoa học đã qua khảo sát cho biết dòng khoáng này là một tài nguyên có nhiều
canxi và muối đicacbonat có thể đóng chai nớc khoáng và ngâm tắm để chữa bệnh
hiệu quả . Vân Trình là một trong những hang động đẹp và lớn nhất ở nơi đây , trảI
qua bao thăng trầm và ma nắng , thiên nhiên đã tạo nên những bức tranh cổ tích
trong lòng hang và con ngời cảm nhận vẻ đẹp ấy bằng những liên tởng xúc động
lãng mạn của riêng mình mà đặt tên cho những bức tranh đợc khắc tạo bởi bàn tay
vô giá của thiên nhiên đó là hình ảnh tợng phật , tiên nữ , mâm xôi, hoa quả , con
vật muôn hình vạn dạng sinh động.
Vân Long là khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nớc lớn nhất đồng bằng Bắc
Bộ , Vân Long có nhiều cảnh đẹp và độ đa dạng sinh học cao nên đã trở thành khu
du lịch sinh thái của tỉnh Ninh Bình . Với diện tích trải dài trên 7 xã của huyện Gia
Viễn , với 1643 ha đất ngập nớc có núi đá vôi tạo thành một vùng non nớc hữu
tình , có nhiều hanh động đẹp và có giá trị du lịch nh : Hang vồng , Hang bóng các
hang có nớc ngầm chảy qua tạo thành hệ thống xuyên thuỷ động xen lẫn những
thung lũng . Chính vì thế nên vùng này đựoc ví nh Vịnh Hạ Long không sóng .
Khu du lịch sinh thái Vân Long là một quần thể núi đá hang động với núi Quản
Bút , núi Nghiên , núi Hóm Sách và đặc biệt là có hai dãy núi chạy song song là
Hoàng Quyển và Mèo Cào làm nên bức tờng thành thiên nhiên tuyệt đẹp . Theo
thống kê ở đây có gần 32 hang động lớn nhỏ với nhiều nhũ đá lấp lánh mang nhiều
hình thù kỳ thú . Tại đây có năm có 5 hồ và đầm lu giữ gần nh nguyên vẹn những
loài thuỷ sinh nh rong đuôi Chó , lá Bàn Trang , Năn Lác , Cà Cuống , Ba Ba Trên
núi là nơi sinh sống của loài Voọc quần đùi trắng , khỉ vàng , đại bàng, xâm cầm
đen , cò , sít , le le , các loài chim và nhiều loại gỗ quý nh Lim, Trác , Sến
8
Chùa Địch Lộng bao gồm hang và chùa Địch Lộng , đợc biết tới bởi thắng
cảnh đẹp thứ 3 trời Nam Nam thiên đệ tam động . Du khách từ Hà Nội về thăm
Ninh Bình qua Cầu Khúât rẽ phải là đến Địch Lộng tuyệt đẹp với 2 hang Sáng và
hang Tối . Hang Sáng thờ Phật , trên vòm hang nhiều nhũ đá lấp lánh nh voi chầu ,
hổ phục , s tử nằm Hang Tối trông nh một cung điện có ngai vàng của Vua , rồng
vàng , cây vàng , cây bạc giữa hang nhũ đá thắt lại tạo thành cửa gió vi vu nh
tiếng sáo thổi , chính vì vậy nơi đây đợc đặt tên là Địch Lộng ( Sáo trời)
1.2.4. Khu du lịch thị xã Ninh Bình
Khu du lịch thị xã Ninh Bình thuộc thị xã Ninh Bình bao gồm các địa điểm
sau:
- Núi Kỳ Lân
- Núi Ngọc mỹ nhân
- Đền thờ Trơng Hán Siêu
- Núi Non Nớc
- Bảo tàng Ninh Bình
Khu du lịch thị xã Ninh Bình đã đi vào hoạt động và khai thác du lịch phục
vụ du khách trong và ngoài nớc và góp phần vào sự phát triển của du lịch Ninh Bình
. Đặc biệt là Núi Non Nớc đã đi vào sử sách , thơ ca của nhiều nhà văn và nhà thơ
khi đứng trớc cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình trong đó phải kể đến là : Nguyễn
Trãi , Bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hơng và nhiều nhà văn , thơ khác.
1.2.5. Khu du lịch Phát Diệm
Khu du lịch Phát Diệm thuộc huyện Kim Sơn , tỉnh Ninh Bình bao gồm các
địa điểm sau :
- Nhà thờ đá Phát Diệm
- Chùa Đồng Đắc
- Đền thờ Nguyễn Công Trứ
Trong đó đặc biệt là nhà thờ đá Phát Diệm đợc xây dựng chủ yếu bằng đá ,
với kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc đặc biệt tạo nên một nét riêng biệt của Phát
Diệm với các nhà thờ khác ở miền Bắc và Việt Nam . Phát Diệm là điểm đến lý thú
và hấp dẫn cho du khách muốn khám phá nét cổ kính của nghệ thuật chạm khắc và
kiến trúc cổ , hàng năm thu hút rất nhiều khách đến tham quan .
1.2.6. Khu du lịch thị xã Tam Điệp
Khu du lịch Tam Điệp bao gồm các địa điểm và khu du lịch mới đợc phát
hiện vá đang trong quá trình đầu t xây dựng để phục vụ cho du lịch bao gồm :
9
- Khu du lịch hồ Yên Thắng
- Khu du lịch hồ Đồng Thái
- Khu du lịch sinh thái hồ Đồng Chơng
Phát triển du lịch sinh thái , và có thể phát triển dịch vụ câu cá giải trí cuối
tuần . Ngoài ra với địa hình gồm chủ yếu là đồi núi trong tơng lai có thể phát triển
đợc hình thức du lịch tham quan trang trại kết hợp phát triển kinh tế trang trại và
khai thác du lịch .
1.3. Tình hình hoạt động du lịch năm 2005
Năm 2005 là năm đất nớc có nhiều sự kiện mới , năm kết thúc kế hoạch 5
năm . Theo kế hoạch đề ra , năm 2005 du lịch Ninh Bình phấn đấu đón đợc
1.000.000 lợt ngời . Doanh thu là 61 tỷ , nộp ngân sách 6,1 tỷ đồng . Với nỗ lực
phấn đấu đạt vợt mức kế hoạch đề ra . Năm 2005 toàn ngành du lịch Ninh Bình đã
đạt đợc các kết quả sau :
1.3.1. Kết quả kinh doanh
- Lợt khách : Toàn ngành phục vụ 1.021.236 lợt khách , đạt 102,12% , tăng
19.6% so với năm 2004 , trong đó khách quốc tế 329,847 lợt , đạt 106,4%, tăng
16% so với năm 2004.
- Doanh thu toàn ngành đạt 63,117 tỷ đồng , bằng 104% kế hoạch năm , tăng
24,5% so với năm 2004 .
- Nộp ngân sách đạt 7.463,98 triệu đồng , đạt 105% kế hoạch năm , tăng
10,4% so với năm 2004.
1.3.2. Công tác quản lý nhà nớc về du lịch trên địa bàn tỉnh
- Tham mu cho UBND tỉnh bổ sung quy hoạch chi tiết khu du lịch Tam Cốc
Bích Động, khu du lịch sinh thái hồ Đồng Thái - Động Mã Tiên.
- Tổ chức triển khai có hiệu quả Thông báo số 21/TB-UB ngày 13/5/2005
thông báo của UBND tỉnh về kết luận của Chủ tịch tỉnh tại Hội nghị kiểm điểm bàn
biện pháp tháo gỡ khó khăn đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án phát triển du lịch
trên địa bàn tỉnh.
- Phối hợp với viện nghiên cứu và phát triển du lịch hoàn thành công tác điều
tra 70 cơ sở lu trú du lịch giai đoạn II năm 2005 . Nghiên cứu xây dựng kế hoạch
phát triển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình đến năm 2015 theo hớng của Tổng
cục du lịch.
- Tổ chức thẩm định và xếp hạng 2 khách sạn 2 sao và 2 khách sạn đạt tiêu
chuẩn tối thiểu . T vấn cho các doanh nghiệp , tổ chức, cá nhân đầu t phát triển du
lịch tại Ninh Bình.
10
- Tham mu cho ban chỉ đạo Nhà nớc về du lịch tỉnh báo cáo tổng kết chơng
trình hành động quốc gia về du lịch Ninh Bình năm 2000-2006.
- Xây dựng dự thảo nhiệm vụ cho UBND xã , phờng , thị trấn về công tác
quản lý Nhà nớc về du lịch trình UBND tỉnh quyết định .
- Tham mu cho UBND tỉnh xây dựng đề án thành lập Ban quản lý khu du
lịch Kênh Gà- Vân Trình , Vân Long , Địch Lộng, Động Hoa L . Phối hợp với Sở
Tài chính và các ngành liên quan xây dựng phí tham quan , phí chở đò ở các khu
du lịch trên địa bàn tỉnh trình HDND, UBND tỉnh phê duyệt . Phối hợp với Khoa
Khách Sạn và Du Lịch trờng Đại học Kinh Tế Quốc Dân , Viện Asia của Nhật Bản ,
Vụ Lữ hành Tổng cục du lịch nghiên cứu chơng trình phát triển du lịch láng nghề
dọc hành lang Đông Tây tại làng nghề thêu ren Ninh Hải.
- Tổ chức nghiên cứu đề tài Cơ sở khoa học và giải pháp khai thác hanh
động karst phục vụ phát triển du lịch Ninh Bình .
1.3.3. Hoạt động xúc tiến đầu t phát triển du lịch
- Tuyên truyền quảng bá , chào bán sản phẩm du lịch Ninh Bình tại lễ hội Tr-
ờng Yên và tham gia các hội chợ du lịch quốc tế tại Hà Nội và Quảng Nam .
- Phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam xây dựng hoàn chỉnh một số bộ
phim tuyên truyền cho du lịch Ninh Bình.
- Cùng với Đài truyền hình Ninh Bình mở các chuyên mục du lịch Ninh Bình
, phát sóng hàng tháng trên Đài truyền hình Ninh Bình.
- Thay một số biển quảng cáo tấm lớn tại cầu Lim ( TXNB) và xã Gia Xuân (
Gia viễn) .
- Phối hợp cùng với Nhà xuất bản Thế giới thiết kế , xây dựng nội dung sa
bàn điện tử về du lịch Ninh Bình , áp dụng công nghệ vi tính 3D.
- Phối hợp cùng với trờng Cao đẳng du lịch Hà Nội mời giảng viên về giảng
các lớp bồi dỡng giáo dục du lịch cộng đồng tại các xã nh : Gia Vân , Đông Sơn ,
Gia Sinh, số ngời tham gia 3 đợt là 1500 ngời .
1.3.4. Các dự án đầu t xây dựng CSHT và đầu t cơ sở kinh doanh vào các khu du lịch
.
Ninh Bình là một tỉnh giàu tiềm năng du lịch , nhằm khai thác tốt tiềm năng
thế mạnh về du lịch , UBND tỉnh Ninh Bình đã chỉ đạo công tác phát triển du lịch
tại địa phơng . Tỉnh chỉ đạo các huyện , thị xã xây dựng quy hoạch , dành quỹ đát
thích hợp xây dựng các khu du lịch kêu gọi đầu t , xây dựng cơ sỏ hạ tầng . Năm
2002, UBND tỉnh đã ban hành quyết định 568/QĐ-UB về quy định đãi khuyến
khích đầu t vào các khu công nghiệp , khu du lịch trên địa bàn tỉnh . Theo tinh thần
của cơ chế khuyến khích đầu t phát triển du lịch của tỉnh thì ngoài những u đãi
11
chung đang áp dụng tại Luật khuyến khích đầu t trong nớc , khi đầu t vào du lịch
Ninh Bình nhà đầu t sẽ đợc hởng những u đãi riêng của tỉnh , nhữngu đãi đầu t phát
triển du lịch gồm : Ưu đãi về thuê đất, u đãi về vốn đầu t , u đãi về lãi suất vay vốn,
u đãi về đầu t xây dựng các công trình hạ tầng khu du lịch , hỗ trợ kinh phí đào tạo
nghề cho lao động địa phơng
Từ khi ban hành các chính sách khuyến khích đầu t , tỉnh Ninh Bình đã thu hút
đợc rất nhiều đầu t xây dựng CSHT các khu du lịch và các khu công nghiệp ;Tình từ
năm 2001 đến nay đã thu hút đợc gần 40 dự án du lịch đầu t vào Ninh Bình
Trong năm 2005 có 5 dự án đợc cấp giấy phép đầu t vào hoạt động du lịch ,
với tổng mức đầu t là 1.020,387 tỷ đồng :
- Dự án đầu t xây dựng khu du lịch Tràng An của doanh nghiệp xây
dựng Xuân Trờng với tổng mức vốn là 630,937 tỷ đồng , hiện
doanh nghiệp đang đầu t các hạng mục chính .
- Dự án đầu t xây dựng khu du lịch sinh thái Vân Long của Công ty
TNHH Thơng mại và Vận tải Hoàng Gia Hà Nội với tổng mức
đầu t là 18,4 tỷ đồng , hiện đang tổ chức san lấp mặt bằng .
- Dự án đầu t khu văn phòng siêu thị , khách sạn cao tầng , địa điểm
phờng Tân Thành , TXNB của công ty TNHH Đầu t và phát triển
Thơng mại sản xuất Hoàng Phát , tổng mức đầu t là 199 tỷ đồng
-Dự án mở rộng cơ sở dịch vụ khu du lịch sinh thái Vân Long của
công ty TNHH Thảo Sơn với tổng mức đầu t là 22,25 tỷ đồng .
- Dự án khu giao lu nghỉ dỡng Vân Long của công ty Cổ phần bất
động sản Hợp Phát Hà Nội với tổng vốn đầu t là 149,8 tỷ đồng ,
hiện đang tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng .
Ngoài ra có các dự án đang làm thủ tục cấp giấy phép đầu t nh :
- Dự án xây dựng sân golf Gia Sinh của sông ty Hwasung Spa Co.ltd
Hàn quốc , tổng vốn đầu t là 9,5 triệu USD (100% vốn nớc ngoài).
- Dự án của tập đoàn đầu t Việt Nam Hotel Project BT ( Hà Lan) với
tổng vốn đầu t là 5 triệu USD đầu t tại xã Ninh Hải , huyện Hoa L ,
tỉnh Ninh Bình ( 100% vốn nứơc ngoài).
