Đề án thực tập
2.2.1. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Là nguồn vốn do các công ty hay các cá nhân ở nước ngoài đầu tư vào nền
kinh tế Việt Nam và họ trực tiếp quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình.
2.2.2. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Là nguồn vốn do các công ty hay các cá nhân đưa vốn vào nền kinh tế Việt
Nam nhưng họ không trực tiếp quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh họ sẽ
lấy lời từ việc chia cổ phần.
2.2.3. Vốn kiều hối.
Là nguồn vốn do các kiều bào sống và làm việc ở nước ngoài mang ngoại tệ
và công nghệ về nuớc. Họ có thể đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp.
2.3. Nguốn vốn viện trợ của các quốc gia và của các tổ chức phi chính phủ.
2.3.1. Viện trợ không hoàn lại.
Là nguồn vốn do các quốc gia hay các tổ chức phi chính phủ viện trợ cho
các quốc gia. Nguồn vốn này sẽ được sử dụng nhưng sẽ với mục tiêu của các
nhà viện trợ. Hay nói cách khác là họ sẽ hướng dẫn chúng ta đầu tư vào một
khu vực của nền kinh tế hay đầu tư để nhằm vào mục tiêu nào đó và chúng
ta sẽ làm theo điều đó. Điều quan trọng ở đây là khu vực và mục tiêu đó có
phù hợp với chúng ta hay không, chúng ta có nên đầu tư hay không. Chính
phủ sẽ phải thương lượng với các quốc gia và tổ chức viện trợ để tiếp nhận
hay không tiếp nhận.
2.3.2. Viện trợ có hoàn lại.
Là số vốn viện trợ của các tổ chức hay các quốc gia. Tuỳ vào các trường
hợp, số vốn này chúng ta chỉ phải hoàn lại một phần hay hoàn lại với những
ưu đãi về mặt lãi suất và thời gian. Nguồn vốn này chúng ta có thể đầu tư
theo mục đích của chúng ta hơn so với nguồn vốn viện trợ không hoàn lại.
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn ChÝ Cêng Líp: Kinh tÕ Ph¸t triÓn 46
5
2.4. Nếu đứng trên góc độ tính chất của hoạt động đầu tư thì vốn đầu tư
được chia ra làm hai loại bao gồm:
2.4.1. Vốn đầu tư khôi phục.
Là bộ phận vốn có tác dụng bù đắp các giá trị hao mòn của vốn sản xuất, đây
chính là quỹ khấu hao (D
p
).
2.4.2. Vốn đầu tư thuần thúy.
Chính là phần tích luỹ để tái sản xuất mở rộng quy mô.
Từ cách phân loại trên, có thể định nghĩa tổng vốn đầu tư là tổng giá
trị xây dựng và lắp đặt thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định(kể cả
xây dụng và lắp đặt thay thế).
II. Vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế xã hội nói chung và
với Hà Tây nói riêng.
1. Vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế xã hội của nền kinh tế.
1.1. Đánh giá dựa trên việc phân tích mô hình Harrod – Domar.
Trong hệ thống lý thuyết tăng trưởng kinh tế vào cuối những năm 30 đã xuất
hiện một học thuyết kinh tế mới, đó là học thuyết kinh tế của J. Maynard
Keynes. Khác với tư tưởng của các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển,
Keynes cho rằng, nền kinh tế có thể đạt tới và duy trì sự cân bằng dưới mức
sản lượng tiềm năng. Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy một su hướng phát
triển của nền kinh tế đưa mức sản lượng thực tế càng về gần mức sản lượng
tiềm năng càng tốt. Để có được sự chuyển dịch này thì đầu tư đóng vai trò
quyết định.
Khi nghiên cứu mô hình kinh tế do hai nhà kinh tế học là Harrod ở
Anh và Domar ở Mỹ đồng thời đưa ra được dựa trên tư tưởng của Keynes,
chúng ta đã biết một hệ số ICOR. Mô hình này cho rằng, đầu tư của bất kỳ
đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một ngành hay toàn bộ nền kinh tế sẽ
phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho đơn vị đó.
6
6
Đề án thực tập
Nều gọi đầu ra là Y và tốc độ tăng trưởng của đầu ra là g, có nghĩa là
g=∆Y/Y
Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy là s trong
GDP sẽ là s=S/Y
Vì tiết kiệm là nguồn của đầu tư, nên về mặt lý thuyết đầu tư luôn
bằng tiết kiệm do đó cũng có thể viết: s = I/Y
Mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất, nên I =∆K. Nếu gọi k là
tỷ số gia tăng giữa vốn và sản lượng thì ta sẽ có.
K = ∆K/∆Y hoặc k = I/∆Y
Và vì ∆Y/Y = I. ∆Y/(I.Y) = (I/Y)/(I/∆Y)
Do đó chúng ta có g = s/k.
Hệ số ICOR nói lên rằng, vốn sản xuất được tạo ra bằng đầu tư dưới
dạng nhà máy, trang thiết bị là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, các khoản tiết
kiệm của dân cư và các công ty chính là nguồn gốc cơ bản của vốn đầu tư.
Cần lưu ý rằng tỷ số gia tăng vốn – sản lượng chỉ đo năng lực sản xuất
của phần vốn – đầu ra phản ánh năng lực toàn bộ của vốn sản xuất.
1.2. Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế:
phân tích dựa trên mô hình AS – AD. Đầu tư là một bộ phận lớn và
hay thay đổi trong chi tiêu vì vậy khi đầu tư thay đổi sẽ tác động đến chi
tiêu, công ăn việc làm… Khi đầu tư tăng làm cho đường tổng cầu tăng và
dịch chuyển sang phải làm cho sản lượng của nền kinh tế tăng, chi tiêu và
nhu cầu việc làm cũng tăng theo.
Đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là có them các nhà máy,
thiết bị, phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất, làm tăng khả năng
sản xuất của nền kinh tế. sự thay đổi này tác động đến tổng cung. Khi đường
tổng cung dịch chuyển sang phải đồng thời cũng làm cho sản lượng tăng lên.
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn ChÝ Cêng Líp: Kinh tÕ Ph¸t triÓn 46
7
Cần lưu ý rằng sự tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăng
trưởng kinh tế không phải là quá trình riêng lẻ mà nó là sự kết hợp, đan xen
lẫn nhau, tác động liên tục vào nền kinh tế.
Ngày này vốn đầu tư và vốn sản xuất được coi là yếu tố quan trọng
của quá trình sản xuất. Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào, vừa là sản phẩm
đầu ra của quá trình sản xuất của các doanh nghiệp và nền kinh tế, mà còn là
điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, góp phần đáng kể vào
việc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất. Việc tăng vốn
đầu tư cũng góp phần vào giải quyết công ăn, việc làm cho nguời lao động
khi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất. Cuối cùng,
cơ cấu sử dụng vốn đầu tư là điều kiện quan trọng tác động vào việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đất nước.
2. Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Hà Tây.
Dựa trên những phân tích ở trên chúng ta có thể thấy được vai trò
quan trọng của vốn đối với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nền
kinh tế nói chung và ở Hà Tây nói riêng. Thực tế cho thấy bắt đầu từ năm
1992 đến nay thì việc tăng trưởng kinh tế ở Hà Tây chủ yếu dựa vào vốn đầu
tư. Đặc biệt trong những năm gần đây thì tốc độ tăng trưởng kinh tế được
thấy rõ là chủ yếu dựa vào vốn đặc biệt là dựa vào vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Hà Tây là một trong những tỉnh có mật độ dân cư lớn trong nước, hơn
nữa là một khu vực chiến lược để mở rộng thành phố Hà Nội cho nên nhu
cầu về vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng là rất lớn.
Là một tỉnh có lợi thế về vị trí địa lý tuy nhiên các mặt hàng xuất khẩu
lại không nhiều kể cả về số lượng mặt hàng và quy mô các mặt hàng. Lý do
là thiếu vốn đầu tư cho sản xuất – xuất khẩu. Vì vậy, nhu cầu về vốn đầu tư
cho sản xuất – xuất khẩu là rất lớn để phát huy lợi thế này.
8
8
Đề án thực tập
Hà Tây được coi là vành đai xanh của thành phố Hà Nội. Là nơi cung
cấp lương thực thực phẩm cho thành phố Hà Nội. Người dân sống chủ yếu
bằng nghề nông nghiệp. Vì vậy, nhu cầu về vốn để đầu tư cho nông nghiệp
cũng rất lớn.
Từ những lý do ở trên chúng ta có thể thấy vốn đầu tư có vai trò đặc
biệt quan trọng đối với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Hà Tây. Tỉnh
Hà Tây cần phải có cơ chế và chính sách cho phù hợp để thu hút vốn đầu tư
vào tỉnh.
III. Sự cần thiết phải tăng cường vốn đầu tư cho phát triển kinh tế ở
tỉnh Hà Tây.
Dựa trên những phân tích về vai trò của vốn đầu tư và về đặc điểm
tỉnh hình kinh tế xã hội cũng như về điều kiện tự nhiên của tỉnh Hà Tây cho
thấy cần vốn đầu tư vào tỉnh là rất quan trọng cho việc phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh.
1. Đầu tư làm tăng công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong tỉnh.
Khi đầu tư được tăng lên nghĩa là vốn sản xuất tăng lên, các công ty
mở rộng sản xuất kinh doanh vì vậy nhu cầu vê việc làm cũng gia tăng, cầu
về lao động tăng lên làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế.
2. Đầu tư làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển cân đối giữa các
vùng.
Đầu tư gia tăng, lượng đầu ra của các hàng hóa tăng lên cùng với nhu
cầu đa dạng các hàng hóa, dịch vụ. Cùng với nó là việc đầu tư vào các ngành
nghề mới, nhu cầu về lao đông có trình độ ngày càng gia tăng thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu ngành nghề từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp; từ
công – nông nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ.
Đầu tư làm gia tăng tiến bộ khoa học công nghệ. Tiến bộ khoa học kỹ
thuật là yếu tố thúc đẩy hệ số kỹ thuật thay đổi và sự thay đổi này lại là yếu
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn ChÝ Cêng Líp: Kinh tÕ Ph¸t triÓn 46
9
tố quyết định thay đổi cơ cấu ngành nghề kinh tế. Thực tế cho thấy sự tác
động của tiến bộ kỹ thuật đến cơ cấu ngành được thể hiện ở chỗ: Tiến bộ kỹ
thuật thúc đẩy ngành mới ra đời. Tiến bộ kỹ thuật làm nâng cao năng suất
lao động, tác động đến cơ cấu lao động và tiến bộ kỹ thuật, nâng cao sức
cạnh tranh quốc tế của sản phẩm, thúc đẩy việc hợp lý cơ cấu ngành. Trong
trường hợp hệ số kỹ thuật của các ngành không thay đổi, nếu thay đổi cơ cấu
tài sản cố định và tỷ lệ các yếu tố trung gian đầu vào thì năng lực sản xuất
của các ngành cũng thay đổi. Vì trong trường hợp trình độ kỹ thuật không
thay đổi, nếu tăng lực lượng sản xuất của tài sản cố định gia tăng và theo đó
gia tăng các sản phẩm trung gian thì ngành này cũng sẽ tăng sản phẩm đầu
ra. Sự thay đổi cơ cấu tài sản cố định và yếu tố trung gian đầu vào chính là
kết quả của sự thay đổi cơ cấu đầu tư. Cơ cấu đầu tư là tỷ lệ phân phối vốn
đầu tư vào các ngành khác nhau. Do đó, có thể nói cơ cấu đầu tư là yếu tố
quyết định đối với cơ cấu ngành kinh tế.
3. Có vốn để phát huy lợi thế so sánh.
Hà Tây có lợi thế về nguồn nhân lực đồi dào, tuy nhiên lợi thế này vẫn
chưa được phát huy mạnh mẽ vì thiếu vốn đầu tư, số lao động thất nghiệp
vẫn chiểm tỷ lệ lớn đặc biệt là lao động trẻ tuổi. Cần có vốn đầu tư phát triển
những ngành sử dụng nhiều lao động. Lao động trẻ tuổi, họ có tố chất là
năng động tuy nhiên về kiến thức và tay nghề lại hạn chế. Vì vậy, có vốn đề
đầu tư cho giáo dục nhằm phát huy được lợi thế về con người.
10
10
Đề án thực tập
Chương II. Thực trạng hoạt động thu hút đầu tư của tỉnh
Hà Tây trong những năm gần đây.
I. Khái quánt những đặc điểm cơ bản về tự nhiên, kinh tế xã hội của
tỉnh Hà Tây.
1. Khái quát về tự nhiên, kinh tế, xã hội:
1.1. Vị trí địa lý:
Hà Tây là một tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ, có tọa độ địa lý : 20,31
0
– 21,17
0
vĩ độ Bắc, 105,17
0
–
106
0
kinh độ Đông, là vùng đất nối liền giữa vùng Tây bắc và vùng trung du
Bắc bộ với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, có địa hình đa dạng: miền
núi, trung du và đồng bằng rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp, công
nghiệp, du lịch và dịch vụ.
Với diện tích2192,02 km
2
, Phía Đông Bắc tiếp giáp với Thủ đô Hà
Nội – Trung tâm chính trị, kinh tế và thương mại của đất nước, phía Đông
Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp tỉnh
Hòa Bình, phía Bắc giáp hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ.
1.2. Địa hình, khí hậu:
Tỉnh Hà Tây có địa hình đa dạng, bao gồm vùng núi cao, vùng đồi
thấp và vùng đồng bằng thấp, trũng.
Vùng cao chiếm khoảng 7,9% diện tích đất tự nhiên, trong đó có
khoảng 7.400 ha là rừng quốc gia. Các vùng núi có độ cao thay đổi từ 300 m
đến 1000 m. Trong đó có đỉnh Ba Vì cao 1218 m và một số núi đá vôi ở phía
Nam tỉnh (Chương Mỹ, Mỹ Đức) với nhiều hang động đẹp, các núi rừng
này thường có độ dốc lớn, hay bị sói mòn, rửa trôi khi mùa mưa đến.
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn ChÝ Cêng Líp: Kinh tÕ Ph¸t triÓn 46
11
Vùng đồi thấp chiếm khoảng 24,8% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu có
độ cao từ 30m đến 300m. Địa hình vùng đồi thấp dốc thoải với độ dốc trung
bình từ 8% đến 20%. Đây là vùng đất nâu vàng, đỏ.
Vùng đồng bằng nằm ở phía đông tỉnh chiếm 67,3% diện tích đất tự
nhiên. Chia thành hai dạng: vùng có độ cao từ 10 m đến 30m, ở khu vực Ba
Vì với độ dốc < 10%, vùng đất xây dựng tốt, vùng đồng bằng thấp trũng,
vùng này có địa hình tương đối bằng phẳng, song lại có khu vực quá trũng,
đó là: khu vực Mỹ Đức (trong đê hữu ngạn sông Đáy) và khu vực Ứng Hòa -
Thường Tín (trong đê tả ngạn sông Đáy). Ngoài ra còn có khu vực Phú
Xuyên cũng rất thấp.
1.3. Khí hậu:
Tỉnh Hà Tây nằm trong vùng khí hậu đồng bằng Bắc bộ mang đặc thù
của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm mưa
nhiều.
Mùa đông lạnh rõ rệt so với mùa hạ, chênh lệch giữa hai mùa trung
bình tháng lạnh nhất và tháng nóng nhất lên tới 12
0
C . Song nhiệt độ trung
bình tháng lạnh nhất chỉ xuống đến 16-17
0
C, rất thuật lợi cho phát triển cây
vụ đông giá trị kinh tế cao.
1.4. Thủy văn:
Tỉnh Hà Tây có các sông lớn chảy qua là: sông Đà, sông Hồng, sông
Đáy, sông Tích, sông Bùi và sông Nhuệ. Ngoài hệ thống sông, suối chính
còn có các kênh tiêu, mương máng, sông suối nhỏ chằng chịt khắp vùng.
Đặc biệt là hệ thống hồ, đập nhân tạo khá phong phú.
Hệ thống ao hồ của tỉnh tuy không lớn nhưng đóng vai trò quan trọng
cho việc phát triển nông nghiệp, cấp thoát nước sinh hoạt cho nhân dân, nuôi
trồng thủy sản, là hồ điều hòa điều tiết nước khi mùa mưa đến và tạo cảnh
quan thiên nhiên để phát triển du lịch.
12
12
Đề án thực tập
1.5 Đặc điểm kinh tế, chính trị của Hà Tây:
Hà Tây có 14 đơn vị hành chính gồm : 2 thành phố (TP) Hà Đông và
Sơn Tây. 12 huyện: Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Quốc Oai,
Hoài Đức, Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Oai, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Chương
Mỹ. Tỉnh lỵ đặt tại TP.Hà Đông. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng
bằng Bắc Bộ - gồm các tỉnh thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,
Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây ở vị trí bao quanh thủ
đô Hà Nội về hướng Tây, Tây nam và Phía Nam. Đây có thể được xem là
một thế mạnh riêng biệt của Hà Tây mà không một địa phương nào có thể
có. Chính điều này đã tạo nên một nét hấp dẫn riêng thu hút các nhà đầu tư
khi đến với Hà Tây.
Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007 : 13,5% , định hướng
phát triển cho giai đoạn 2007 – 2010 là 13,5%, giai đoạn 2010 – 2015 là
13%, định hướng cho năm 2020 là 12%. Với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ giảm dần tỷ
trọng ngành nông nghiệp.
2. Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội:
1. Tài nguyên đất:
Nhìn chung, đất Hà Tây có độ phì cao, với nhiều loại địa hình nên có
thể bố trí được nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, cây
thực phẩm, cây công nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, cây ăn quả, trồng rừng.
Vùng đồng bằng thuận lợi cho phát triển cây lương thực, rau đậu, cây công
nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi lợn, vịt, thuỷ đặc sản.
Vùng đồi gò thuận lợi cho trồng cây công nghiệp dài ngày (cà phê,
trẩu, sở, thông) cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc. Do có vùng đồi gò nên
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn ChÝ Cêng Líp: Kinh tÕ Ph¸t triÓn 46
13
Hà Tây có điều kiện dành cho xây dựng, nhất là xây dựng các khu công
nghiệp tập trung và các cơ sở hạ tầng khác.
Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất:
• Tổng diện tích đất: 214,8 ngàn ha
- Đất nông nghiệp: 122,8 ngàn ha
Trong đó đất canh tác: 110,0 ngàn ha
- Đất lâm nghiệp: 25,6 ngàn ha
• Diện tích có rừng: 15,5 ngàn ha
- Đất chuyên dùng: 30,1 ngàn ha
- Đất chưa sử dụng: 19,3 ngàn ha
Trong đó có khả năng sử dụng cho nông nghiệp: 7,5 ngàn ha
2.2 Khoáng sản:
Gồm những loại khoáng sản chủ yếu như đá vôi (vùng Mĩ Đức,
Chương Mĩ), đá granít ốp lát (vùng Chương Mĩ), sét (Chương Mĩ, Sơn Tây,
Thạch Thất, Quốc Oai), Cao Lanh (Ba Vì, Quốc Oai), Đồng, pirít (Ba Vì),
nước khoáng (Ba Vì)
Trước mắt có thể lựa chọn khai thác một số tài nguyên như: đá vôi và
sét sản xuất xi măng mác cao, gạch nung sét đồi với quy mô, sứ trang trí xây
dựng, than bùn sản xuất phân vi sinh…
2.3 Tài nguyên rừng:
Rừng Hà Tây không lớn, nhưng rừng tự nhiên (vùng Ba Vì) có nhiều
chủng loại thực vật phong phú, đa dạng, quí hiếm. Hiện nay đã xác định
được 872 loài thực vật bậc cao thuộc 427 chi nằm trong 90 họ. Tuy nhiên,
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét