Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Đánh giá hiệu quả kinh tế đối với dịch vụ hấp thụ CO2 của dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch (AR-CDM) tại Cao Phong – Hòa Bình.doc

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
CDM là một trong ba cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto, trong đó nó cho
phép các nước phát triển đạt được các chỉ tiêu về phát thải khí nhà kính bắt buộc thông
qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển, sẽ nhằm hấp
thụ khí CO2 từ khí quyển và làm giảm lượng phát thải khí nhà kính. (Trích: Khả năng
hấp thụ của một số loại rừng trồng ở Việt Nam – PGS.TS Ngô Đình Quế và cộng sự).
1.2.2. Lợi ích từ các dự án CDM
Thứ nhất, dự án CDM mang lại lợi ích không chỉ cho các bên tham gia dự án mà
còn góp phần rất lợi làm giảm lượng phát thải khí nhà kính nguyên nhân chính gây nên
hiện tượng nóng lên của trái đất.
Thứ hai, nguồn thu từ các dự án CDM sẽ giúp các nước đang phát triển đạt được
mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường như cải thiện được môi trường đất, nước, không khí
Kèm theo đó, là nguồn đầu tư lớn từ nước ngoài bổ sung vào nguồn vốn trong nước đóng
góp làm tăng phúc lợi xã hội như tạo công ăn việc làm, phát triển nông thôn, xóa đói giảm
nghèo. Đây cũng là cơ hội tốt nhận được qua quá trình chuyển giao công nghệ xanh, sạch
mang lại lợi ích kinh tế và tăng lợi ích môi trường.
Thứ ba, bên cạnh đó, các dự CDM cũng tạo ra những lợi ích thiết thực cho các
nước phát triển - những nước bắt buộc phải quan tâm đến lượng giảm phát thải GHG và
hậu quả về môi trường do quá trình phát triển gây nên. Dự án CDM là một hình thức để
các nước phát triển có được tín dụng giảm phát thải với chi phí thấp hơn chi phí biên tại
nước đó. Mặc khác, đây còn là nguồn đầu tư mới cho các doanh nghiệp ở các nước này,
một lĩnh vực mới đầy triển vọng.
Cuối cùng, từ quá trình mua bán chứng chỉ giảm phát thải (CERs) sẽ làm tăng
cường mối quan hệ hữu nghị giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển, giảm
bớt khoảng cách giàu nghèo. Qua quá trình này góp phần đạt được mục tiêu cao nhất của
nghị định thư Kyoto.
1.2.3 Các lĩnh vực thuộc dự án CDM
CDM gồm các dự án thuộc các lĩnh vực sau:
 Nâng cao hiệu quả năng lượng sử dụng cuối
 Nâng cao hiệu quả cung cấp năng lượng
 Năng lượng tái tạo
 Nông nghiệp (giảm phát thải CH
4
và N
2
O)
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
 Các quá trình công nghiệp (CO
2
từ sản xuất xi măng, HFCs, PFCs, SF
6
)
 Các dự án bể hấp thụ cacbon (chỉ áp dụng đối với lĩnh vực trồng rừng và khôi
phục rừng)
1.2.4 Các bước thực hiện CDM
Hình 1.1. Các bước thực hiện dự án CDM
Chu trình dự án CDM trên đây gồm 7 giai đoạn cơ bản: thiết kế và xây dựng dự án,
phê duyệt quốc gia, thẩm định và đăng ký, tài chính của dự án, giám sát, thẩm tra/chứng
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
6
1. Thiết kế và xây dựng dự
án
2.Phê duyệt quốc gia
3. Phê duyệt/đăng ký
4. Tài chính dự án
5. Giám sát
Văn kiện thiết kế dự
án
Các Bên tham gia
dự án
Các nhà đầu tư
Tổ chức tác
nghiệp A
6. Thẩm tra/chứng nhận
7. Ban hành CERs
Báo cáo giám sát
Tổ chức tác nghiệp B
Báo cáo thẩm tra/báo cáo
chứng nhận/đề nghị ban hành
CERs
Ban chấp
hành/đăng ký
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
nhận và ban hành CERs. Bốn giai đoạn đầu được tiến hành trước khi chuẩn bị dự án, ba
giai đoạn sau được thực hiện trong suốt thời gian thực hiện dự án.
1.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả dự án CDM
Có nhiều phương pháp có thể dùng để đánh giá hiệu quả của dự án CDM như: Phân
tích chi phí - lợi ích (CBA), phương pháp danh mục kiểm tra (checklist), phương pháp
phân tích đa mục tiêu, phân tích chi phí hiệu quả (CEA). Đối với đề tài này, tôi đã chọn
phương pháp CBA cho dự án mình đang nghiên cứu.