2. Khu du lịch Vân Long
2.1. Đặc điểm khu du lịch Vân Long
Non nớc Vân Long là khu vực có diện tích 2643 ha trên địa bàn 7 xã thuộc
huyện Gia Viễn : Gia Hng , Liên Sơn, Gia Hoà , Gia Vân , Gia Lập , Gia Tân , Gia
Thanh , ở phái Bắc tỉnh Ninh Bình , cách TXNB 17 km về phía đông nam .
12
Vân Long chịu ảnh hởng của 3 con sông lớn của Ninh Bình : Sông Đáy ,
Sông Hoàng Long, Sông Bôi . Đất ngập nớc với mức nớc sâu khoảng vài mét , đan
xen là các dãy núi đá vôi nổi lên cao sàn sàn dới 300m , cao nhất là đỉnh Ba Chon
cao 428m . Xen kẽ là một số đồi , núi đá thấp với độ cao không vựơt quá 50m . Núi
đá vôi và đồi núi thấp chiếm khoảng 3/4 diện tích . Đây là khu vực có mức độ đa
dạng sinh học cao , có hệ sinh thái đất ngập nớc nội địa với diện tích lớn nhất đồng
bằng Bắc Bộ , có hệ sinh thái núi đá vôi là nơi sinh sống của quần thể Voọc quần
đùi trắng lớn nhất Việt Nam .
Rừng Vân Long có 457 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 327 chi , 127
họ . Đặc biệt có 8 loài đợc ghi trong sách đỏ Việt Nam là : Kiêng , Lát hoa , tuế lá
rộng cốt toái bồi , sắng , bách bộ , mã tiên hoa tán , bò cạp núi .
Về động vật , có 39 loài , 19 họ , 7 bộ thú , có 12 loài động vật quý hiếm nh :
Gấu ngựa , Sơn dơng , Cu li lớn , khỉ mặt đỏ , cầy vằn , báo gấm , báo hoa mai
Đặc biệt là Voọc quần đùi trắng loài động vật đặc hữu chiếm số lợng lớn nhất của
Việt nam . Trong các loài bò sát có 9 loài đợc ghi trong sách đỏ của Việt Nam nh :
Rắn Hổ chúa , kỳ đá hoa , trăn đất , rắn ráo trâu , rắn ráo thờng , rắn sọc đấu đỏ ,
rắn cạp nong , rắn hổ mang , tắc kè . Chim có 62 loài , 32 họ và 12 bộ .
Điều đáng chú ý là tại khu ngập nớc Vân Long có loái cà cuống thuộc họ
chân bơi , một loái côn trùng quý hiếm .
Du khách đến với Vân Long là đến với một thắng cảnh danh lam kỳ thú .
Một vùng sinh cảnh độc đáo . Du thuyền trôi trên những thảm thuỷ sinh , tới thăm
bức tranh đá thiên nhiên đấy ấn tợng Mèo Cào với những cây cảnh ký trên vách
núi vài trăm năm tuổi .
Với hệ động thực vật phong phú , nhiều di tích lịch sử đặc biệt là đền thờ Tứ
Vị Hồng Nơng bốn tớng của Trng Trắc , Trng Nhị , dịch vụ chu đáo , lợng
khách trong nớc và quốc tế đến ngày càng tăng làm hấp dẫn một vùng sơn kỳ thuỷ
tú này .
Đến với Vân Long khách có thể đi đến các khu du lịch khác của tỉnh Ninh
Bình một cách dễ dàng và thuận tiện .
Tour du lịch văn hoá :
- Đi động Hoa L _ nơi có cờ lau tập trận của Đinh Tiên Hoàng cách 5
km ( Gia Hng ) .
- Đi cố đô Hoa L 20km .
- Đi Địch Lộng Gia Thanh 3km ( là di tích lịch sử đợc Nhà nớc xếp
hạng và Vua Cảnh Hng xếp là hang đẹp thứ 3 trời nam ).
- Cách đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng khoảng 3km ( Gia Phơng).
13
Tour du lịch sinh thái từ Vân Long :
- Từ Vân Long đi rừng quốc gia Cúc Phơng 23km .
- Từ Vân Long đi suối nớc nóng Kênh Gà 6km .
- Từ Vân Long đi Tràng An Tam Cốc Bích Động là 15 km .
- Từ Vân Long đi Địch Lộng 3 km
2.2. Sản phẩm du lịch tại Vân Long
Khu du lịch Vân Long mới đợc phát hiện và đi vào khai thác du lịch nên sản
phẩm du lịch còn rất nghèo nàn và hạn chế bao gồm các sản phẩm du lịch sau đây :
- Khi du khách đến với Vân Long, sản phẩm du lịch đầu tiên mà du
khách ai cũng cảm thấy hấp dẫn và thích thú đó là dich vụ chở du
khách bằng các phơng tiện mang tính chất địa phơng nh : Xe Trâu ,
Xe Bò cổ kính . Đa du khách tìm lại đợc cảm giác thời thơ ấu của
mình hoặc cảm giác mới lạ .
- Du khách đến chân khu du lịch thì có dịch vụ chở đò , đa du khách
đi tham quan toàn cảnh khu du lịch Vân Long trên những chiếc đò
tre do ngời dân địa phơng điều khiển ,khám phá những nét đẹp và
hấp dẫn của Vân Long .
- Du khách có thể đi thăm quan nhà cổ trong các khu dân c bằng
các phơng tiện mang tính chất đặc thù của nông thôn Việt Nam
thời xa , tại đây du khách có thể khám phá , tìm hiểu về nghệ thuật
và kiến trúc xây dựng của cha ông ta ngày xa xa .
- Du khách có thể thởng thức những món ăn đặc sản của địa phơng và
Việt Nam trên các khu nhà sàn mang đậm phong cách văn hoá m-
ờng ( Hoà Bình ) hoặc các món ăn và phong cách ẩm thực mang
đậm nét đẹp cung đình Huế.
- Đến Vân Long du khách có thể mua các hàng hoá lu niệm rất phong
phú mang đậm nét dân tộc Việt Nam và địa phơng với sự phục vụ
nhiệt tình của nhân viên bán hàng .
- Ngoài ra Vân Long có thể là nơi để nghiên cú khoa học về đa dạng
sinh học và bảo tồn các loại động thực vật quý hiếm , là điểm đến lý
thú cho những ai thích tìm hiểu về đa dạng sinh học , các viện, tr-
ờng đại học , cao đẳng hoặc sinh viên thực tập .
Trong tơng lai Vân Long sẽ ngày càng có nhiều sản phẩm du lịch hơn phục
vụ khách du lịch trong và ngoài nớc .
14
Đặc sắc thể tài yêu ngôn trong sáng tác của Nguyễn Tuân.pdf
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
nghiệm và truyền thống của loại “truyện kỳ ảo” mà cây bút bậc thầy Nguyễn
Tuân đã từng khai phá và sáng tạo đang tiếp tục được vận dụng trong văn
học đương đại, và cũng qua đó hiểu thêm và đánh giá đúng hướng đi này
của văn học đương đại .
4. Đã có nhiều công trình, luận án, luận văn quan tâm đánh giá, nghiên
cứu toàn diện hoặc nhiều khía cảnh nội dung, nghệ thuật tác phẩm Nguyễn
Tuân: quan điểm nghệ thuật, phong cách nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu,
đặc trưng kí, tùy bút. Tuy vậy, mảng truyện Yêu ngôn của Nguyễn Tuân cho
đến nay chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ như một chỉnh
thể, một thể tài riêng với các khía cạnh nội dung và nghệ thuật có tính đặc
thù. Do vậy, đề tài mà luận văn lựa chọn sẽ cố gắng tập trung vào hướng
khảo sát còn mới mẻ này.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong dòng chảy văn học Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại,
yếu tố kì ảo đã góp phần tạo nên những nét độc đáo trong diện mạo văn học.
Trong giai đoạn 1930 – 1945 gắn liền với thực tiễn sáng tạo, vấn đề
truyện truyền kì, yếu tố kì ảo đã được đề cập đến trong phê bình văn học.
Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã có các bài phê bình tác giả, tác
phẩm Lan Khai , Tchya , Nguyễn Tuân…
Trong khoảng mười năm trở lại đây, song song với sự phát triển chất
kì ảo, truyền kỳ trong văn học đương đại cùng với việc in lại các truyện
truyền kì, ma quái (Đêm bướm ma, Chuyến xe ma quái, Hồn hoa trở lại,
Truyện không nên đọc vào lúc giao thừa…) đã có các bài giới thiệu, phê
bình loại truyện này.
Song song với sự phát triển chất kì ảo, truyền kì trong văn học
đương đại, đã có nhiều bài phê bình, luận án đề cập đến vấn đề này. Có thể
kể các bài viết chuyên sâu, các luận án đề cập đến vấn đề này: Truyện kì ảo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
hiện đại – dư ba của truyện truyền kì truyền thống (Bùi Thị Thiên Thai),
Nghiên cứu văn bản và đánh giá tác phẩm truyền kì Việt Nam (Phạm Văn
Thắm), Huyền thoại , một điều thú vị (Trần Duy Châu) , Phương thức huyền
thoại trong văn học Việt Nam từ sau 1975 (Lê Thị Hường), Truyện thần linh
ma quái và vấn đề giáo dục con người (Vũ Ngọc Khánh), Ma và vô thức –
bức tranh sáng tối của hương hồn (Trần Thanh Ngoạn).
Từ trước 1945, Nguyễn Tuân đã dự định in Yêu ngôn, một tuyển tập
những đoản thiên có tính huyền bí nhưng chưa kịp làm. Nhiều năm sau khi
Nguyễn Tuân qua đời, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh sưu tầm, giới
thiệu và cho in Yêu ngôn (Nhà xuất bản Hội nhà văn – 1998).
Sau khi Yêu ngôn được xuất bản, đã có một vài bài của các nhà nghiên
cứu, phê bình đề cập đến tác phẩm: Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Như Mai,
Vương Trí Nhàn, Thụy Khuê, Trương Chính ở những bài viết này thường
tập trung nói về những nét độc đáo của một số truyện mà chưa có sự đánh
giá khái quát về toàn bộ những sáng tác có tính chất yêu ngôn của Nguyễn
Tuân. Lời giới thiệu Yêu ngôn của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cũng
chỉ dừng lại ở chỗ phác họa diện mạo cơ bản của yêu ngôn. Một số bài viết
của các nhà nghiên cứu người Việt ở nước ngoài cũng chú ý tới một số vấn
đề trong Yêu ngôn. Nhìn chung mỗi người mỗi thế mạnh riêng, góp phần
dẫn dắt người đọc đi sâu vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân, nhưng
chưa hoàn toàn tập trung vào việc xem Yêu ngôn như một thế giới nghệ
thuật đặc thù trong văn chương Nguyễn Tuân.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Tập Yêu ngôn do Nguyễn Đăng Mạnh sưu tầm tuyển chọn-nhà xuất
bản Hội nhà văn, 1998, gồm tám truyện: Khoa thi cuối cùng, Trên
đỉnh non Tản, Đới roi, Xác ngọc lam, Rượu bệnh, Lửa nến trong
tranh, Loạn âm, Tâm sự của nước độc (tức Chùa Đàn).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
- Một số truyện ngắn khác của Nguyễn Tuân gần gũi với Yêu ngôn (Tóc
chị Hoài, Bữa rượu máu, Vườn xuân lan tạ chủ…)
- Một số truyện của các tác giả khác thuộc thể loại này: Thần Hổ, Ai
hát giữa rừng khuya (Tchya), Suối đàn (Lan Khai)…
IV. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thi pháp học thể loại:
Vận dụng thi pháp thể loại (các yếu tố không gian- thời gian nghệ thuật,
nhân vật, nghệ thuật và hình thức tự sự), để làm sáng tỏ thể tài Yêu ngôn.
2. Phương pháp phân tích tác phẩm:
Nhằm làm rõ nội dung và nghệ thuật trong các truyện Yêu ngôn
3. Phương pháp hệ thống:
Xem xét thể tài yêu ngôn như một hệ thống hoàn chỉnh với những đặc
điểm riêng như một thế giới nghệ thuật đặc thù trong văn Nguyễn Tuân.
4. Phương pháp so sánh đối chiếu:
Các truyện Yêu ngôn sẽ được nhìn nhận và đánh giá trong sự so sánh
đối chiếu với nhau và với các loại truyện kỳ ảo đương thời của các tác giả
đương thời để làm rõ những đặc sắc riêng trong tương quan chung.
V. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Làm rõ đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của loại truyện yêu ngôn
trong sáng tác của Nguyễn Tuân, xác định những giá trị của nó trong sự
phát triển loại truyện truyền kì hiện đại.
- Từ việc khẳng định những đặc sắc của thể tài yêu ngôn trong sáng tác
của Nguyễn Tuân, thấy được những kinh nghiệm nghệ thuật của nhà văn
như một truyền thống hòa nhập vào văn xuôi đương đại.
VI. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được viết
theo 3 chương sau:
Chương 1: Yêu ngôn – Một thế giới nghệ thuật huyền kỳ.
Chương 2: Đặc trưng thi pháp yêu ngôn.
Chương 3: Sự thăng hoa của cái đẹp và những giá trị nhân bản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Chương 1:
YÊU NGÔN - MỘT THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT HUYỀN KỲ
Huyền kì, kì ảo là những điều lạ lùng, huyền bí mà đặc trưng của
nó là sự tưởng tượng, hư cấu có sức lay động hứng thú thẩm mĩ của người
đọc. Vấn đề này đã hiện diện trong văn học nhân loại tự cổ sơ và “không hề
chết đi khi bước sang thế kỉ XX” [53, tr25 ].
Trong văn học hiện đại, kì ảo được hiểu như một phạm trù tư duy
nghệ thuật, một phương tiện hữu hiệu để nhận thức và phản ánh cuộc sống
nhằm mang lại cho tác phẩm những giá trị thẩm mĩ nhất định.
Thế giới nghệ thuật là “sản phẩm sáng tạo mang tính cảm tính, có
thể cảm thấy được của người nghệ sĩ, một kiểu tồn tại đặc thù, vừa trong
chất liệu, vừa trong cảm nhận của người thưởng thức, là sự thống nhất của
mọi yếu tố đang dạng trong tác phẩm” [53, tr28]. Với tư cách là thủ pháp
nghệ thuật chủ đạo, yếu tố huyền kì, kì ảo đã tác động đến mọi phương diện
của truyện, mang lại cho nó những đặc trưng riêng tạo nên một thế giới nghệ
riêng, làm nên sự phong phú, đa dạng của đời sống văn học. Yêu ngôn của
Nguyễn Tuân cũng không nằm ngoài những đặc điểm ấy.
1.1. Một cõi riêng trong văn chƣơng Nguyễn Tuân và văn chƣơng
đƣơng thời
1.1.1. Tính riêng biệt độc đáo của Yêu ngôn trong loại truyện
truyền kì, ma quái đương thời
Yếu tố kì ảo không hề xa lạ với văn học Việt Nam từ xa xưa của
lịch sử cho tới bây giờ. Ngay từ lúc mới hiện diện, văn học Việt Nam đã gắn
liền với kì ảo: “Kì ảo là một trong những đặc trưng của truyện dân gian,
không có kì ảo thì không thể có truyện dân gian vậy” [50, tr55]. Khả năng
tiềm tàng của thần thoại, cổ tích là dưỡng chất nuôi dưỡng nền văn hóa hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
đại. Với tư cách là “văn hóa gốc”, nguồn mạch dân gian bất tận suốt bao đời
vẫn không ngừng nghỉ bồi đắp cho dòng chảy của văn học, đồng thời có vai
trò quan trọng trong việc tạo nên tâm thức cộng đồng dân tộc: gần gũi và có
xu hướng thiên về những cái kì lạ, khác thường, biểu hiện thế giới quan thần
linh, tư duy huyền thoại trong quan điểm của người sáng tác văn học mọi
thời đại. Bên cạnh đó, đặc điểm của một xã hội nông nghiệp phương Đông
là nơi “tràn đầy những màu sắc lãng mạn thần kì”, cũng là môi trường thuận
lợi để yếu tố kì ảo này sinh, trường tồn. Những truyện kì lạ, hoang tưởng
còn được nâng cánh bởi cái nhìn thế giới với một niềm tin hồn nhiên là có
sự tương thông, tương giao giữa người sống và người chết, giữa thế giới
thực tồn và thế giới siêu nhiên. Người ta xem những chuyện quái dị, hoang
đường là có thật. Niềm tin mang tính chât tâm linh vào những lực lượng
thần bí, siêu nhiên này đã góp phần tạo thành dòng tín ngưỡng ghi dấu ấn
sâu đậm vào mọi hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động sáng tạo
nghệ thuật. Nghĩa là trong mỗi con người Việt Nam hiện đại vẫn tiềm ẩn
một tâm hồn phương Đông cổ xưa, đây chính là cơ sở tạo ra “tầm đón đợi”
thuận lợi đối với bộ phận văn học tiếp cận cuộc sống bằng những yếu tố kì
lạ, siêu nhiên nói trên.
Thời kì văn học 1930 – 1945 vẫn tiếp tục dòng chảy kì ảo của văn
học truyền thống, với xu hướng thiên về những cái kì lạ, khác thường, với
những câu chuyện li kì, ma quái. Trong văn chương hiện đại đã hình thành
một kiểu tư duy nghệ thuật về cuộc sống không phải bằng chất liệu hiện
thực quen thuộc mà bằng cái kì ảo, hư ảo. Mỗi nhà văn mỗi vẻ, bằng tài
năng và sự sáng tạo của mình đã làm nên sự phong phú, đa dạng ở thể tài
này. Có thể kể tên những tác phẩm nổi bật: “Ba hồi kinh dị”; “Trại Bồ tùng
linh” của Thế Lữ , “Ai hát giữa rừng khuya” của Tchya , “Tiền kiếp” của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Đỗ Huy Nhiệm, “Kim Ba chí dị” của Kim Ba, “Suối Đàn” và “Truyện
đường rừng” của Lan Khai…
Truyện của Lan Khai chủ yếu hấp dẫn người đọc bằng màu sắc xứ
lạ phương xa, tạo cảm giác ghê rợn đối với người miền xuôi bằng một
không gian miền núi là rừng rú, là chốn sơn cùng thủy tận. Trong “Nhà văn
hiện đại”, Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Mặc dầu Lan Khai viết nhiều loại, từ
trước đến nay, ông chỉ đáng được nổi tiếng về tiểu thuyết đường rừng hơn
cả” [47, tr298]. Những truyện của ông đều là những truyện khác thường,
nếu không phải là hoang đường thì cũng là những việc, những người không
phải hàng ngày trông thấy. Chủ ý của nhà văn là “kích thích sự tò mò, trí
tưởng tượng của người đọc”, “khiến người ta ghê sợ về những cái bí hiểm
của rừng núi”.
Đi vào chốn non cao rừng thẳm của Lan Khai, ta gặp một thế giới
hoang sơ kì thú của Suối Đàn – một dòng suối thơ mộng như mối tình của
chàng trai thành phố với cô sơn nữ . Mối tình đẹp nhưng dang dở , người
con gái chết âm thầm như bông hoa héo rũ, trong cái vắng lặng của núi
rừng, để từ đó trong nỗi niềm thương nhớ não nùng, chàng trai luôn nghe
thấy trong âm thanh của suối, của rừng có khúc đàn ai oán, phảng phất nỗi
niềm oan ức của người trinh nữ rừng xanh…
Nếu Suối Đàn khiến người đọc tràn đầy cảm xúc về tâm hồn ngây
thơ chất phác của người sơn nữ bao nhiêu, thì trong Truyện đường rừng Lan
Khai lại làm cho người ta ghê sợ về những cái bí hiểm của rừng núi bấy
nhiêu. Đó là chốn ma thiêng nước độc, người mandi còn ở lẫn với thú dữ và
với… ma: nào là “Ma thuồng luồng”, nào là “Người hóa hổ”, nào là “Gò
thần”,…, chỉ những cái tên đọc lên đã gợi sự rùng rợn, kì quái.
Nếu Lan Khai “đưa người ta vào tận rừng thẳm, dắt người ta một
cách thân mật vào các gia đình Thổ Mán, và cho người ta được thấy những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
tâm tính kì dị” [47, tr 298] thì truyện của Tchya Đái Đức Tuấn lại hấp dẫn
bằng sự kì quái, ghê rợn với cốt truyện thần bí, phi thường: “Cái lối truyền
kì của ông là một lối thần quái, một lối quái đản như những truyện trong
“Liêu trai” trong “Truyền kì mạn lục”. Cái xã hội ma và xã hội người trong
tiểu thuyết của ông chỉ là một …”[47, 319].
Thần Hổ và Ai hát giữa rừng khuya của Tchya chính là những tập
“Liêu trai Việt Nam”, những tập viết riêng về vài loài yêu quái ở đường
rừng đất Việt chứ không phải về tất cả các loài yêu ma như của Bồ Tùng
Linh. Cái giống ma ở hai cuốn truyện thần quái của Tchya là ma trành và cái
loại thần trong đó là thần Hổ , những con hổ đã ăn thịt hàng trăm người,
trong tai nổi lên hàng trăm tia máu đỏ, nghe được ngàn dặm. Vị thần Hổ đây
là con hổ xám, hổ vàng, khi họp hội đồng cơ mật dưới gốc cây đại thụ, vị
thần Hổ thường trút bỏ bộ lông, biến thành một ông già đầu râu tóc bạc
đường bệ. Bị hổ vồ là có số, những kẻ bị giống mãnh thú ấy ăn thịt là đã có
tên trong quyển sổ do thần Hổ giữ - định mệnh ấy không sao trốn thoát
được. Cái họ Đèo trong Thần Hổ mà tất cả con cháu phải làm mồi cho hổ
chỉ vì ông tổ của họ đã dám phạm đến một con hổ già, làm nó chột một mắt
và tuyệt đường duy trì nòi giống. Sự báo thù thật là ghê gớm, tất cả con cháu
họ Đèo khi đã sa vào nanh vuốt hổ, người nào cũng bị móc mất một mắt và
cắn xé mất hạ bộ. Thần Hổ ra oai và gieo vạ cho cả dòng giống những người
đã dám phạm đến thần.
Bọn ma trành phải hầu hạ thần Hổ rất khổ sở. “Ma trành là những
thứ ma bất đắc kì tử, hoặc bị hổ ăn, hoặc bị dìm đuối hoặc vì thắt cổ, hoặc vì
bị chẹt xe… Chết như thế thì linh hồn vất vưởng bị đầy đọa không đi đầu
thai được mà không được tự do. Nếu muốn thoát khỏi vòng kìm hãm, cũng
phải tìm kẻ thế cho mình. Nếu không thì mãi mãi, mình sẽ phải làm ma
trành, đói khát khổ sở”. Muốn có kẻ thế chân mình, họ phải run rủi những kẻ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
có số bị hổ vồ vào nanh vuốt thần Hổ để họ được sống cái đời ma độc lập,
gần gụi với gia đình, với họ mạc.
Cả truyện Thần Hổ và Ai hát giữa rừng khuya đều thuộc loại
truyện ma quái, truyền kì được xây dựng và hư cấu trên những mẩu chuyện
truyền kì ở miền núi. “Những tình tiết li kì trần tục xen lẫn sắc thái hoang
đường thần thoại, tao nên một câu chuyện kích thích mạnh trí tưởng tượng
và giác quan người đọc. Đằng sau câu chuyện li kì, bí hiểm và ghê rợn về
mối quan hệ người – mãnh thú, người – ma là dấu vết của một thế giới quan
thơ mộng và mông muội còn lưu giữ lại”. Tất cả đã tạo nên sự hấp dẫn riêng
trong những truyện đường rừng của Tchya.
Khác với truyện của Lan Khai, của Tchya hấp dẫn người đọc bằng
lối truyện đường rừng hoang sơ kì thú và bí hiểm, truyện của Nguyễn Tuân
lại cuốn hút độc giả bằng những nét lãng mạn riêng, giàu chất thẩm mĩ,
chất văn hóa, nhân bản: “Ông là một nhà văn đứng hẳn ra một phái riêng,
cả về lối văn lẫn về tư tưởng” [47, tr 415]. Yêu ngôn là tác phẩm như thế.
1.1.2. Một thể tài độc đáo trong toàn bộ sáng tác Nguyễn Tuân.
Vang bóng một thời là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Tuân được Vũ
Ngọc Phan đánh giá là “một văn phẩm gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ” [47, tr
415].Vang bóng một thời khơi lại đống tro tàn của một quá khứ chưa xa, tác
phẩm thể hiện sự nuối tiếc cái đẹp với những con người, lối sống, thú chơi
của một thời. Đó là các cụ nghè, cụ cử, cụ tú, lớp nho sĩ cuối mùa với những
sinh hoạt cầu kì, những thú chơi tiêu dao, nhàn tản và qua đó tái hiện nhiều
nét văn hóa của người Việt. Ở tập truyện ngắn này, người ta đã thấy rõ tài
năng và phong cách của Nguyễn Tuân: phóng túng-tài hoa-uyên bác.
Đọc Yêu ngôn, có thể nhận thấy những nét quen thuộc, gần gũi
trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân mà ta đã gặp trong Vang bóng
một thời và những tác phẩm về sau này. Vẫn là một Nguyễn Tuân nhạy cảm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
với cái đẹp và nhìn sự vật nghiêng về góc độ thẩm mĩ, vẫn là những con
người tài hoa nghệ sĩ như thuở một thời vang bóng: những người thợ mộc
Chàng Thôn với đôi tay tài nghệ được chúa Ngàn Thiêng vời lên sửa đền ở
chốn non cao thần tiên ( Trên đỉnh non Tản ); một Bá Nhỡ - kẻ dám đi đến
tận cùng của nghệ thuật, dùng mạng mình để đổi lấy tiếng đàn đạt tới tuyệt
đỉnh nghệ thuật (Tâm sự của nước độc – Chùa Đàn ); một Bố Ô – vua lưu
linh sống trong rượu và chết cũng trong rượu ( Rượu bệnh – Bố Ô )… Nếu
trong Vang bóng một thời, ta gặp những nếp sinh hoạt và thú chơi cầu kì mà
thanh đạm, tao nhã: uống trà, uống rượu Thạch Lan Hương, đánh thơ, thả
thơ, chơi chữ… thì trong Yêu ngôn, vẫn là những lối sống, những thú chơi
cầu kì tao nhã ấy: một người chủ đồn điền nhưng lại có cái “cốt tài tử” say
mê những bức cổ họa, sẵn sàng bỏ ra rất nhiểu tiền để có được bức họa vẽ
tướng Hàn Kỳ ngồi đọc binh thư bên ngọn bạch lạp; anh em ông Đầu xứ
Anh, Đầu xứ Em nổi danh về tài học vẫn mải miết với nghiệp đèn sách thi
cử dẫu biết rằng có thể bị hồn ma báo oán giữa trường thi (Khoa thi cuối
cùng )…
Đọc Yêu ngôn, vẫn gặp những cảnh sắc, những đồ vật quen thuộc
của một thời: vùng Sơn Nam hạ mùa thi cử hoa hòe nở vàng ( Khoa thi cuối
cùng ), những cửa ô thân thuộc của chốn kinh kì ( Rượu bệnh ), những roi
chầu, đàn đáy, tiếng tơ tiếng trúc (Chùa Đàn)… có nghĩa là vẫn là văn
Nguyễn Tuân, kiến thức Nguyễn Tuân, mảnh hồn Nguyễn Tuân in hằn một
dấu triện riêng không thể lẫn.
Là con người luôn thèm khát những cảm giác mới lạ và mãnh liệt
“Tôi muốn mỗi ngày trong cuộc sống của tôi phải cho tôi cái say của rượu
tối tân hôn”, những cảm giác ấy “Nguyễn Tuân không thể tìm được trong
cái môi trường vẫn vây bọc lấy ông trong cuộc sống hàng ngày, phải đi tìm
một thế giới khác để được sống mãnh liệt, nồng nàn, cuồng nhiệt, phát huy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
tận độ cá tính của mình” [63, tr 9]. Nhà văn tìm cách vượt, phóng thoát hoàn
toàn khỏi hiện thực bằng sự đẩy xa đến cùng sức tưởng tượng và cảm hứng
lãng mạn. Ông tìm đến một thế giới khác, một hiện thực khác để sống mãnh
liệt hơn, thế giới của cõi âm, cõi ma, thế giới của Yêu ngôn.
Không phải đến Yêu ngôn mà ngay trong một số truyện khác của Nguyễn
Tuân đã mang màu sắc huyền kì. Trong tập Vang bóng một thời, các truyện
Trên đỉnh non Tản và Khoa thi cuối cùng ( Báo oán ) được tuyển chọn vào Yêu
ngôn bởi “có màu sắc huyền kì, ma quái” [3 ,tr 917]. Bên cạnh đó, các truyện
Tóc chị Hoài, Chém treo ngành, Vườn xuân lan tạ chủ đã có một chút màu sắc
kì ảo phi thường. Tóc chị Hoài (1942) “đứng riêng như một thử nghiệm tiểu
thuyết mới của Nguyễn Tuân những năm 1940” [54, tr7]. Chị Hoài là “một
nhân vật hư cấu hư không, chị có mà không, chị không mà có”. Như tất cả
những nhân vật tiểu thuyết thông thường, “chị Hoài là một người chị tôi
mượn của cuộc đời bừa bộn những oan trái”, chị Hoài cộng hưởng những ảo
ảnh đớn đau của người nghệ sĩ. “Chị Hoài, ảo ảnh vô hình, chị không có thật
nhưng hồn chị, tóc chị là thật. Chỉ có tôi đang nói chuyện với một mớ tóc
mây. Chỉ có hai ngón tay chị Hoài đang nói chuyện với những sợi chỉ tơ
thâm một mớ tóc xõa. Gian nhà có hai người, lặng mà không vắng. Thế rồi
trong cái hiu quạnh tay đôi ấy, khe khẽ nổi lên giọng kể chuyện Nhị Độ
Mai, khẽ một cách rất mơ hồ thủ thỉ. Lòng tôi vụt trở nên thương nhớ thăm
thẳm gấp mấy giọng hát u hoài… Trong giây phút, đặt sách vào lòng, tôi
thấy nhộn nhạo trong lồng ngực và ước muốn được làm ngay cái anh chàng
Mai Sinh kia” [56, tr 657]. “Chất huyền ảo của Nguyễn Tuân bắt đầu từ đây,
từ mái tóc lãng mạn của chị Hoài, trước khi rẽ sang ngả kinh dị của yêu
ngôn” [14, tr 8].
Ở Bữa rượu máu, tác giả đã vẽ một cảnh rùng rợn của pháp trường.
Bát Lê, tay đao phủ có tài chém người rất ngọt đang luyện lại đường đao
2
nghiệm và truyền thống của loại “truyện kỳ ảo” mà cây bút bậc thầy Nguyễn
Tuân đã từng khai phá và sáng tạo đang tiếp tục được vận dụng trong văn
học đương đại, và cũng qua đó hiểu thêm và đánh giá đúng hướng đi này
của văn học đương đại .
4. Đã có nhiều công trình, luận án, luận văn quan tâm đánh giá, nghiên
cứu toàn diện hoặc nhiều khía cảnh nội dung, nghệ thuật tác phẩm Nguyễn
Tuân: quan điểm nghệ thuật, phong cách nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu,
đặc trưng kí, tùy bút. Tuy vậy, mảng truyện Yêu ngôn của Nguyễn Tuân cho
đến nay chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ như một chỉnh
thể, một thể tài riêng với các khía cạnh nội dung và nghệ thuật có tính đặc
thù. Do vậy, đề tài mà luận văn lựa chọn sẽ cố gắng tập trung vào hướng
khảo sát còn mới mẻ này.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong dòng chảy văn học Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại,
yếu tố kì ảo đã góp phần tạo nên những nét độc đáo trong diện mạo văn học.
Trong giai đoạn 1930 – 1945 gắn liền với thực tiễn sáng tạo, vấn đề
truyện truyền kì, yếu tố kì ảo đã được đề cập đến trong phê bình văn học.
Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã có các bài phê bình tác giả, tác
phẩm Lan Khai , Tchya , Nguyễn Tuân…
Trong khoảng mười năm trở lại đây, song song với sự phát triển chất
kì ảo, truyền kỳ trong văn học đương đại cùng với việc in lại các truyện
truyền kì, ma quái (Đêm bướm ma, Chuyến xe ma quái, Hồn hoa trở lại,
Truyện không nên đọc vào lúc giao thừa…) đã có các bài giới thiệu, phê
bình loại truyện này.
Song song với sự phát triển chất kì ảo, truyền kì trong văn học
đương đại, đã có nhiều bài phê bình, luận án đề cập đến vấn đề này. Có thể
kể các bài viết chuyên sâu, các luận án đề cập đến vấn đề này: Truyện kì ảo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
hiện đại – dư ba của truyện truyền kì truyền thống (Bùi Thị Thiên Thai),
Nghiên cứu văn bản và đánh giá tác phẩm truyền kì Việt Nam (Phạm Văn
Thắm), Huyền thoại , một điều thú vị (Trần Duy Châu) , Phương thức huyền
thoại trong văn học Việt Nam từ sau 1975 (Lê Thị Hường), Truyện thần linh
ma quái và vấn đề giáo dục con người (Vũ Ngọc Khánh), Ma và vô thức –
bức tranh sáng tối của hương hồn (Trần Thanh Ngoạn).
Từ trước 1945, Nguyễn Tuân đã dự định in Yêu ngôn, một tuyển tập
những đoản thiên có tính huyền bí nhưng chưa kịp làm. Nhiều năm sau khi
Nguyễn Tuân qua đời, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh sưu tầm, giới
thiệu và cho in Yêu ngôn (Nhà xuất bản Hội nhà văn – 1998).
Sau khi Yêu ngôn được xuất bản, đã có một vài bài của các nhà nghiên
cứu, phê bình đề cập đến tác phẩm: Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Như Mai,
Vương Trí Nhàn, Thụy Khuê, Trương Chính ở những bài viết này thường
tập trung nói về những nét độc đáo của một số truyện mà chưa có sự đánh
giá khái quát về toàn bộ những sáng tác có tính chất yêu ngôn của Nguyễn
Tuân. Lời giới thiệu Yêu ngôn của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cũng
chỉ dừng lại ở chỗ phác họa diện mạo cơ bản của yêu ngôn. Một số bài viết
của các nhà nghiên cứu người Việt ở nước ngoài cũng chú ý tới một số vấn
đề trong Yêu ngôn. Nhìn chung mỗi người mỗi thế mạnh riêng, góp phần
dẫn dắt người đọc đi sâu vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân, nhưng
chưa hoàn toàn tập trung vào việc xem Yêu ngôn như một thế giới nghệ
thuật đặc thù trong văn chương Nguyễn Tuân.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Tập Yêu ngôn do Nguyễn Đăng Mạnh sưu tầm tuyển chọn-nhà xuất
bản Hội nhà văn, 1998, gồm tám truyện: Khoa thi cuối cùng, Trên
đỉnh non Tản, Đới roi, Xác ngọc lam, Rượu bệnh, Lửa nến trong
tranh, Loạn âm, Tâm sự của nước độc (tức Chùa Đàn).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
- Một số truyện ngắn khác của Nguyễn Tuân gần gũi với Yêu ngôn (Tóc
chị Hoài, Bữa rượu máu, Vườn xuân lan tạ chủ…)
- Một số truyện của các tác giả khác thuộc thể loại này: Thần Hổ, Ai
hát giữa rừng khuya (Tchya), Suối đàn (Lan Khai)…
IV. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thi pháp học thể loại:
Vận dụng thi pháp thể loại (các yếu tố không gian- thời gian nghệ thuật,
nhân vật, nghệ thuật và hình thức tự sự), để làm sáng tỏ thể tài Yêu ngôn.
2. Phương pháp phân tích tác phẩm:
Nhằm làm rõ nội dung và nghệ thuật trong các truyện Yêu ngôn
3. Phương pháp hệ thống:
Xem xét thể tài yêu ngôn như một hệ thống hoàn chỉnh với những đặc
điểm riêng như một thế giới nghệ thuật đặc thù trong văn Nguyễn Tuân.
4. Phương pháp so sánh đối chiếu:
Các truyện Yêu ngôn sẽ được nhìn nhận và đánh giá trong sự so sánh
đối chiếu với nhau và với các loại truyện kỳ ảo đương thời của các tác giả
đương thời để làm rõ những đặc sắc riêng trong tương quan chung.
V. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Làm rõ đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của loại truyện yêu ngôn
trong sáng tác của Nguyễn Tuân, xác định những giá trị của nó trong sự
phát triển loại truyện truyền kì hiện đại.
- Từ việc khẳng định những đặc sắc của thể tài yêu ngôn trong sáng tác
của Nguyễn Tuân, thấy được những kinh nghiệm nghệ thuật của nhà văn
như một truyền thống hòa nhập vào văn xuôi đương đại.
VI. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được viết
theo 3 chương sau:
Chương 1: Yêu ngôn – Một thế giới nghệ thuật huyền kỳ.
Chương 2: Đặc trưng thi pháp yêu ngôn.
Chương 3: Sự thăng hoa của cái đẹp và những giá trị nhân bản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Chương 1:
YÊU NGÔN - MỘT THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT HUYỀN KỲ
Huyền kì, kì ảo là những điều lạ lùng, huyền bí mà đặc trưng của
nó là sự tưởng tượng, hư cấu có sức lay động hứng thú thẩm mĩ của người
đọc. Vấn đề này đã hiện diện trong văn học nhân loại tự cổ sơ và “không hề
chết đi khi bước sang thế kỉ XX” [53, tr25 ].
Trong văn học hiện đại, kì ảo được hiểu như một phạm trù tư duy
nghệ thuật, một phương tiện hữu hiệu để nhận thức và phản ánh cuộc sống
nhằm mang lại cho tác phẩm những giá trị thẩm mĩ nhất định.
Thế giới nghệ thuật là “sản phẩm sáng tạo mang tính cảm tính, có
thể cảm thấy được của người nghệ sĩ, một kiểu tồn tại đặc thù, vừa trong
chất liệu, vừa trong cảm nhận của người thưởng thức, là sự thống nhất của
mọi yếu tố đang dạng trong tác phẩm” [53, tr28]. Với tư cách là thủ pháp
nghệ thuật chủ đạo, yếu tố huyền kì, kì ảo đã tác động đến mọi phương diện
của truyện, mang lại cho nó những đặc trưng riêng tạo nên một thế giới nghệ
riêng, làm nên sự phong phú, đa dạng của đời sống văn học. Yêu ngôn của
Nguyễn Tuân cũng không nằm ngoài những đặc điểm ấy.
1.1. Một cõi riêng trong văn chƣơng Nguyễn Tuân và văn chƣơng
đƣơng thời
1.1.1. Tính riêng biệt độc đáo của Yêu ngôn trong loại truyện
truyền kì, ma quái đương thời
Yếu tố kì ảo không hề xa lạ với văn học Việt Nam từ xa xưa của
lịch sử cho tới bây giờ. Ngay từ lúc mới hiện diện, văn học Việt Nam đã gắn
liền với kì ảo: “Kì ảo là một trong những đặc trưng của truyện dân gian,
không có kì ảo thì không thể có truyện dân gian vậy” [50, tr55]. Khả năng
tiềm tàng của thần thoại, cổ tích là dưỡng chất nuôi dưỡng nền văn hóa hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
đại. Với tư cách là “văn hóa gốc”, nguồn mạch dân gian bất tận suốt bao đời
vẫn không ngừng nghỉ bồi đắp cho dòng chảy của văn học, đồng thời có vai
trò quan trọng trong việc tạo nên tâm thức cộng đồng dân tộc: gần gũi và có
xu hướng thiên về những cái kì lạ, khác thường, biểu hiện thế giới quan thần
linh, tư duy huyền thoại trong quan điểm của người sáng tác văn học mọi
thời đại. Bên cạnh đó, đặc điểm của một xã hội nông nghiệp phương Đông
là nơi “tràn đầy những màu sắc lãng mạn thần kì”, cũng là môi trường thuận
lợi để yếu tố kì ảo này sinh, trường tồn. Những truyện kì lạ, hoang tưởng
còn được nâng cánh bởi cái nhìn thế giới với một niềm tin hồn nhiên là có
sự tương thông, tương giao giữa người sống và người chết, giữa thế giới
thực tồn và thế giới siêu nhiên. Người ta xem những chuyện quái dị, hoang
đường là có thật. Niềm tin mang tính chât tâm linh vào những lực lượng
thần bí, siêu nhiên này đã góp phần tạo thành dòng tín ngưỡng ghi dấu ấn
sâu đậm vào mọi hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động sáng tạo
nghệ thuật. Nghĩa là trong mỗi con người Việt Nam hiện đại vẫn tiềm ẩn
một tâm hồn phương Đông cổ xưa, đây chính là cơ sở tạo ra “tầm đón đợi”
thuận lợi đối với bộ phận văn học tiếp cận cuộc sống bằng những yếu tố kì
lạ, siêu nhiên nói trên.
Thời kì văn học 1930 – 1945 vẫn tiếp tục dòng chảy kì ảo của văn
học truyền thống, với xu hướng thiên về những cái kì lạ, khác thường, với
những câu chuyện li kì, ma quái. Trong văn chương hiện đại đã hình thành
một kiểu tư duy nghệ thuật về cuộc sống không phải bằng chất liệu hiện
thực quen thuộc mà bằng cái kì ảo, hư ảo. Mỗi nhà văn mỗi vẻ, bằng tài
năng và sự sáng tạo của mình đã làm nên sự phong phú, đa dạng ở thể tài
này. Có thể kể tên những tác phẩm nổi bật: “Ba hồi kinh dị”; “Trại Bồ tùng
linh” của Thế Lữ , “Ai hát giữa rừng khuya” của Tchya , “Tiền kiếp” của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Đỗ Huy Nhiệm, “Kim Ba chí dị” của Kim Ba, “Suối Đàn” và “Truyện
đường rừng” của Lan Khai…
Truyện của Lan Khai chủ yếu hấp dẫn người đọc bằng màu sắc xứ
lạ phương xa, tạo cảm giác ghê rợn đối với người miền xuôi bằng một
không gian miền núi là rừng rú, là chốn sơn cùng thủy tận. Trong “Nhà văn
hiện đại”, Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Mặc dầu Lan Khai viết nhiều loại, từ
trước đến nay, ông chỉ đáng được nổi tiếng về tiểu thuyết đường rừng hơn
cả” [47, tr298]. Những truyện của ông đều là những truyện khác thường,
nếu không phải là hoang đường thì cũng là những việc, những người không
phải hàng ngày trông thấy. Chủ ý của nhà văn là “kích thích sự tò mò, trí
tưởng tượng của người đọc”, “khiến người ta ghê sợ về những cái bí hiểm
của rừng núi”.
Đi vào chốn non cao rừng thẳm của Lan Khai, ta gặp một thế giới
hoang sơ kì thú của Suối Đàn – một dòng suối thơ mộng như mối tình của
chàng trai thành phố với cô sơn nữ . Mối tình đẹp nhưng dang dở , người
con gái chết âm thầm như bông hoa héo rũ, trong cái vắng lặng của núi
rừng, để từ đó trong nỗi niềm thương nhớ não nùng, chàng trai luôn nghe
thấy trong âm thanh của suối, của rừng có khúc đàn ai oán, phảng phất nỗi
niềm oan ức của người trinh nữ rừng xanh…
Nếu Suối Đàn khiến người đọc tràn đầy cảm xúc về tâm hồn ngây
thơ chất phác của người sơn nữ bao nhiêu, thì trong Truyện đường rừng Lan
Khai lại làm cho người ta ghê sợ về những cái bí hiểm của rừng núi bấy
nhiêu. Đó là chốn ma thiêng nước độc, người mandi còn ở lẫn với thú dữ và
với… ma: nào là “Ma thuồng luồng”, nào là “Người hóa hổ”, nào là “Gò
thần”,…, chỉ những cái tên đọc lên đã gợi sự rùng rợn, kì quái.
Nếu Lan Khai “đưa người ta vào tận rừng thẳm, dắt người ta một
cách thân mật vào các gia đình Thổ Mán, và cho người ta được thấy những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
tâm tính kì dị” [47, tr 298] thì truyện của Tchya Đái Đức Tuấn lại hấp dẫn
bằng sự kì quái, ghê rợn với cốt truyện thần bí, phi thường: “Cái lối truyền
kì của ông là một lối thần quái, một lối quái đản như những truyện trong
“Liêu trai” trong “Truyền kì mạn lục”. Cái xã hội ma và xã hội người trong
tiểu thuyết của ông chỉ là một …”[47, 319].
Thần Hổ và Ai hát giữa rừng khuya của Tchya chính là những tập
“Liêu trai Việt Nam”, những tập viết riêng về vài loài yêu quái ở đường
rừng đất Việt chứ không phải về tất cả các loài yêu ma như của Bồ Tùng
Linh. Cái giống ma ở hai cuốn truyện thần quái của Tchya là ma trành và cái
loại thần trong đó là thần Hổ , những con hổ đã ăn thịt hàng trăm người,
trong tai nổi lên hàng trăm tia máu đỏ, nghe được ngàn dặm. Vị thần Hổ đây
là con hổ xám, hổ vàng, khi họp hội đồng cơ mật dưới gốc cây đại thụ, vị
thần Hổ thường trút bỏ bộ lông, biến thành một ông già đầu râu tóc bạc
đường bệ. Bị hổ vồ là có số, những kẻ bị giống mãnh thú ấy ăn thịt là đã có
tên trong quyển sổ do thần Hổ giữ - định mệnh ấy không sao trốn thoát
được. Cái họ Đèo trong Thần Hổ mà tất cả con cháu phải làm mồi cho hổ
chỉ vì ông tổ của họ đã dám phạm đến một con hổ già, làm nó chột một mắt
và tuyệt đường duy trì nòi giống. Sự báo thù thật là ghê gớm, tất cả con cháu
họ Đèo khi đã sa vào nanh vuốt hổ, người nào cũng bị móc mất một mắt và
cắn xé mất hạ bộ. Thần Hổ ra oai và gieo vạ cho cả dòng giống những người
đã dám phạm đến thần.
Bọn ma trành phải hầu hạ thần Hổ rất khổ sở. “Ma trành là những
thứ ma bất đắc kì tử, hoặc bị hổ ăn, hoặc bị dìm đuối hoặc vì thắt cổ, hoặc vì
bị chẹt xe… Chết như thế thì linh hồn vất vưởng bị đầy đọa không đi đầu
thai được mà không được tự do. Nếu muốn thoát khỏi vòng kìm hãm, cũng
phải tìm kẻ thế cho mình. Nếu không thì mãi mãi, mình sẽ phải làm ma
trành, đói khát khổ sở”. Muốn có kẻ thế chân mình, họ phải run rủi những kẻ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
có số bị hổ vồ vào nanh vuốt thần Hổ để họ được sống cái đời ma độc lập,
gần gụi với gia đình, với họ mạc.
Cả truyện Thần Hổ và Ai hát giữa rừng khuya đều thuộc loại
truyện ma quái, truyền kì được xây dựng và hư cấu trên những mẩu chuyện
truyền kì ở miền núi. “Những tình tiết li kì trần tục xen lẫn sắc thái hoang
đường thần thoại, tao nên một câu chuyện kích thích mạnh trí tưởng tượng
và giác quan người đọc. Đằng sau câu chuyện li kì, bí hiểm và ghê rợn về
mối quan hệ người – mãnh thú, người – ma là dấu vết của một thế giới quan
thơ mộng và mông muội còn lưu giữ lại”. Tất cả đã tạo nên sự hấp dẫn riêng
trong những truyện đường rừng của Tchya.
Khác với truyện của Lan Khai, của Tchya hấp dẫn người đọc bằng
lối truyện đường rừng hoang sơ kì thú và bí hiểm, truyện của Nguyễn Tuân
lại cuốn hút độc giả bằng những nét lãng mạn riêng, giàu chất thẩm mĩ,
chất văn hóa, nhân bản: “Ông là một nhà văn đứng hẳn ra một phái riêng,
cả về lối văn lẫn về tư tưởng” [47, tr 415]. Yêu ngôn là tác phẩm như thế.
1.1.2. Một thể tài độc đáo trong toàn bộ sáng tác Nguyễn Tuân.
Vang bóng một thời là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Tuân được Vũ
Ngọc Phan đánh giá là “một văn phẩm gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ” [47, tr
415].Vang bóng một thời khơi lại đống tro tàn của một quá khứ chưa xa, tác
phẩm thể hiện sự nuối tiếc cái đẹp với những con người, lối sống, thú chơi
của một thời. Đó là các cụ nghè, cụ cử, cụ tú, lớp nho sĩ cuối mùa với những
sinh hoạt cầu kì, những thú chơi tiêu dao, nhàn tản và qua đó tái hiện nhiều
nét văn hóa của người Việt. Ở tập truyện ngắn này, người ta đã thấy rõ tài
năng và phong cách của Nguyễn Tuân: phóng túng-tài hoa-uyên bác.
Đọc Yêu ngôn, có thể nhận thấy những nét quen thuộc, gần gũi
trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân mà ta đã gặp trong Vang bóng
một thời và những tác phẩm về sau này. Vẫn là một Nguyễn Tuân nhạy cảm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
với cái đẹp và nhìn sự vật nghiêng về góc độ thẩm mĩ, vẫn là những con
người tài hoa nghệ sĩ như thuở một thời vang bóng: những người thợ mộc
Chàng Thôn với đôi tay tài nghệ được chúa Ngàn Thiêng vời lên sửa đền ở
chốn non cao thần tiên ( Trên đỉnh non Tản ); một Bá Nhỡ - kẻ dám đi đến
tận cùng của nghệ thuật, dùng mạng mình để đổi lấy tiếng đàn đạt tới tuyệt
đỉnh nghệ thuật (Tâm sự của nước độc – Chùa Đàn ); một Bố Ô – vua lưu
linh sống trong rượu và chết cũng trong rượu ( Rượu bệnh – Bố Ô )… Nếu
trong Vang bóng một thời, ta gặp những nếp sinh hoạt và thú chơi cầu kì mà
thanh đạm, tao nhã: uống trà, uống rượu Thạch Lan Hương, đánh thơ, thả
thơ, chơi chữ… thì trong Yêu ngôn, vẫn là những lối sống, những thú chơi
cầu kì tao nhã ấy: một người chủ đồn điền nhưng lại có cái “cốt tài tử” say
mê những bức cổ họa, sẵn sàng bỏ ra rất nhiểu tiền để có được bức họa vẽ
tướng Hàn Kỳ ngồi đọc binh thư bên ngọn bạch lạp; anh em ông Đầu xứ
Anh, Đầu xứ Em nổi danh về tài học vẫn mải miết với nghiệp đèn sách thi
cử dẫu biết rằng có thể bị hồn ma báo oán giữa trường thi (Khoa thi cuối
cùng )…
Đọc Yêu ngôn, vẫn gặp những cảnh sắc, những đồ vật quen thuộc
của một thời: vùng Sơn Nam hạ mùa thi cử hoa hòe nở vàng ( Khoa thi cuối
cùng ), những cửa ô thân thuộc của chốn kinh kì ( Rượu bệnh ), những roi
chầu, đàn đáy, tiếng tơ tiếng trúc (Chùa Đàn)… có nghĩa là vẫn là văn
Nguyễn Tuân, kiến thức Nguyễn Tuân, mảnh hồn Nguyễn Tuân in hằn một
dấu triện riêng không thể lẫn.
Là con người luôn thèm khát những cảm giác mới lạ và mãnh liệt
“Tôi muốn mỗi ngày trong cuộc sống của tôi phải cho tôi cái say của rượu
tối tân hôn”, những cảm giác ấy “Nguyễn Tuân không thể tìm được trong
cái môi trường vẫn vây bọc lấy ông trong cuộc sống hàng ngày, phải đi tìm
một thế giới khác để được sống mãnh liệt, nồng nàn, cuồng nhiệt, phát huy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
tận độ cá tính của mình” [63, tr 9]. Nhà văn tìm cách vượt, phóng thoát hoàn
toàn khỏi hiện thực bằng sự đẩy xa đến cùng sức tưởng tượng và cảm hứng
lãng mạn. Ông tìm đến một thế giới khác, một hiện thực khác để sống mãnh
liệt hơn, thế giới của cõi âm, cõi ma, thế giới của Yêu ngôn.
Không phải đến Yêu ngôn mà ngay trong một số truyện khác của Nguyễn
Tuân đã mang màu sắc huyền kì. Trong tập Vang bóng một thời, các truyện
Trên đỉnh non Tản và Khoa thi cuối cùng ( Báo oán ) được tuyển chọn vào Yêu
ngôn bởi “có màu sắc huyền kì, ma quái” [3 ,tr 917]. Bên cạnh đó, các truyện
Tóc chị Hoài, Chém treo ngành, Vườn xuân lan tạ chủ đã có một chút màu sắc
kì ảo phi thường. Tóc chị Hoài (1942) “đứng riêng như một thử nghiệm tiểu
thuyết mới của Nguyễn Tuân những năm 1940” [54, tr7]. Chị Hoài là “một
nhân vật hư cấu hư không, chị có mà không, chị không mà có”. Như tất cả
những nhân vật tiểu thuyết thông thường, “chị Hoài là một người chị tôi
mượn của cuộc đời bừa bộn những oan trái”, chị Hoài cộng hưởng những ảo
ảnh đớn đau của người nghệ sĩ. “Chị Hoài, ảo ảnh vô hình, chị không có thật
nhưng hồn chị, tóc chị là thật. Chỉ có tôi đang nói chuyện với một mớ tóc
mây. Chỉ có hai ngón tay chị Hoài đang nói chuyện với những sợi chỉ tơ
thâm một mớ tóc xõa. Gian nhà có hai người, lặng mà không vắng. Thế rồi
trong cái hiu quạnh tay đôi ấy, khe khẽ nổi lên giọng kể chuyện Nhị Độ
Mai, khẽ một cách rất mơ hồ thủ thỉ. Lòng tôi vụt trở nên thương nhớ thăm
thẳm gấp mấy giọng hát u hoài… Trong giây phút, đặt sách vào lòng, tôi
thấy nhộn nhạo trong lồng ngực và ước muốn được làm ngay cái anh chàng
Mai Sinh kia” [56, tr 657]. “Chất huyền ảo của Nguyễn Tuân bắt đầu từ đây,
từ mái tóc lãng mạn của chị Hoài, trước khi rẽ sang ngả kinh dị của yêu
ngôn” [14, tr 8].
Ở Bữa rượu máu, tác giả đã vẽ một cảnh rùng rợn của pháp trường.
Bát Lê, tay đao phủ có tài chém người rất ngọt đang luyện lại đường đao
Ứng dụng Marketing - Mix nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nâng cao hiệu quả của Công ty vật tư Bưu điện I
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Chơng I
ý nghĩa của marketing Mix trong việc thúc đẩy
công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
I) Khái niệm chung về marketing Mix tiêu thụ sản phẩm
1) Một số khái niệm
1.1 Khái niệm về Marketing Mix.
Marketing Mix là tập hợp những nhân tố biến động kiểm soát đợc của
Marketing mà công ty sử dụng để cố gắng gây đợc phản ứng mong muốn từ thị
trờng. Marketing Mix bao gồm tất cả những gì mà công ty có thể vận dụng
tác động lên nhu cầu về sản phẩm của mình. Có thể tập hợp rất nhiều khả năng
thành các nhóm : sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến khuyếch trơng.
Sản phẩm, theo Philip Kotle thì sản phẩm (hàng hoá) là tổng hợp mọi sự
thoả mãn nhu cầu hay mong muốn của ngời tiêu dùng và đợc bán trên thị trờng
với mục đích thu hút sự chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng của họ. Đó có thể là
những vật thể hữu hình, dịch vụ, mặt bằng, tổ chức và ý tởng.
Giá cả: là tổng số tiền mà ngời tiêu dùng phải trả để có đợc quyền sở hữu
hay quyền sử dụng sản phẩm.
Phân phối: là hoạt động để sản phẩm dẽ dàng đến tay ngời tiêu dùng.
Xúc tiến: là những hoạt động của công ty nhằm truyền bá những thông
tin về u điểm của sản phẩm do mình sản xuất và thuyết phục khách hàng mua
chúng.
1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm
Bất kỳ sản phẩm nào đợc tung ra thị trờng đều không thể tồn tại mãi mãi
ở thị trờng đó, theo thời gian sản phẩm đó giảm dần doanh số bán và rút khỏi
thị trờng. Quá trình từ khi sản phẩm xuất hiện trên thị trờng đến khi nó rút ra
khỏi thị trờng đó đợc gọi là chu kỳ sống của sản phẩm và đợc biểu diễn qua đồ
thị phản ánh doanh số bán nh sau :
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Sơ đồ 1
Chu kỳ sống của sản phẩm đợc phản ánh thông qua 4 pha : pha triển khai
(giai đoạn tung ra thị trờng), pha tăng trởng (giai đoạn phát triển), pha bão hoà
(giai đoạn chín muồi), pha suy thoái (giai đoạn suy thoái).
1.3 Tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là việc cung cấp các sản phẩm (hàng hoá) đến tay ng-
ời tiêu dùng để thoả mãn những nhu cầu của họ. Nó bao gồm tổng thể các biện
pháp về mặt kinh tế, tổ chức và kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu thị tr-
ờng tổ chức sản xuất và bán sản phẩm theo yêu cầu của thị trờng.
Từ khái niệm về sản phẩm đã nêu thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm cha kết
thúc khi giao hàng cho khách hàng và đợc họ chấp nhận trả tiền (chấp nhận nợ)
nh quan điểm kế toán mà nó còn tiếp tục đến khi hoàn tất các dịch vụ sau bán
hàng.
1.4 Kênh phân phối
Kênh phân phối là tập hợp các công ty hay cá nhân tự gánh vác hay giúp
đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu hay quyền sử dụng đối với một
hàng hoá cụ thể hay dịch vụ trên con đờng từ nhà sản xuất đến ngời tiêu dùng.
Kênh phân phối đợc phân thành các loại theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2
T1
T2 T3
T
TR
Sơ đồ chu kỳ sống của sản phẩm
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Các kênh phân phối có các chức năng sau:
- Nghiên cứu thu thập thông tin để lập kế hoạch và tạo thuận lợi cho tiêu
thụ sản phẩm.
- Kích thích tiêu thụ : soạn thảo truyền bá những thông tin về sản phẩm.
- Thiết kế mối liên hệ: tạo dựng và duy trì mối quan hệ với ngời mua tiềm
ẩn.
- Hoàn thiện sản phẩm: làm sản phẩm đáp ứng đợc yêu cầu của khách
hàng.
-Thơng lợng : thoả thuận với nhau về giá cả và những điều kiện khác để
thực hiện bớc tiếp theo là chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng.
- Tổ chức lu thông hàng hoá : vận chuyển bảo quản và dự trữ.
- Đảm bảo kinh phí : tìm kiếm và sử dụng các nguồn vốn để bù đắp các
chi phí hoạt động của kênh.
- Chấp nhận rủi ro : gánh chịu trách nhiệm về hoạt động của kênh tiêu
thụ.
2) Vai trò của Marketing đối với tiêu thụ sản phẩm.
Mục đích của Marketing là tìm kiếm và làm mọi cách để thoả mãn nhu
cầu của ngời tiêu dùng. Marketing tác động tiêu thụ thông qua sự định hớng và
thúc đẩy bán hàng.
Người
sản
xuất
Người
tiêu
dùng
Bán lẻ
Bán buôn
Bán buôn
lớn
Bán buôn
nhỏ
Bán lẻ
Bán lẻ
Cấp 0
1 cấp
2 cấp
3 cấp
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Marketing tìm kiếm các nhu cầu thị trờng đặc biệt là các thị trờng tiềm
năng, phân tích các nhu cầu đó và xem xét những nhân tố ảnh hởng đến quyết
định mua hàng của ngời tiêu dùng, đồng thời cũng trên thị trờng đó Marketing
phát hiện và tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh : các mục tiêu chiến lợc, điểm
mạnh, điểm yếu và phản ứng của họ. Từ những dữ liệu thu đợc nhà quản trị sẽ
xây dựng các chính sách Marketing-mix : chính sách sản phẩm, chính sách
phân phối, chính sách giá cả, chính sách xúc tiến khuyếch trơng nhằm định h-
ớng cho công tác tiêu thụ sản phẩm.
Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thông qua việc lôi kéo khách hàng tham gia
vào các kênh phân phối bằng các hoạt động xúc tiến khuyếch trơng.
Chính sách sản phẩm là định hớng cho hoạt động sản xuất tạo nguồn
hàng cho tiêu thụ.
Chính sách giá sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ nhân viên bán hàng
và phát huy tính linh hoạt của họ trong quá trình hoạt động. Nếu chính sách giá
linh động sẽ thu hút các trung gian tham gia vào các kênh phân phối.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung vai trò của Marketing rất mờ
nhạt vì mọi hoạt động tiêu thụ sản phẩm đều do Nhà nớc điều khiển từ việc bán
cái gì, bán cho ai và ở đâu đến việc bán nh thế nào. doanh nghiệp chỉ việc sản
xuất và cung cấp sản phẩm theo sự chủ đạo ssó mà không cần phải lo lắng về số
phận của sản phẩm đó sẽ ra sao. Trong nền kinh tế thị trờng mọi quyết định về
sản xuất kinh doanh đều thuộc về phía doanh nghiệp, trên thị trờng các doanh
nghiệp này tự tìm con đờng sống cho mình, cạnh tranh là tất yếu. Lúc đó
Marketing có vai trò không thể thiếu đợc trong các quyết định quản trị.
3) Các nhân tố ảnh hởng đến tiêu thụ sản phẩm trong các doanh
nghiệp
Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng đều
chịu sự tác động của các nhân tố từ môi trờng kinh doanh. Có rất nhiều nhân tố
ảnh hởng đến tiêu thụ sản phẩm, dới đây chỉ nêu lên một số nhân tố chủ yếu :
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
3.1 Năng lực sản xuất của doanh nghiập
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp là khả năng để đạt đợc mức sản lợng
nhất định mà thờng đợc hiểu là số lợng sản phẩm đợc sản xuất ra trong một
khoảng thời gian cụ thể. Trong thực tế khái niêm này rất phức tạp và rộng. Năng
lực sản xuất đợc xác định thông qua việc kết hợp phức tạp các nguồn lực của
doanh nghiệp để đạt đợc mức sản lợng cao nhất cho nên có thể coi năng lực sản
xuất là giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp. Vì vậy nó liên quan trực
tiếp đến chất lợng và số lợng sản phẩm đợc sản xuất ra (năng suất lao động).
Năng lực sản xuất ảnh hởng đến tiêu thụ sản phẩm thông qua việc đảm
bảo cung cấp đúng, đủ về số lợng, chất lợng và thời gian phù hợp nhằm thoả
mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng và tạo ra uy tín, lợi thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
3.2 Khách hàng
Đây là đối tợng phục vụ của doanh nghiệp, khách hàng là ngời quyết
định số phận của sản phẩm trên thị trờng. Khái niệm khách hàng đợc đề cập đến
ở đây có thể là ngời tiêu dùng cá nhân, có thể là các cơ quan, đơn vị, các nhà
sản xuất hoặc các nhà phân phối. Số lợng khách hàng là nhân tố ảnh hởng cùng
chiều với số lợng tiêu thụ: nếu trên thị trờng đông đảo khách hàng thì khối lợng
sản phẩm luân chuyển lớn và ngợc lại.
Khách hàng là ngời tiêu dùng cá nhân chịu tác động của nhiều nhân tố
nh văn hoá, chính trị, phong tục tập quán, tâm lý tuy nhiên khi đề cập đến
khái niệm cầu thì phải hội đủ hai yếu tố : có khả năng mua (thu nhập) và sẵn
sàng mua (mức độ thoả mãn nhu cầu). Vì vậy yếu tố quyết định ở đây là thu
nhập của dân c và chất lợng sản phẩm. Còn khách hàng là các cơ quan đơn vị
thì yếu tố quyết định lại là chất lợng sản phẩm, ngời phân phối lại quan tâm đến
những khoản lợi mà họ thu đợc khi tham gia các kênh tiêu thụ.
3.3 Các đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh tạo ra sự sôi động của thị trờng, làm cho mức độ
cạnh tranh tăng thêm tính gay gắt. Các hãng cùng tham gia vào một thị trờng có
ảnh hởng rất lớn đến các mục tiêu chiến lợc, cách thức kinh doanh của nhau.
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Khi có nhiều sự gia nhập mới doanh nghiệp phải xem xét lại các mục
tiêu của mình, mỗi hoạt động của đối thủ phải đợc xem xét một các kỹ lỡng từ
đó vạch ra đờng đi cho mình. Doanh nghiệp sẽ phản ứng ra sao nếu đối thủ hạ
giá bán hay tăng chi phí quảng cáo. Cả hai hành động đó đều có nguy cơ làm
giảm thị phần của doanh nghiệp. Với mỗi hành động nh thế doanh nghiệp có
thể phòng thủ đến cùng có thể phản công dữ dội hay yên lặng nghe ngóng.
3.4 Các nhân tố vĩ mô
ảnh hởng của nhân tố này là tạo ra sự thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động
tiêu thụ. Nó kìm hãm khi tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp, khi nó
không phù hợp với các qui luật tự nhiên chẳng hạn nhân tố luật pháp nếu có
không đồng bộ, không chặt chẽ sẽ gây sự bất ổn của thị trờng. Nó thúc đẩy khi
tạo ra những thuận lợi cho doanh nghiệp .
ii) Nội dung của tiêu thụ sản phẩm
Nội dung quan trọng nhất của Marketting là định hớng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh, trong tiêu thụ sản phẩm nó tìm cách làm thế nào để bán đợc
hàng. Vì vậy trong phần này khi đề cập đến nội dung của tiêu thụ sản phẩm ta
xem xét các vấn đề : Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra kiểm soát
và điều chỉnh. Trong đó công tác xây dựng kế hoạch có vai trò quyết định đến
hiệu quả của tiêu thụ sản phẩm.
1) Xây dựng kế hoạch
Thực chất đây là việc xây dựng các chính sách Marketing-mix : chính
sách sản phẩm, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến khuyếch trơng và
chính sách giá cả, thông qua việc thu thập phân tích và xử lý các thông tin từ
môi trờng kinh doanh và bản thân doanh nghiệp.
1.1 Nghiên cứu thị trờng
Nghiên cứu thị trờng là sự nhận thức một cách có khoa học, có hệ thống
mọi nhân tố tác động của thị trờng mà doanh nghiệp phải tính đến khi đa ra các
quyết định của mình. Nó tạo ra các thông tin cần thiết về các ảnh hởng của thị
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
trờng với việc tiêu thụ sản phẩm, làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách
Marketing-mix. Mục tiêu của nghiên cứu thị trờng là đánh giá thực trạng từ đó
dự báo xu hớng tơng lai của cung và cầu.
Trong cuốn The Renewal Factor của Robert Waterman nói rằng : một
nhà quản trị giỏi là ngời biết nghi nhờ các số liệu dự báo và tạo ra sự đột biến,
họ là ngời có cơ hội nắm bắt và hiểu rõ thị trờng thông qua việc phân tích hai
nhân tố cung câù.
a) Phân tích cầu
Mục đích là đa ra những dự báo về cầu trong tơng lai từ việc phân tích
cầu và nhu cầu hiện tại cùng các nhân tố ảnh hởng đến quyết định mua của
khách hàng.
Cầu là sự hội tụ của hai điều kiện sẵn sàng mua và có khả năng mua.
Mức độ sẵn sàng mua phụ thuộc vào việc sản phẩm đó thoả mãn đến mức độ
nào nhu cầu của ngời tiêu dùng. Đặc trng của ngời tiêu dùng là họ muốn nhiều
hơn ít, họ dành nhiều tình cảm cho những sản phẩm có chất lợng cao (những
sản phẩm thoả mãn tốt nhu cầu của họ).
Hầu hết những ngời nội trợ đợc hỏi đều cho biết họ tích những chiếc tủ
lạnh của Elextroluxx, ai đi trên đờng Kim Mã cũng đều mong muốn đợc một
lần ơ trong khách sạn Daewoo.
Các cô cậu học trò thích trng diện những chiếc quần bò mác "Kavin
Klein" nhng không phải tất cả họ đều đợc thoả mãn mong ớc của mình bởi các
sản phẩm này giá thờng rất cao trong khi khả năng tải chính của họ lại có hạn.
b) Phân tích cung (các đối thủ cạnh tranh)
Binh pháp Tôn Tử viết biết mình biết ngời đánh trăm trận trăm thắng,
việc phân tích các đối thủ cạnh tranh chính là tìm cách để biết ngời, những ngời
đang và sẽ cung cấp các sản phẩm giống nh của doanh nghiệp trên thị trờng,
những ngời cũng đang tìm mọi cách để hiểu ngời khác, hiểu thị trờng nh mình.
Tất cả những việc cần làm là tìm hiểu xem đối thủ của mình là ai ? chiến
lợc của họ nh thế nào ? đâu là điểm mạnh, điểm yếu của họ ? và cách thức họ
phản ứng ra sao ?
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Có nhiều ngời cho rằng việc phát hiện các đối thủ cạnh tranh là một
nhiệm vụ đơn giản, dễ dàng thấy đợc rằng trên thị trờng nớc giải khát không chỉ
có Coca cola mà còn pepsi và nhiều hàng khác, không khí có song mà rất nhiều
hãng nh Toshiba, Samsung, Daewoo cung cấp các sản phẩm điện tử.
Những đối thủ dẫ thấy chỉ là những đối thủ hiện tại còn các đối thủ tiềm
ẩn thì việc phát hiện ra họ không dễ dàng chút nào, chẳng khác gì ngời ta đứng
ở chỗ sáng tìm một vật trong bóng tối. Nhiệm vụ của ngời Marketing là phải
vén bức màn tối đó, đây là công việc rất quan trọng và tốn kém.
1.2 Đánh giá năng lực của sản suất doanh nghiệp.
Phần trớc chúng ta đã đề cập đến công việc của doanh nghiệp làm để biết
ngời, bây giờ là phần doanh nghiệp tìm cách để biết mình thông qua đánh giá
năng lực sản xuất.
a) Đánh giá năng lực sản xuất hiện có.
Đánh giá năng lực sản xuất hiện có là tiền đề để các nhà quản trị gia các
quyết đinh quản trị tác nghiệp và kế hoạch sản phẩm, trớc hết ta phải xác định
đợc các nguồn lực hiện có và các nguồn khai thác các nguồn lực đó.
Khi đề cập đến năng lực sản xuất của doanh nghiệp nhiều ngời cho rằng
đó là các yếu tố đầu vào của các quá trình sản xuất (các vật thể hữu hình) nh :
lao động, vốn, đất đai, công nghệ. Nhng thực tế không hoàn toàn nh vậy, ngoài
các nguồn lực hữu hình đó còn có các nguồn lực vô hình mà nhiều khi nó đóng
vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp nó có thể là danh
tiếng, lợi thế thơng mại lợi thế vị trí
Nhiều ngời thích tiêu dùng sản phẩm của Sony vì tiếng tăm của nó,coca
cola nổi tiếng vì họ có bí mật của quá trình lên mem hay nhà máy bia Hà Nội
có nguồn nớc quý giá mà nhiều doanh nghiệp rợu bia hkác thèm muốn Đó là
những cái tạo cho doanh nghiệp một sự khởi đầu thuận lợi (các lợi thế).
b) Dự đoán yêu cầu tăng thêm năng lực sản xuất mới.
Tất cả các kế hoạch hay chiến lợc của doanh nghiệp đều nằm trong giới
hạn của nguồn lực tài chính. Trong ngắn hạn, việc dự đoán nhu cầu tăng thêm
năng lực sản xuất mới dựa trên các dự báo cầu của thị trờng về sản phẩm của
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
mình, các nhà quản trị xẽ ớc tính mức sản lợng cần sản xuất để đáp ứng nhu cầu
đó. Họ sẽ so sánh với mức sản lợng đợc sản xuất bằng năng lực sản xuất hiện
hành để xây dựng lơng tăng thêm năng lực sản xuất mới.
Trong thời hạn, dự đoán nhu cầu tăng thêm năng lực sản xuất mới chỉ
nằm ở tầm chiến lợc với các chỉ tiêu chung trên cơ sở các mục tiêu chiến lợc
của doanh nghiệp. Đây là một công việc phức tạp nhằm tạo hớng đi cho doanh
nghiệp, ngời ta quan tâm chủ yếu tới các nguồn khai thác đầu t vào.
Đánh giá năng lực sản xuất xẽ giúp cho doanh nghiệp nhận rõ đợc vị trí
của mính so với các đối thủ cạnh tranh để từ đó đa ra các chính sách phù hợp
với vị trí của mình, tránh tình trạng đề ra các mục tiêu không thể thực hiện đợc.
1.3 Phân tích mạng lới tiêu thụ.
Việc tiêu thụ sản phẩm đạt kết quả ở mức độ nào không chỉ phụ thuộc
vào các yếu tố cung cấp sản phẩm trên thị trờng mà còn phụ thuộc rất lớn vào
việc tổ chức mạng lới tiêu thụ chúng. Phân tích mạng lới tiêu thụ sản phẩm sẽ
giúp doanh nghiệp thấy rõ u nhựơc điểm cả từng kênh tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp
doanh nghiệp thấy rõ u nhợc điểm của từng kênh tiêu thụ thông qua đánh giá
việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch và khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thi tr-
ờng của từng kênh đó. Để từ đó trong công tác xây dựng kế hoạch doanh nghiệp
sẽ quyết định thay đổi, điều chỉnh các kênh đó hay không ? có nên thiết lập các
kênh mới hay không ? và thiếp lập nh thế nào ? có một số khó khăn gặp phải
khi đánh giá hiệu quả của từng kênh là các kết quả đạt đợc chịu sự ảnh hởng
của nhiều nhân tố đòi hỏi ngời phân tính phải lợng hoá chúng mà việc này
không dễ dàng chút nào. Trong thực tế nhiều khi các kênh tiêu thụ lại có vai trò
thúc đẩy lẫn nhau, việc duy trì một kênh này chỉ nhằm để hỗ trợ cho các kênh
khác.
Sau khi có đầy đủ các thông tin cần thiết về thị trờng và doanh nghiệp,
các nhà quản trị sẽ đề ra các mục tiêu cần đạt đợc trong việc tiêu thụ sản phẩm
và xây dựng hệ thống chính sách Marketing Mix : chính sách sản phẩm,
chính sách phân phối, chính sách giá cả và chính sách xúc tiến khuyếch trơng.
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Chính sách sản phẩm đòi hỏi phải thông qua những quyết định phù hợp
với nhau về từng đơn vị sản phẩm, chủng loại sản phẩm và danh mục sản phẩm .
Sản phẩm chào bán cho ngời tiêu dùng đợc xem xét dới mức độ ba mức :
Sản phẩm theo ý tởng dự án - đó là dịch vụ cơ bản mà thực tế ngời mua
có đợc. Sản phẩm thực là sản phẩm đợc đem ra bán với tính chất, cấu hình bên
ngoài, chất lợng nhất định, tên và bao gói. Sản phẩm hoàn chỉnh là sản phẩm
hiện thực kèm theo các dịch vụ bán hàng. Ngày nay ngời ta quan tâm nhiều đến
khái niệm sản phẩm hoàn chỉnh vì vậy trong chính sách sản phẩm cần phải
quyết định các hình thức dịch vụ, cách thực hiện và mức độ thực hiện các dịch
vụ đó.
Ngoài ra, trong chính sách sản phẩm quyết định việc thiết kế sản phẩm
mới cũng là một quyết định quan trọng vì nó liên quan đến việc đổi mới trong
doanh nghiệp. Khi đa ra quyết định này cần phải cân nhắc kỹ lỡng dựa trện các
kết quả nghiên cứu thị trờng vì nó mang tính rủi ro cao.
Chính sách phân phối : Những quyết định về lựa chọn các kênh phân
phối là những quyết định trong số các quyết định quan trọng và phức tạp nhất
mà doanh nghiệp phải thông qua. Mỗi kênh đợc đặc trng bởi mức tiêu thụ và chi
phí của nó. Sau khi chọn kênh Marketing cụ thể, doanh nghiệp phải sử dụng nó
trong một thời gian khá dài.
Chính sách giá cả : Việc xác định giá cả cho hàng hoá là một quá trình
bao gồm 6 giai đoạn :
1. Doanh nghiệp xác định kỹ các mục tiêu của mình;
2. Xây dựng đồ thị đờng cầu thể hiện số lợng hàng hoá chắc chắn xẽ bán
đợc trong một thời gian nhất định;
3. Tính toán xem tổng chi phí của mình thay đổi nh thế nào khi mức sản
xuất khác nhau;
4. Nghiên cứu giá cả các đối thủ cạnh tranh;
5. Lựa chọn cho mình một phơng pháp phân tích giá thích hợp;
6. Quyết định giá cuối cùng cho hàng hoá.
2) Tổ chức tiêu thụ
doanh
Chơng I
ý nghĩa của marketing Mix trong việc thúc đẩy
công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
I) Khái niệm chung về marketing Mix tiêu thụ sản phẩm
1) Một số khái niệm
1.1 Khái niệm về Marketing Mix.
Marketing Mix là tập hợp những nhân tố biến động kiểm soát đợc của
Marketing mà công ty sử dụng để cố gắng gây đợc phản ứng mong muốn từ thị
trờng. Marketing Mix bao gồm tất cả những gì mà công ty có thể vận dụng
tác động lên nhu cầu về sản phẩm của mình. Có thể tập hợp rất nhiều khả năng
thành các nhóm : sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến khuyếch trơng.
Sản phẩm, theo Philip Kotle thì sản phẩm (hàng hoá) là tổng hợp mọi sự
thoả mãn nhu cầu hay mong muốn của ngời tiêu dùng và đợc bán trên thị trờng
với mục đích thu hút sự chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng của họ. Đó có thể là
những vật thể hữu hình, dịch vụ, mặt bằng, tổ chức và ý tởng.
Giá cả: là tổng số tiền mà ngời tiêu dùng phải trả để có đợc quyền sở hữu
hay quyền sử dụng sản phẩm.
Phân phối: là hoạt động để sản phẩm dẽ dàng đến tay ngời tiêu dùng.
Xúc tiến: là những hoạt động của công ty nhằm truyền bá những thông
tin về u điểm của sản phẩm do mình sản xuất và thuyết phục khách hàng mua
chúng.
1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm
Bất kỳ sản phẩm nào đợc tung ra thị trờng đều không thể tồn tại mãi mãi
ở thị trờng đó, theo thời gian sản phẩm đó giảm dần doanh số bán và rút khỏi
thị trờng. Quá trình từ khi sản phẩm xuất hiện trên thị trờng đến khi nó rút ra
khỏi thị trờng đó đợc gọi là chu kỳ sống của sản phẩm và đợc biểu diễn qua đồ
thị phản ánh doanh số bán nh sau :
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Sơ đồ 1
Chu kỳ sống của sản phẩm đợc phản ánh thông qua 4 pha : pha triển khai
(giai đoạn tung ra thị trờng), pha tăng trởng (giai đoạn phát triển), pha bão hoà
(giai đoạn chín muồi), pha suy thoái (giai đoạn suy thoái).
1.3 Tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là việc cung cấp các sản phẩm (hàng hoá) đến tay ng-
ời tiêu dùng để thoả mãn những nhu cầu của họ. Nó bao gồm tổng thể các biện
pháp về mặt kinh tế, tổ chức và kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu thị tr-
ờng tổ chức sản xuất và bán sản phẩm theo yêu cầu của thị trờng.
Từ khái niệm về sản phẩm đã nêu thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm cha kết
thúc khi giao hàng cho khách hàng và đợc họ chấp nhận trả tiền (chấp nhận nợ)
nh quan điểm kế toán mà nó còn tiếp tục đến khi hoàn tất các dịch vụ sau bán
hàng.
1.4 Kênh phân phối
Kênh phân phối là tập hợp các công ty hay cá nhân tự gánh vác hay giúp
đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu hay quyền sử dụng đối với một
hàng hoá cụ thể hay dịch vụ trên con đờng từ nhà sản xuất đến ngời tiêu dùng.
Kênh phân phối đợc phân thành các loại theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2
T1
T2 T3
T
TR
Sơ đồ chu kỳ sống của sản phẩm
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Các kênh phân phối có các chức năng sau:
- Nghiên cứu thu thập thông tin để lập kế hoạch và tạo thuận lợi cho tiêu
thụ sản phẩm.
- Kích thích tiêu thụ : soạn thảo truyền bá những thông tin về sản phẩm.
- Thiết kế mối liên hệ: tạo dựng và duy trì mối quan hệ với ngời mua tiềm
ẩn.
- Hoàn thiện sản phẩm: làm sản phẩm đáp ứng đợc yêu cầu của khách
hàng.
-Thơng lợng : thoả thuận với nhau về giá cả và những điều kiện khác để
thực hiện bớc tiếp theo là chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng.
- Tổ chức lu thông hàng hoá : vận chuyển bảo quản và dự trữ.
- Đảm bảo kinh phí : tìm kiếm và sử dụng các nguồn vốn để bù đắp các
chi phí hoạt động của kênh.
- Chấp nhận rủi ro : gánh chịu trách nhiệm về hoạt động của kênh tiêu
thụ.
2) Vai trò của Marketing đối với tiêu thụ sản phẩm.
Mục đích của Marketing là tìm kiếm và làm mọi cách để thoả mãn nhu
cầu của ngời tiêu dùng. Marketing tác động tiêu thụ thông qua sự định hớng và
thúc đẩy bán hàng.
Người
sản
xuất
Người
tiêu
dùng
Bán lẻ
Bán buôn
Bán buôn
lớn
Bán buôn
nhỏ
Bán lẻ
Bán lẻ
Cấp 0
1 cấp
2 cấp
3 cấp
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Marketing tìm kiếm các nhu cầu thị trờng đặc biệt là các thị trờng tiềm
năng, phân tích các nhu cầu đó và xem xét những nhân tố ảnh hởng đến quyết
định mua hàng của ngời tiêu dùng, đồng thời cũng trên thị trờng đó Marketing
phát hiện và tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh : các mục tiêu chiến lợc, điểm
mạnh, điểm yếu và phản ứng của họ. Từ những dữ liệu thu đợc nhà quản trị sẽ
xây dựng các chính sách Marketing-mix : chính sách sản phẩm, chính sách
phân phối, chính sách giá cả, chính sách xúc tiến khuyếch trơng nhằm định h-
ớng cho công tác tiêu thụ sản phẩm.
Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thông qua việc lôi kéo khách hàng tham gia
vào các kênh phân phối bằng các hoạt động xúc tiến khuyếch trơng.
Chính sách sản phẩm là định hớng cho hoạt động sản xuất tạo nguồn
hàng cho tiêu thụ.
Chính sách giá sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ nhân viên bán hàng
và phát huy tính linh hoạt của họ trong quá trình hoạt động. Nếu chính sách giá
linh động sẽ thu hút các trung gian tham gia vào các kênh phân phối.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung vai trò của Marketing rất mờ
nhạt vì mọi hoạt động tiêu thụ sản phẩm đều do Nhà nớc điều khiển từ việc bán
cái gì, bán cho ai và ở đâu đến việc bán nh thế nào. doanh nghiệp chỉ việc sản
xuất và cung cấp sản phẩm theo sự chủ đạo ssó mà không cần phải lo lắng về số
phận của sản phẩm đó sẽ ra sao. Trong nền kinh tế thị trờng mọi quyết định về
sản xuất kinh doanh đều thuộc về phía doanh nghiệp, trên thị trờng các doanh
nghiệp này tự tìm con đờng sống cho mình, cạnh tranh là tất yếu. Lúc đó
Marketing có vai trò không thể thiếu đợc trong các quyết định quản trị.
3) Các nhân tố ảnh hởng đến tiêu thụ sản phẩm trong các doanh
nghiệp
Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng đều
chịu sự tác động của các nhân tố từ môi trờng kinh doanh. Có rất nhiều nhân tố
ảnh hởng đến tiêu thụ sản phẩm, dới đây chỉ nêu lên một số nhân tố chủ yếu :
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
3.1 Năng lực sản xuất của doanh nghiập
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp là khả năng để đạt đợc mức sản lợng
nhất định mà thờng đợc hiểu là số lợng sản phẩm đợc sản xuất ra trong một
khoảng thời gian cụ thể. Trong thực tế khái niêm này rất phức tạp và rộng. Năng
lực sản xuất đợc xác định thông qua việc kết hợp phức tạp các nguồn lực của
doanh nghiệp để đạt đợc mức sản lợng cao nhất cho nên có thể coi năng lực sản
xuất là giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp. Vì vậy nó liên quan trực
tiếp đến chất lợng và số lợng sản phẩm đợc sản xuất ra (năng suất lao động).
Năng lực sản xuất ảnh hởng đến tiêu thụ sản phẩm thông qua việc đảm
bảo cung cấp đúng, đủ về số lợng, chất lợng và thời gian phù hợp nhằm thoả
mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng và tạo ra uy tín, lợi thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
3.2 Khách hàng
Đây là đối tợng phục vụ của doanh nghiệp, khách hàng là ngời quyết
định số phận của sản phẩm trên thị trờng. Khái niệm khách hàng đợc đề cập đến
ở đây có thể là ngời tiêu dùng cá nhân, có thể là các cơ quan, đơn vị, các nhà
sản xuất hoặc các nhà phân phối. Số lợng khách hàng là nhân tố ảnh hởng cùng
chiều với số lợng tiêu thụ: nếu trên thị trờng đông đảo khách hàng thì khối lợng
sản phẩm luân chuyển lớn và ngợc lại.
Khách hàng là ngời tiêu dùng cá nhân chịu tác động của nhiều nhân tố
nh văn hoá, chính trị, phong tục tập quán, tâm lý tuy nhiên khi đề cập đến
khái niệm cầu thì phải hội đủ hai yếu tố : có khả năng mua (thu nhập) và sẵn
sàng mua (mức độ thoả mãn nhu cầu). Vì vậy yếu tố quyết định ở đây là thu
nhập của dân c và chất lợng sản phẩm. Còn khách hàng là các cơ quan đơn vị
thì yếu tố quyết định lại là chất lợng sản phẩm, ngời phân phối lại quan tâm đến
những khoản lợi mà họ thu đợc khi tham gia các kênh tiêu thụ.
3.3 Các đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh tạo ra sự sôi động của thị trờng, làm cho mức độ
cạnh tranh tăng thêm tính gay gắt. Các hãng cùng tham gia vào một thị trờng có
ảnh hởng rất lớn đến các mục tiêu chiến lợc, cách thức kinh doanh của nhau.
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Khi có nhiều sự gia nhập mới doanh nghiệp phải xem xét lại các mục
tiêu của mình, mỗi hoạt động của đối thủ phải đợc xem xét một các kỹ lỡng từ
đó vạch ra đờng đi cho mình. Doanh nghiệp sẽ phản ứng ra sao nếu đối thủ hạ
giá bán hay tăng chi phí quảng cáo. Cả hai hành động đó đều có nguy cơ làm
giảm thị phần của doanh nghiệp. Với mỗi hành động nh thế doanh nghiệp có
thể phòng thủ đến cùng có thể phản công dữ dội hay yên lặng nghe ngóng.
3.4 Các nhân tố vĩ mô
ảnh hởng của nhân tố này là tạo ra sự thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động
tiêu thụ. Nó kìm hãm khi tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp, khi nó
không phù hợp với các qui luật tự nhiên chẳng hạn nhân tố luật pháp nếu có
không đồng bộ, không chặt chẽ sẽ gây sự bất ổn của thị trờng. Nó thúc đẩy khi
tạo ra những thuận lợi cho doanh nghiệp .
ii) Nội dung của tiêu thụ sản phẩm
Nội dung quan trọng nhất của Marketting là định hớng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh, trong tiêu thụ sản phẩm nó tìm cách làm thế nào để bán đợc
hàng. Vì vậy trong phần này khi đề cập đến nội dung của tiêu thụ sản phẩm ta
xem xét các vấn đề : Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra kiểm soát
và điều chỉnh. Trong đó công tác xây dựng kế hoạch có vai trò quyết định đến
hiệu quả của tiêu thụ sản phẩm.
1) Xây dựng kế hoạch
Thực chất đây là việc xây dựng các chính sách Marketing-mix : chính
sách sản phẩm, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến khuyếch trơng và
chính sách giá cả, thông qua việc thu thập phân tích và xử lý các thông tin từ
môi trờng kinh doanh và bản thân doanh nghiệp.
1.1 Nghiên cứu thị trờng
Nghiên cứu thị trờng là sự nhận thức một cách có khoa học, có hệ thống
mọi nhân tố tác động của thị trờng mà doanh nghiệp phải tính đến khi đa ra các
quyết định của mình. Nó tạo ra các thông tin cần thiết về các ảnh hởng của thị
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
trờng với việc tiêu thụ sản phẩm, làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách
Marketing-mix. Mục tiêu của nghiên cứu thị trờng là đánh giá thực trạng từ đó
dự báo xu hớng tơng lai của cung và cầu.
Trong cuốn The Renewal Factor của Robert Waterman nói rằng : một
nhà quản trị giỏi là ngời biết nghi nhờ các số liệu dự báo và tạo ra sự đột biến,
họ là ngời có cơ hội nắm bắt và hiểu rõ thị trờng thông qua việc phân tích hai
nhân tố cung câù.
a) Phân tích cầu
Mục đích là đa ra những dự báo về cầu trong tơng lai từ việc phân tích
cầu và nhu cầu hiện tại cùng các nhân tố ảnh hởng đến quyết định mua của
khách hàng.
Cầu là sự hội tụ của hai điều kiện sẵn sàng mua và có khả năng mua.
Mức độ sẵn sàng mua phụ thuộc vào việc sản phẩm đó thoả mãn đến mức độ
nào nhu cầu của ngời tiêu dùng. Đặc trng của ngời tiêu dùng là họ muốn nhiều
hơn ít, họ dành nhiều tình cảm cho những sản phẩm có chất lợng cao (những
sản phẩm thoả mãn tốt nhu cầu của họ).
Hầu hết những ngời nội trợ đợc hỏi đều cho biết họ tích những chiếc tủ
lạnh của Elextroluxx, ai đi trên đờng Kim Mã cũng đều mong muốn đợc một
lần ơ trong khách sạn Daewoo.
Các cô cậu học trò thích trng diện những chiếc quần bò mác "Kavin
Klein" nhng không phải tất cả họ đều đợc thoả mãn mong ớc của mình bởi các
sản phẩm này giá thờng rất cao trong khi khả năng tải chính của họ lại có hạn.
b) Phân tích cung (các đối thủ cạnh tranh)
Binh pháp Tôn Tử viết biết mình biết ngời đánh trăm trận trăm thắng,
việc phân tích các đối thủ cạnh tranh chính là tìm cách để biết ngời, những ngời
đang và sẽ cung cấp các sản phẩm giống nh của doanh nghiệp trên thị trờng,
những ngời cũng đang tìm mọi cách để hiểu ngời khác, hiểu thị trờng nh mình.
Tất cả những việc cần làm là tìm hiểu xem đối thủ của mình là ai ? chiến
lợc của họ nh thế nào ? đâu là điểm mạnh, điểm yếu của họ ? và cách thức họ
phản ứng ra sao ?
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Có nhiều ngời cho rằng việc phát hiện các đối thủ cạnh tranh là một
nhiệm vụ đơn giản, dễ dàng thấy đợc rằng trên thị trờng nớc giải khát không chỉ
có Coca cola mà còn pepsi và nhiều hàng khác, không khí có song mà rất nhiều
hãng nh Toshiba, Samsung, Daewoo cung cấp các sản phẩm điện tử.
Những đối thủ dẫ thấy chỉ là những đối thủ hiện tại còn các đối thủ tiềm
ẩn thì việc phát hiện ra họ không dễ dàng chút nào, chẳng khác gì ngời ta đứng
ở chỗ sáng tìm một vật trong bóng tối. Nhiệm vụ của ngời Marketing là phải
vén bức màn tối đó, đây là công việc rất quan trọng và tốn kém.
1.2 Đánh giá năng lực của sản suất doanh nghiệp.
Phần trớc chúng ta đã đề cập đến công việc của doanh nghiệp làm để biết
ngời, bây giờ là phần doanh nghiệp tìm cách để biết mình thông qua đánh giá
năng lực sản xuất.
a) Đánh giá năng lực sản xuất hiện có.
Đánh giá năng lực sản xuất hiện có là tiền đề để các nhà quản trị gia các
quyết đinh quản trị tác nghiệp và kế hoạch sản phẩm, trớc hết ta phải xác định
đợc các nguồn lực hiện có và các nguồn khai thác các nguồn lực đó.
Khi đề cập đến năng lực sản xuất của doanh nghiệp nhiều ngời cho rằng
đó là các yếu tố đầu vào của các quá trình sản xuất (các vật thể hữu hình) nh :
lao động, vốn, đất đai, công nghệ. Nhng thực tế không hoàn toàn nh vậy, ngoài
các nguồn lực hữu hình đó còn có các nguồn lực vô hình mà nhiều khi nó đóng
vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp nó có thể là danh
tiếng, lợi thế thơng mại lợi thế vị trí
Nhiều ngời thích tiêu dùng sản phẩm của Sony vì tiếng tăm của nó,coca
cola nổi tiếng vì họ có bí mật của quá trình lên mem hay nhà máy bia Hà Nội
có nguồn nớc quý giá mà nhiều doanh nghiệp rợu bia hkác thèm muốn Đó là
những cái tạo cho doanh nghiệp một sự khởi đầu thuận lợi (các lợi thế).
b) Dự đoán yêu cầu tăng thêm năng lực sản xuất mới.
Tất cả các kế hoạch hay chiến lợc của doanh nghiệp đều nằm trong giới
hạn của nguồn lực tài chính. Trong ngắn hạn, việc dự đoán nhu cầu tăng thêm
năng lực sản xuất mới dựa trên các dự báo cầu của thị trờng về sản phẩm của
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
mình, các nhà quản trị xẽ ớc tính mức sản lợng cần sản xuất để đáp ứng nhu cầu
đó. Họ sẽ so sánh với mức sản lợng đợc sản xuất bằng năng lực sản xuất hiện
hành để xây dựng lơng tăng thêm năng lực sản xuất mới.
Trong thời hạn, dự đoán nhu cầu tăng thêm năng lực sản xuất mới chỉ
nằm ở tầm chiến lợc với các chỉ tiêu chung trên cơ sở các mục tiêu chiến lợc
của doanh nghiệp. Đây là một công việc phức tạp nhằm tạo hớng đi cho doanh
nghiệp, ngời ta quan tâm chủ yếu tới các nguồn khai thác đầu t vào.
Đánh giá năng lực sản xuất xẽ giúp cho doanh nghiệp nhận rõ đợc vị trí
của mính so với các đối thủ cạnh tranh để từ đó đa ra các chính sách phù hợp
với vị trí của mình, tránh tình trạng đề ra các mục tiêu không thể thực hiện đợc.
1.3 Phân tích mạng lới tiêu thụ.
Việc tiêu thụ sản phẩm đạt kết quả ở mức độ nào không chỉ phụ thuộc
vào các yếu tố cung cấp sản phẩm trên thị trờng mà còn phụ thuộc rất lớn vào
việc tổ chức mạng lới tiêu thụ chúng. Phân tích mạng lới tiêu thụ sản phẩm sẽ
giúp doanh nghiệp thấy rõ u nhựơc điểm cả từng kênh tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp
doanh nghiệp thấy rõ u nhợc điểm của từng kênh tiêu thụ thông qua đánh giá
việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch và khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thi tr-
ờng của từng kênh đó. Để từ đó trong công tác xây dựng kế hoạch doanh nghiệp
sẽ quyết định thay đổi, điều chỉnh các kênh đó hay không ? có nên thiết lập các
kênh mới hay không ? và thiếp lập nh thế nào ? có một số khó khăn gặp phải
khi đánh giá hiệu quả của từng kênh là các kết quả đạt đợc chịu sự ảnh hởng
của nhiều nhân tố đòi hỏi ngời phân tính phải lợng hoá chúng mà việc này
không dễ dàng chút nào. Trong thực tế nhiều khi các kênh tiêu thụ lại có vai trò
thúc đẩy lẫn nhau, việc duy trì một kênh này chỉ nhằm để hỗ trợ cho các kênh
khác.
Sau khi có đầy đủ các thông tin cần thiết về thị trờng và doanh nghiệp,
các nhà quản trị sẽ đề ra các mục tiêu cần đạt đợc trong việc tiêu thụ sản phẩm
và xây dựng hệ thống chính sách Marketing Mix : chính sách sản phẩm,
chính sách phân phối, chính sách giá cả và chính sách xúc tiến khuyếch trơng.
Nguyễn Văn Minh Khoa quản trị kinh
doanh
Chính sách sản phẩm đòi hỏi phải thông qua những quyết định phù hợp
với nhau về từng đơn vị sản phẩm, chủng loại sản phẩm và danh mục sản phẩm .
Sản phẩm chào bán cho ngời tiêu dùng đợc xem xét dới mức độ ba mức :
Sản phẩm theo ý tởng dự án - đó là dịch vụ cơ bản mà thực tế ngời mua
có đợc. Sản phẩm thực là sản phẩm đợc đem ra bán với tính chất, cấu hình bên
ngoài, chất lợng nhất định, tên và bao gói. Sản phẩm hoàn chỉnh là sản phẩm
hiện thực kèm theo các dịch vụ bán hàng. Ngày nay ngời ta quan tâm nhiều đến
khái niệm sản phẩm hoàn chỉnh vì vậy trong chính sách sản phẩm cần phải
quyết định các hình thức dịch vụ, cách thực hiện và mức độ thực hiện các dịch
vụ đó.
Ngoài ra, trong chính sách sản phẩm quyết định việc thiết kế sản phẩm
mới cũng là một quyết định quan trọng vì nó liên quan đến việc đổi mới trong
doanh nghiệp. Khi đa ra quyết định này cần phải cân nhắc kỹ lỡng dựa trện các
kết quả nghiên cứu thị trờng vì nó mang tính rủi ro cao.
Chính sách phân phối : Những quyết định về lựa chọn các kênh phân
phối là những quyết định trong số các quyết định quan trọng và phức tạp nhất
mà doanh nghiệp phải thông qua. Mỗi kênh đợc đặc trng bởi mức tiêu thụ và chi
phí của nó. Sau khi chọn kênh Marketing cụ thể, doanh nghiệp phải sử dụng nó
trong một thời gian khá dài.
Chính sách giá cả : Việc xác định giá cả cho hàng hoá là một quá trình
bao gồm 6 giai đoạn :
1. Doanh nghiệp xác định kỹ các mục tiêu của mình;
2. Xây dựng đồ thị đờng cầu thể hiện số lợng hàng hoá chắc chắn xẽ bán
đợc trong một thời gian nhất định;
3. Tính toán xem tổng chi phí của mình thay đổi nh thế nào khi mức sản
xuất khác nhau;
4. Nghiên cứu giá cả các đối thủ cạnh tranh;
5. Lựa chọn cho mình một phơng pháp phân tích giá thích hợp;
6. Quyết định giá cuối cùng cho hàng hoá.
2) Tổ chức tiêu thụ
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)