1.3.1. Phương pháp phân tích chi phí lợi ích
CBA là quá trình xác định và so sánh những lợi ích và chi phí của một dự án,
chương trình chính sách hay hoạt động phát triển theo quan điểm xã hội. CBA được hiểu
là phân tích tài chính của dự án theo nghĩa rộng hay phân tích kinh tế. Khác với phân
tích tài chính, ngoài tính các chi phí và lợi ích thực, trong quá trình tính CBA cần cố
gắng lượng hoá các chi phí và lợi ích ẩn càng nhiều càng tốt, những chi phí và lợi ích
không lượng hoá được bằng tiền cần được liệt kê đầy đủ và đánh giá một cách định tính.
1.3.2. Phương pháp phân tích chi phí lợi ích dự án CDM
Đối với phương pháp CBA có trình tự 5 bước :
- Xác định chi phí lợi ích
- Đánh giá chi phí lợi ích
- Tính toán các chỉ tiêu
- Phân tích rủi ro và độ nhạy
- Kết luận và kiến nghị
1.3.2.1 Bước 1: Xác định các chi phí và lợi ích của dự án
Quá trình này chính là liệt kê đầy đủ các chi phí và lợi ích liên quan đến dự án theo
quan điểm xã hội theo các nguyên tắc sau:
• Một lợi ích bị mất đi được coi là một chi phí, ngược lại một chi phí tiết kiệm
được coi là một lợi ích.
• Không tính thiếu, tính trùng, nhận dạng đúng và đủ các khoản chi phí, lợi ích.
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
• Phải có đơn vị đo lường chung.
 Chi phí của dự án CDM: Cũng như các dự án thông thường khác, dự án CDM
cũng bao gồm các chi phí thường xuyên, chi phí không thường xuyên và chi phí cơ hội.
Chi phí thường xuyên là các khoản chi cho quản lý và vận hành dự án hàng năm gồm có
chi phí bao dưỡng, nguyên vật liệu, nhân công, nhà xưởng Chi phí không thường
xuyên là những khoản chi phát sinh ngay khi dự án mới bắt đầu thực hiện và không
thường xuyên trong suốt đời dự án gồm có khoản đầu tư cơ sở hạ tầng, mua sắm máy
móc, thiết bị Chi phí cơ hội phát sinh do sự thay đổi về công nghệ, tỷ lệ lãi suất, biến
động kinh tế, xã hội.
Ngoài các chi phí kể trên, dự án CDM còn chịu các khoản chi phí CDM như chi
phí thiết kế, xây dựng dự án, thuế CERs, chi phí giao dịch
 Lợi ích của dự án CDM: Ngoài doanh thu như các dự án thông thường khác,
dự án CDM còn có doanh thu trực tiếp từ bán CERs và các lợi ích khác đóng góp vào sự
phát triển bền vững như uy tín, hình ảnh doanh nghiệp, xoá đói giảm nghèo, giảm ô
nhiễm môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, đóng góp vào nỗ lực chống biến đổi khí
hậu toàn cầu.
1.3.2.2. Bước 2: Đánh giá chi phí lợi ích
Đây là bước quan trọng của quá trình CBA, là quá trình lượng hóa bằng tiền tệ
các giá trị chi phí và lợi ích đã mô tả ở bước 1. Các chi phí và lợi ích được quy đổi theo
giá cả thị trường, còn các chi phí và lợi ích không quy đổi được thì ta sử dụng phương
pháp giá ẩn – là mức giá thị trường đã được điều chỉnh sao cho phản ứng đúng chi phí
cơ hội kinh tế.
Tuy nhiên, thực tế thì không phải bất cứ lợi ích hay chi phí nào cũng có thể lượng
hóa bằng tiền tệ được. Đó là các chi phí và lợi ích không mang tính hữu hình như những
lợi của cảnh quan đối với cuộc sống người dân trong khu vực, hay hình ảnh, danh tiếng
của doanh nghiệp trong thị trường , mà chúng không có giá trên thị trường, do vậy
chúng ta sử dụng các phương pháp định giá gián tiếp như phương pháp thay thế, chi tiêu
ngăn ngừa, đánh giá ngẫu nhiên, chi phí du hành để lượng giá. Tuy nhiên, việc lượng giá
các chi phí và lợi ích vô hình là khá khó khăn và nhiều khi không thể quy đổi được ra giá
trị tiền tệ, những lợi ích và chi phí này sẽ được tham vấn lấy ý kiến của các chuyên gia,
và đánh giá về mặt định tính.
Sau khi quy đổi các giá trị theo thời gian của dự án (theo đơi vị tháng hoặc năm).
Dưới đây là bảng tổng hợp chi phí và lợi ích theo thời gian:
Bảng 1.1. Bảng minh họa tổng hợp chi phí và lợi ích theo thời gian
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
Năm Tổng lợi ích (B
t
) Tổng chi phí (C
t
) Lợi ích ròng hàng năm
0 B
0
C
0
B
0
- C
0
1 B
1
C
1
B
1
- C
1
2 B
2
C
2
B
2
– C
2

t B
t
C
t
B
t
– C
t
Nguồn: Tác giả tổng hợp
1.3.2.3 Bước 3: Tính toán các chỉ tiêu
Trong CBA có các chỉ tiêu cần dùng là: Giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ suất lợi ích –
chi phí (BCR), hệ số hoàn vốn nộp bộ (IRR). Ngoài ra một số dự án người ta còn sử
dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn (PB).
Để đánh giá hiệu quả của một dự án bất kì, điều cần làm đầu tiên đó là chọn biến
thời gian và tỷ lệ chiết khấu phù hợp.
 Chọn biến thời gian: Về mặt lý thuyết, phân tích kinh tế các dự án cần phải
kéo dài trong khoảng thời gian thích hợp sao cho phản ánh đầy đủ mọi chi phí
và lợi ích của dự án. Trong khi chọn biến thời gian thích hợp, cần lưu ý:
− Thời gian sống hữu ích của dự án để tạo ra các sản phẩm đầu ra và các lợi ích
kinh tế cơ sở mà dự án được thiết kế. Khi lợi ích dự kiến của dự án không
đáng kể thì thời gian sống hữu ích của dự án coi như kết thúc.
− Tỷ lệ chiết khấu trong phân tích kinh tế của dự án tỷ lệ nghịch với NPV.
 Chọn tỷ lệ chiết khấu (r): Đây là công đoạn quan trọng, do một sự thay đổi
nhỏ của r sẽ làm thay đổi giá trị hiện tại ròng và như vậy có thể cho kết quả
phân tích sai. Tỷ lệ chiết khấu được lựa chọn phải đảm bảo:
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
− Không phản ánh lạm phát, mọi giá cả sử dụng trong phân tích là thực hoặc giá
USD không đổi (Cần phân biệt giữa tỷ lệ chiết khấu thực và tỷ lệ chiết khấu
danh nghĩa).
Tỷ lệ chiết khấu thực = tỷ lệ chiết khấu danh nghĩa – lạm phát
Ngoài ra, có thể tính tỷ lệ chiết khấu thực theo công thức: r =
m
mi
+

1
− Xác định và điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu căn cứ vào chi phí cơ hội của đồng
tiền, chi phí của việc vay mượn và hệ thống xã hội về ưu tiên theo thời gian.
Đối với phân tích tài chính, tỷ lệ chiết khấu được chọn là tỉ lệ lãi suất của vốn
vay. Nếu vốn được vay từ nhiều nguồn với lãi suất khác nhau thì tỷ lệ chiết
khấu được tính bằng cách lấy bình quân gia quyền của các tỷ lệ lãi suất. Còn
vốn tự có thì tỷ lệ chiết khấu được lấy từ tỷ lệ lãi suất tiền gửi kì hạn một năm
tại Ngân hàng thương mại. Riêng trong CBA thì tỷ lệ chiết khấu phải phản
ánh chi phí cơ hội của tiền và sự ưa thích về mặt thời gian của xã hội. Nói
cách khác tỷ lệ chiết được lựa chọn phải phán ánh được mức sinh lời trung
bình của tiền trong kinh tế.
Sau khi đã lựa chọn biến thời gian và tỷ lệ chiết khấu, chúng ta tiến hành tính toán
các chỉ tiêu của dự án :
 Giá trị hiện tại ròng (NPV)
Giá trị hiện tại ròng của dự án là hiệu số giữa giá trị hiện tại của các khoản thu
nhập và chi phí trong tương lai, nghĩa là tất cả trong tương lai, nghĩa là tất cả lợi nhuận
hang năm được chiết khấu về thời điểm bắt đầu bỏ vốn theo tỷ lệ chiết khấu đã chọn.
Công thức tính:
( )

=
+

=
n
t
tt
r
CB
NPV
0
1
Trong đó: r: là tỷ lệ chiết khấu
t : là năm tương ứng (t= 1, 2, 3, ,n)
n: là số năm hoạt động của dự án
B
t
, C
t
: là lợi ích và chi phí năm thứ t.
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
Giá trị hiện tại ròng là một chỉ tiêu quan trọng trong phân tích hiệu quả dự án
CDM, phản ánh giá trị thời gian của tiền. Là một chỉ tiêu quyết định đầu tư. Dự án chỉ
được chấp nhận khi NPV không âm.
 Tỷ suất lợi ích – chi phí (BCR)
Tỷ suất lợi ích – chi phí là tỷ số giữa giá trị hiện tại của lợi ích thu được so với
giá trị hiện tại của chi phí bỏ ra.
Công thức tính:
( )
( )


=
=
+
+
=
n
t
t
t
n
t
t
t
r
C
r
B
BCR
0
0
1
1
Đối với phân tích chi phí lợi ích, lợi ích còn bao gồm cả lợi ích môi trường, và
chi phí bao gồm xốn cộng với các chi phí vận hành, bảo dưỡng, thay thế và các chi phí
môi trường. Tỷ số B/C cho biết tổng các khoản thu của dự án có đủ bù đắp các chi phí
bỏ ra của dự án hay không và dự án có khả năng sinh lãi không. Dự án chỉ được chấp
nhận khi B/C≥1.
 Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)
Đây là một trong những chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất trong đánh giá hay
mức độ hấp dẫn về mặt tài chính của các dự án đầu tư bằng việc so sánh với lãi suất về
tài chính hoặc tủ lệ chiết khấu. Bản chất của IRR là mức thu lợi nhuận trung bình của
đồng vốn được tính theo các kết số còn lại của vốn đầu tư ở đầu năm của dòng tiền tệ.
IRR là khả năng sinh lãi riêng của dự án. IRR là tỷ suất chiết khấu đặc biệt mà tại đó
NPV = 0.
Công thức tính : NPV = 0 hay
( ) ( )
∑∑
==
+
=
+
n
t
t
t
n
t
t
t
r
C
r
B
00
11
IRR là tỷ lệ lãi suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận vay vốn để
thực hiện dự án mà không sợ bị thua lỗ. IRR càng lớn hơn lãi suất tiền vay thì khả năng
sinh lời của dự án càng cao. IRR thường đượ tính theo công thức nội suy.
• Tính toán IRR bằng phương pháp nội suy:
Chọn 2 tỷ suất chiết khấu r
1
và r
2
(r
2
> r
1
) sao cho tương ứng với r
1
có NPV
1
>1
và NPV
2
< 0 và r
2
- r
1
≤ 5%.
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
IRR= r
1
+ (r
2
- r
1
)
( )
NPVNPV
NPV
21
1

Hình1.2: Đồ thị biểu diễn IRR
Đường đồ thị của IRR sẽ cắt trục hoành (điểm có NPV = 0) tại điểm biểu thị tỷ
suất chiết khấu (IRR) của dự án đầu tư.
1.3.2.4 Bước 4: Phân tích rủi ro và độ nhậy
Trong thực tế, dự án có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào như các rủi ro do biến động
về kinh tế xã hội, biến động trên thị trường vốn, thay đổi trong chính sách và thể chế
Những rủi ro này làm thay đổi phân tích của dự án, làm sai lệch tính toán hiệu quả của
dự án. Vì vậy, khi tính toán cần có những giả định về dữ liệu nhằm đánh giá những thay
đổi chỉ tiêu khi các yếu tố thay đổi liên quan đến việc đánh giá hiệu quả của dự án.
Phân tích độ nhậy của dự án cho phép đánh giá tác động của sự không chắc chắn
thông qua việc:
•Chỉ ra biến số ảnh hưởng nhiều nhất đến lợi ích xã hội ròng.
•Chỉ ra giá trị của một hay nhiều biến số cụ thể mà tại đó làm cho đánh giá hiệu
quả dự án thay đổi.
•Chỉ ra trong phạm vi của một hay nhiều biến số một phương án là đáng mong
muốn nhất về mặt kinh tế.
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
12
r
r
2
r
1
IRR
NPV
1
NPV
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
Phân tích rủi ro và độ nhạy giúp cho người phân tích hiểu được các yếu tố ảnh
hưởng đến hiệu quả của dự án. Những yếu tố gây tác động mạnh mẽ nhất cũng như các
yếu tố có ít ảnh hưởng cũng sẽ trở nên rõ ràng hơn. Từ đó, các nhà đầu tư có các phương
án dự phòng để hạn chế những rủi ro trong quá trình thực hiện dự án.
1.3.2.5 Bước 5: Kết luận và kiến nghị
Sau khi thực hiện hết các bước trên, chúng ta sẽ có đầy đù các dữ liệu để có một
cái nhìn tổng quát về dự án và hiệu quả của dự án. Trên cơ sở đó, chúng ta đưa ra kết
luận về hiệu quả của dự án. Đồng thời đưa ra các kiến nghị và đề xuất các giải pháp để
khắc phục hạn chế và nâng cao hiệu quả dự án.
1.4. Hấp thụ CO
2
của môi trường rừng được quy định trong CDM
1.4.1. Một số loại rừng trồng ở Việt Nam theo CDM
Để ước tính khả năng hấp thụ CO
2
của một số loại cây trồng dưới đây, các tác giả
đã sử dụng phương pháp lập ô tiêu chuẩn, chọn một số cây để cân đo khối lượng sinh
khối tươi và khô. Từ đó có tổng khối lượng tích luỹ CO
2
trong quá trình quang hợp để
tạo thành sinh khối rừng trồng. Thông qua các kết quả phân tích thu được, các tác giả
đã xây dựng hệ số quy đổi tính lượng CO
2
hấp thụ từ trữ lượng rừng và xây dựng
đường hồi quy tuyến tính giữa lượng CO
2
hấp thụ với năng suất gỗ và năng suất sinh
trưởng học.
Ở Việt Nam, giá trị hấp thụ CO
2
của một số loại rừng trồng như rừng trồng keo
lai, rừng trồng keo tai tượng, rừng trồng keo lá chàm, rừng trồng bạch đàn Urophylla,
… lá rất lớn. Vì vậy những loại cây này là lựa chọn hàng đầu của các nhà lâm nghiệp
khi trồng rừng với mục đích giảm phát thải GHG (theo CDM). Dưới đây sẽ là mô hình
một số loại rừng trồng tiêu biểu.
1.4.1.1 Rừng trồng keo lai
Nghiên cứu tiến hành đo đếm sinh khối và trữ lượng cacbon của rừng trồng keo lai
ở các tuổi từ 2 – 8 tuổi tại một số khu vực : Bắc Kạn, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình,….
nhằm xây dựng mô hình tính toàn trữ lượng cacbon. Dưới đây là số liệu mà tác giả kế
thừa từ nghiên cứu của PGS.TS Ngô Đình Quế và cộng sự:
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế
Chinh
Bảng1.2: Tương quan giữa trữ lượng và khả năng hấp thụ CO
2
của rừng keo
lai
Địa điểm Mật độ
(cây/ha)
Tuổi
(năm)
Trữ
lượng
(m
3
/ha)
A
Sinh khối khô (tấn/ha)
Thân

B
Trên
mặt đất
C
Tổng
D
Cacbon
hấp
thụ(tấn
/ha)
E
CO
2
hấp
thụ(tấn/
ha)
G
Chợ Mới -
Bắc Kạn
1100 2 14,03 6,38 10,44 13,63 7,28 26,69
Hàm Yên –
Tuyên
Quang
1200 2 32,90 13,73 23,29 26,70 13,64 50,03
A Lưới –
Thừa Thiên
Huế
1450 3 30,85 17,81 25,08 31,01 17,94 65,78
HàmYên –
Tuyên
Quang
900 3 91,49 34,31 47,77 53,95 28,68 105,17
Kim Bôi –
Hoà Bình
1650 4 76,07 75,41 108,58 133,09 71,27 261,31
Chợ Mới -
Bắc Kạn
1200 4 72,03 29,94 42,28 50,74 26,24 96,22
HàmYên –
Tuyên
Quang
900 4 104,31 52,17 64,61 8124 42,81 156,97
Hoành Bô -
Quảng
Ninh
1100 5 16719 71,19 83,05 89,72 45,84 168,07
Triệu
Phong -
Quảng Trị
1700 7 170,28 70,20 100,08 116,94 57,93 212,40
Cam Lộ -
Quảng Trị
1400 8 178,87 130,64 151,98 171,08 90,00 330,000
Nguồn: Khả năng hấp thụ CO
2
và một số loại rừng trồng ở Việt Nam – PGS.TS Ngô
Đình Quế và cộng sự.
Để xây dựng mô hình tính toán lượng CO
2
hấp thụ, chúng ta có thể xây
dựng dựa trên mối quan hệ giữa lượng CO
2
hấp thụ với năng suất sinh học và năng
suất gỗ thông qua xây dựng đường hồi quy tuyến tính của keo lai.
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi
trường 48
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét