Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Lâm
Nh vậy, phân công lao động quốc tế là biểu hiện của giai đoạn phát triển
cao của phân công lao động xã hội, là quá trình tập trung hoá sản xuất và cung
cấp một loại hoặc một số loại sản phẩm và dịch vụ vào một quốc gia nhất định,
dựa trên cơ sở những u thế của quốc gia đó về điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoa
học kỹ thuật, công nghệ và xã hội để đáp ứng nhu cầu của các quốc gia khác,
thông qua các hoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó thơng mại quốc tế đóng vai
trò trọng tâm.
Lịch sử phát triển kinh tế quốc tế thế giới cho đến nay đã có 3 kiểu phân
công lao động quốc tế điển hình là : phân công lao động quốc tế t bản chủ
nghĩa, phân công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa và phân công lao động toàn
thế giới. Do những biến động phức tạp trong đời sống chính trị xã hội thế giới,
kể từ sau năm 1991 với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các
nớc Đông Âu, thế giới đơng đại chỉ còn tồn tại và phát triển hai kiểu là phân
công lao động xã hội và phân công lao động toàn thế giới. Nếu gạt bỏ những
sắc thái riêng biệt nhất định, ngày nay ta dễ nhận thấy sự vận động, phát triển
của cả hai kiểu phân công lao động quốc tế này đang có xu hớng tiến tới một
thể thống nhất, mặc dù vẫn luôn chứa đựng nhiều mâu thuẫn phức tạp do tính đa
dạng của nền kinh tế thế giới tạo ra. Cùng với quá trình toàn cầu hoá, khu vực
hoá kinh tế thế giới, là những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ đã thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế đạt tới trình độ sâu
rộng cha từng thấy. Chuyên môn hoá càng phát triển thì quan hệ hiệp tác càng
bền chặt, đó là đặc trng cơ bản của phân công lao động quốc tế ngày nay.
Trong quá trình tái sản xuất mở rộng, do yêu cầu khách quan của việc xã
hội hoá lực lợng sản xuất, các nớc ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau, lệ
thuộc vào nhau. Sự giao lu t bản, trao đổi mậu dịch, do đó, ngày càng phong
phú. Sự phát triển của hệ thống thông tin hiện đại, đặc biệt là kỹ thuật thông tin
vi điện tử và sự phát triển của giao thông vận tải đã tạo điều kiện cho phân công
lao động quốc tế gày càng phát triển, làm tăng quá trình toàn cầu hoá nền kinh
tế thế giới và đời sống của các dân tộc. Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty
xuyên quốc gia càng làm nổi bật tính thống nhất của nền sản xuất thế giới.
Quốc tế hoá nền sản xuất tất yếu dẫn tới các loại liên kết kinh tế. Sự phát
triển của khoa học công nghệ cùng với sự chuyển dịch vốn, kỹ thuật từ các n-
ớc công nghiệp phát triển sang các nớc đang phát triển đã giúp cho nhiều nớc
trở thành nớc công nghiệp mới có đủ tiềm lực kinh tế quay trở lại cạnh tranh với
5
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Lâm
các nớc công nghiệp phát triển. Sự ra đời của hàng loạt các liên minh kinh tế
Nhà nớc ở các khu vực, các tổ chức kinh tế ở khắp các Châu lục, cũng nh sự
hiệp tác và liên minh kinh tế dới nhiều hình thức khác đã đánh dấu sự phân
công lao động sâu sắc và mở rộng quy mô phát triển cha từng có. Hệ quả trực
tiếp là sự tốc độ phát triển ngoại thơng, đặc biệt là xuất khẩu của hầu hết các n-
ớc tham gia vào phân công lao động và thơng mại quốc tế đều đã tăng mạnh và
liên tục trong các thập niên gần đây và hiện nay.Năm 1950, tổng kim ngạch
xuất khẩu của thế giới còn ở mức 59,7 tỷ USD nhng đến năm 1990 nghĩa là 4
thập niên sau đã lên đến con số 3.332 tỷ USD, tăng 57,6 lần bình quân hàng
năm tăng 10,5 %. Điều lu ý là suốt thời kỳ dài, từ sau thế chiến thứ hai đến nay,
nền kinh tế thế giới nói chung và thơng mại quốc tế nói riêng, mặc dù đã trải
qua những bớc thăng trầm trong sự phát triển, nhng nhìn chung tốc độ tăng của
thơng mại quốc tế đều tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản xuất thế giới.
Lý giải về sự tăng nhanh của thơng mại quốc tế có thể bằng nhiều
nguyên nhân khác nhau, song phải thấy có một nguyên nhân cơ bản là nhờ đạt
đợc hiệu quả kinh tế do quá trình phân công lao động quốc tế mang lại. Thực tế
cho thấy những lợi nhuận thu đợc từ thơng mại quốc tế nhờ khai thác sự chênh
lệch về giá cả tơng đối giữa các nớc, tuy rất quan trọng nhng còn ít hơn nhiều so
với lợi nhuận thu đợc nhờ tăng cờng tính đa dạng và chuyên môn hoá theo nhãn
hiệu của từng loại sản phẩm sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau. Thơng mại
trong ngành không chỉ tạo ra các khả năng mở rộng tiêu dùng, thoả mãn nhu
cầu của ngời mua, mà đã trở thành yếu tố cơ bản, quyết định động thái tăng tr-
ởng kim ngạch ngoại thơng hầu hết các nớc thuộc mọi khu vực khác nhau trong
nền kinh tế thế giới. Thơng mại trong ngành là biểu hiện phát triển cao độ của
sản xuất chuyên môn hoá trong giai đoạn hiện nay. Nó không giải thích vì sao
nớc Anh xuất khẩu xe hơi sang Hông Kông nhng lại có thể giải thích một hiện
tợng thực tế nảy sinh mà David Ricardo đã không làm đợc là vì sao Anh xuất
khẩu xe hơi (nh Rovers, Jaguars ) sang Đức, nhng lại nhập xe hơi (nh
Mercedes, Andis ) từ Đức. Điều dễ hiểu là mặc dù đều là xe hơi nhng tất cả
các loại xe hơi do Anh sản xuất đều có những đặc điểm khác so với tất cả các
loại xe hơi do Đức sản xuất. Tơng tự nh vậy, Nhật là cờng quốc về sản xuất tivi
chất lợng cao bởi các nhãn hiệu nổi tiếng nh Sony, JVC, Sanyo nhng vẫn
không ít ngời Nhật thích dùng tivi với các nhãn hiệu khác của nớc ngoài nh
Philip cuả Hà Lan, Sam Sung, Deawoo của Hàn Quốc Lý do chính khiến cho
sự trao đổi thơng mại giữa các nớc về cùng một loại sản phẩm là sự đa dạng của
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Lâm
các nhãn hiệu khác nhau về loại sản phẩm đó, sẽ mang lại những thoả mãn về
nhu cầu của ngời tiêu dùng, do có sự khác nhau về hình thức, mẫu mã, giá cả
Đối với cả ngời sản xuất với ngời tiêu dùng đều có thể tìm thấy những lợi ích cơ
bản sau đây của việc phát triển thơng mại trong ngành.
* Thứ nhất, ngời tiêu dùng thoả mãn đợc nhu cầu lựa chọn trong số nhiều
nhãn hiệu khác nhau của cùng một loại sản phẩm trong ngành.
* Thứ hai, thơng mại trong ngành mang lại lợi thế kinh tế đáng kể nhờ
mức độ mở rộng quy mô chuyên môn hoá sản xuất của mỗi quốc gia về một
loại nhãn hiệu sản phẩm trong ngành, sau đó đem chúng trao đổi với nhau qua
thơng mại quốc tế, thay cho tình trạng trớc đây, mỗi quốc gia đều phải cố gắng
sản xuất những lợng nhỏ của tất cả các nhãn hiệu trong ngành.
Trên đây, chúng ta đã thấy lợi ích của phát triển thơng mại trong ngành là
mang lại hiệu quả kinh tế nhờ quy mô mở rộng của chuyên môn hoá sản xuất về
một loại nhãn hiệu sản phẩm trong ngành. Đối với các nớc có nền kinh tế mở,
quy mô nhỏ (nh Việt Nam), vấn đề này càng có ý nghĩa quan trọng. Thông th-
ờng, ở các nớc này, phạm vi hàng hoá, mà theo đó họ có thể có đợc quy mô
hiệu quả trong sản xuất bị giới hạn nhiều so với các nớc có nền kinh tế quy mô
lớn. Do đó, các nớc này bao giờ cũng có thể mang lại lợi ích kinh tế tơng đối
nhiều hơn so với việc chỉ lo tự cung tự cấp bằng cách sản xuất tất cả các loại sản
phẩm, mỗi thứ một ít với chi phí cao.
b. Lợi ích của thơng mại quốc tế đối với mỗi quốc gia.
Buôn bán nói chung và buôn bán quốc tế nói riêng là hoạt động kinh tế
trao đổi hàng hoá tiền tệ đã có từ lâu đời và sự phát triển của nó luôn luôn gắn
liền với sự phát triển văn minh của xã hội loài ngơì. Nh vậy là con ngời đã sớm
tìm thấy lợi ích của thơng mại quốc tế, nhng để giải thích một cách khoa học về
nguồn gốc của những lợi ích thơng mại quốc tế thì đó đã không phải là vấn đề
đơn giản. Quá trình nghiên cứu của các trờng phái kinh tế khác nhau trong lịch
sử phát triển t tởng kinh tế thế giới đã đa ra những lý thuyết để lý giải vấn đề
này, khẳng định tác động tích cực của thơng mại quốc tế đối với sự tăng trởng
và phát triển kinh tế theo trình tự nhận thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, từ phiến diện đến toàn diện, từ hiện tợng đến bản chất.
* Lý thuyết trọng thơng.
7
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Lâm
Lý thuyết trọng thơng ở Châu Âu đã phát triển từ giữa thế kỷ XV đến
giữa thế kỷ XVIII, với nhiều đại biểu khác nhau: Jean Bodin, Melon, Jully,
Colbert (Pháp), Thomas Mrm, Josias, Chhild, James Stewart (Anh)
Nội dung chính của thuyết này là: Mỗi quốc gia muốn đạt đợc sự thịnh v-
ợng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lợng tiền tệ bằng phát triển
ngoại thơng và mỗi quốc gia chỉ có thể thu đợc lợi ích từ ngoại thơng nếu cán
cân thơng mại mang dấu dơng (hay giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu).
Đợc lợi là vì thặng d của xuất khẩu so với nhập khẩu đợc thanh toán bằng vàng,
bạc và chính vàng, bạc là tiền tệ, là biểu hiện của sự giàu có. Đối với một quốc
gia không có mỏ vàng hay bạc chỉ còn cách duy nhất là trông cậy vào phát triển
ngoại thơng.
Lý thuyết trọng thơng mặc dù có nội dung rất sơ khai và còn chứa đựng
nhiều yếu tố đơn giản, phiến diện, cha cho phép phân tích bản chất bên trong
của các sự vật hiện tợng kinh tế, song đó đã là những t tởng đầu tiên của các
nhà kinh tế học t sản cổ điển nghiên cứu về hiện tợng và lợi ích của ngoại th-
ơng. ý nghĩa tích cực của học thuyết này là đối lập với t tởng phong kiến lúc
bấy giờ là coi trọng kinh tế tự cung, tự cấp. Ngoài ra, những ngời trọng thơng
cũng sớm nhận thức đợc vai trò qua trọng của nhà nớc trong quản lý, điều hành
trực tiếp các hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, bảo hộ
mậu dịch trong nớc để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ, kiểm soát nhập
khẩu, thúc đẩy xuất khẩu.
* Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Trong nhiều tác phẩm của mình, trong đó nổi tiếng nhất là cuốn sách
nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia, Adam Smith
đã đề cao vai trò của thơng mại , đặc biệt là ngoại thơng đã có tác dụng thúc
đẩy nhanh sự phát triển và tăng trởng kinh tế của các nớc, song khác với sự
phiến diện của trọng thơng đã tuyệt đối hoá quá mức vai trò ngoại thơng, ông
cho rằng ngoại thơng có vai trò rất to lớn nhng không phải nguồn gốc duy nhất
của sự giàu có. Sự giàu có không phải do ngoại thơng mà là do công nghiệp, tức
là do hoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lu thông. Theo
ông, hoạt động kinh tế (bao gồm cả hoạt động sản xuất và lu thông) phải đợc
tiến hành một cách tự do, do quan hệ cung cầu và biến động giá cả thị trờng quy
định. Sản xuất cái gì? sản xuất nh thế nào? sản xuất cho ai? Đó là câu hỏi cần đ-
ợc giải quyết ở thị trờng.
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Lâm
Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trởng là do sự tự
do trao đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những
ngành sản xuất có lợi thế tuyệt đối, nghĩa là phải biết dựa vào những ngành sản
xuất có thể sản xuất ra những sản phẩm có chi phí sản xuất nhỏ hơn so với quốc
gia khác, nhng lại thu đợc lợng sản phẩm nhiều nhất, sau đó đem cân đối với
mức cầu ở mức giá lớn hơn giá cân bằng. Chính sự chênh lệch giá nhờ mức cầu
tăng lên ở quốc gia khác làm cho nền kinh tế tăng trởng.
Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối
trong thơng mại quốc tế. Một nớc đợc coi là có lợi thế tuyệt đối so với một nớc
khác trong việc chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực
có thể sản xuất đợc nhiều sản phẩm A hơn là nớc thứ 2.
* Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.
Lý thuyết về lợi thế so sánh trên đây cho thấy một nớc có lợi thế tuyệt
đối so với nớc khác về một loại hàng hoá, nớc đó sẽ thu đợc lợi ích ngoại thơng,
nếu chuyên môn hoá sản xuất theo lợi thế tuyệt đối. Tuy nhiên, do lý thuyết
này chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối nên đã không giải thích đợc vì sao một nớc có
lợi thế tuyệt đối hơn hẳn so với nớc khác, hoặc một nớc không có lợi thế nào
vẫn có thể tích cực tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc
tế để phát triển mạnh các hoạt động thơng mại quốc tế.
Khắc phục những hạn chế của lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và cũng
trả lời những câu hỏi trên đây, năm 1817, trong tác phẩm nổi tiếng của mình
Những nguyên lý của kinh tế chính trị nhà kinh tế học cổ điển ngời Anh
David Ricardo đã đa ra lý thuyết lợi thế so sánh, nhằm giải thích tổng quát
chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thơng mại quốc tế. Nội dung
bao gồm:
Mọi nớc đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi
vì: phát triển ngoại thơng cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nớc.
Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định
của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nớc khác thông qua con đờng thơng
mại quốc tế.
Những nớc có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nớc khác, hoặc bị
kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nớc khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia
vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nớc đều có những lợi thế so sánh
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Lâm
nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số
mặt hàng khác.
Vậy có thể kết luận rằng, một trong những điểm cốt yếu nhất của lý
thuyết lợi thế so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và thơng
mại quốc tế phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối.
Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thơng mại quốc tế.
Liên quan đến lợi thế so sánh, có một khái niệm rất cơ bản trong kinh tế
học đã đợc David Ricardo đề cập đến đó là chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là chi
phí bỏ ra để sử dụng cho một mục tiêu nào đó. Giả sử, một nền kinh tế khép kín
(nền kinh tế đóng) có các nguồn lực nhất định có thể sản xuất ra lơng thực và
quần áo. Thông thờng càng dùng nhiều nguồn lực để sản xuất ra lơng thực thì
càng có ít nguồn lực để sản xuất ra quần áo. Chi phí cơ hội của lơng thực là l-
ợng quần áo bị giảm đi do dùng nguồn lực vào sản xuất quần áo thay cho sản
xuất lơng thực. Nh vậy chi phí cơ hội của một hàng hoá là số lợng những hàng
hoá khác mà ngời sản xuất phải giảm đi để có thể làm thêm ra một đơn vị hàng
hoá đó.
Tóm lại là: Lợi ích thơng mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi
thế so sánh ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể đợc biểu hiện bằng
các chi phí cơ hội khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thơng mại
quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau về các chi phí cơ hội của mỗi
quốc gia. Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tơng đối (chi phí so sánh) để làm ra
sản phẩm hàng hoá khác nhau của mỗi quốc gia, hay nói cách khác, khi các chi
phí cơ hội ở tất cả các quốc gia đều giống nhau thì không có lợi thế so sánh và
cũng không có khả năng nảy sinh các lợi ích do chuyên môn hoá và thơng mại
quốc tế. Đó cũng là nội dung cơ bản của quy luật lợi thế so sánh đã đợc David
Ricardo khẳng định là: các nớc sẽ có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất và xuất
khẩu những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí cơ hội (chi phí so sánh) thấp hơn
so với các nớc khác. Quy luật này đã đợc nhiều nhà kinh tế khác tiếp tục phát
triển, hoàn thiện, trở thành quy luật chi phối động thái phát triển của thơng mại
quốc tế.
* Lý thuyết nguồn lực và Thơng mại Hecksher Ohlin.
Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc những lợi ích của th-
ơng mại quốc tế, nhng lợi thế so sánh do đâu mà có? Vì sao các nớc khác nhau
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Lâm
lại có chi phí cơ hội khác nhau? Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
đã không giải thích đợc những vấn đề trên đây. Để khắc phục những hạn chế
này, hai nhà kinh tế học Thuỵ điển, Eli Hecksher và B.Ohlin trong tác phẩm
Thơng mại liên khu vực và quốc tế xuất bản 1933, đã phát triển lợi thế so
sánh của David Ricardo thêm một bớc bằng việc đa ra mô hình HO để trình
bầy lý thuyết u đãi về nguồn lực sản xuất vốn có. Lý thuyết này đã giải thích
hiện tợng thơng mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi quốc gia
đều hớng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều
yếu tố sản xuất đối với nớc đó là thuận lợi nhất. Nói cách khác, theo lý thuyết
HO, một số nớc này có lợi thế so sánh hơn trong việc sản xuất và xuất khẩu
một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những sản phẩm đó đã
sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà một trong số nớc đó đã đợc u đãi hơn so với
một số nớc khác. Chính sự u đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất
này (bao gồm vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu ) đã khiến một số nớc
đó có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác)
khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó.
Nh vậy, cơ sở lý luận khoa học của lý thuyết HO vẫn chính là dựa vào
lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, nhng ở trình độ phát triển cao hơn
là đã xác định đợc nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự u đãi về các yếu tố
sản xuất mà kinh tế học phát triển đơng đại vẫn gọi là nguồn lực sản xuất. Và
do vậy, lý thuyết HO còn đợc coi là lý thuyết lợi thế so sánh về các nguồn lực
sản xuất vốn có, hoặc vắn tắt hơn là lý thuyết nguồn lực sản xuất vốn có. Đó
cũng chính là lý thuyết hiện đại về thơng mại quốc tế. Sau này, nó còn đợc các
nhà kinh tế học nổi tiếng khác nh Paul Samuelson, james William tiếp tục mở
rộng và nghiên cứu tỷ mỉ hơn để khẳng định t tởng khoa học của định lý HO
hay còn gọi là quy luật HO về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất, trớc đó đã đợc
HecksherOhlin đa ra với nội dung: một nớc sẽ sản xuất loại hàng hoá mà việc
sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tơng đối sẵn có của nớc đó và nhập
khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt và tơng đối khan hiếm
hơn của nớc đó.
Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trớc thực tiễn phát triển phức tạp
của thơng mại quốc tế ngày nay, song quy luật này đang là quy luật chi phối
động thái phát triển của thơng mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn quan
trọng đối với các nớc đang phát triển, đặc biệt đối với nớc kém phát triển, vì vậy
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Lâm
nó đã chỉ ra rằng đối với các nớc này, đa số là những nớc đông dân, nhiều lao
động, nhng nghèo vốn do đó trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá
đất nớc, cần tập trung xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều lao động và
nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn. Sự lựa chọn các sản phẩm xuất
khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có nh vậy sẽ
là điều kiện cần thiết để các nớc kém và đang phát triển có thể nhanh chóng hội
nhập vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, và trên cơ sở lợi ích thơng
mại thu đợc sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trởng và phát triển kinh tế ở những nớc
này.
II. Vị trí, vai trò và các công cụ của chính sách Thơng mại
quốc tế.
1. Vị trí và vai trò của thơng mại quốc tế.
a. Vị trí của thơng mại quốc tế.
Thơng mại quốc tế có vị trí quan trọng trong kinh tế thị trờng ở nớc ta.
Xác định rõ vị trí của thơng mại quốc tế cho phép tác động đúng hớng và tạo đ-
ợc những điều kiện cho thơng mại phát triển.
Trớc hết, thơng mại nói chung và thơng mại quốc tế nói riêng là một bộ
phân hợp thành của tái sản xuất. Thơng mại nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng.
ở vị trí cấu thành của tái sản xuất, thơng mại đợc coi nh hệ thống dẫn lu, tạo sự
liên tục của quá trình tái sản xuất. Khâu này bị ách tắc sẽ dẫn đến sự khủng
hoảng của sản xuất và tiêu dùng. Thơng mại là lĩnh vực kinh doanh cũng thu
hút trí lực và tiền vốn của những nhà đầu t để thu lợi nhuận, thậm chí siêu lợi
nhuận. Bởi vậy kinh doanh thơng mại trở thành ngành sản xuất vật chất thứ hai.
b. Vai trò của thơng mại quốc tế.
* Vai trò của thơng mại quốc tế trong nền kinh tế quốc dân.
Thơng mại quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới kinh tế thông
qua việc sử dụng tốt hơn nguồn vốn lao động và tài nguyên của đất nớc, tăng
giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả sản xuất, tạo
vốn và kỹ thuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nớc, kích thích sự phát triển
của lực lợng sản xuất, làm bật dậy các nhu cầu tiềm tàng của ngời tiêu dùng.
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Lâm
Thơng mại quốc tế góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, từng
bớc đa thị trờng nớc ta hội nhập với thị trờng thế giới, biến nớc ta thành bộ phận
của phân công lao động quốc tế. Đó cũng là con đờng để đa kinh tế nớc ta có b-
ớc phát triển nhảy vọt và nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên trờng quốc
tế.
* Vai trò của thơng mại quốc tế ở doanh nghiệp.
Thơng mại quốc tế là một bộ phận của thơng mại cho nên trớc hết nó là
mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Thông qua thơng mại quốc tế các doanh
nghiệp có thể tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.
Thơng mại quốc tế giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh
nghiệp diễn ra bình thờng và nâng cao vị thế của doanh nghiệp, tạo thế và lực
cho doanh nghiệp không những ở thị trờng quốc tế mà cả thị trờng trong nớc
thông qua việc mua bán hàng hoá ở thị trờng trong và ngoài nớc, cũng nh việc
mở rộng các quan hệ bạn hàng.
Thơng mại quốc tế có vai trò điều tiết, hớng dẫn sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
2. Các công cụ chủ yếu của chính sách thơng mại quốc tế.
Chính sách thơng mại quốc tế là chính sách của nhà nớc bao gồm một hệ
thống nguyên tắc và biện pháp thích hợp đợc áp dụng để điều chỉnh hoạt động
ngoại thơng phù hợp với lợi ích chung của Nhà nớc trong từng giai đoạn. Chính
sách thơng mại quốc tế là một hệ thống chính sách của Nhà nớc nó phục vụ đắc
lực cho đờng lối phát triển kinh tế trong mỗi thời kỳ. Nó ảnh hởng tới quá trình
tái sản xuất xã hội và sự tham gia của nền kinh tế quốc dân vào quá trình phân
công lao động quốc tế.
Chính sách thơng mại quốc tế có liên quan mật thiết với chính sách đối
ngoại của Đảng và Nhà nớc ta. Nó là công cụ có hiệu lực để thực hiện chính
sách đối ngoại, mở mang quan hệ hợp tác hữu nghị với các nớc trong khu vực
và thế giới. Đồng thời chính sách đối ngoại tạo điều kiện giúp các tổ chức kinh
tế tiếp cận với thị trờng, khách hàng nớc ngoài để mở rộng hoạt động thơng mại
quốc tế.
Nhiệm vụ của chính sách thơng mại quốc tế của Nhà nớc là tạo điều kiện
thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh tham gia vào phân công lao động quốc tế,
13
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Lâm
mở mang hoạt động xuất nhập khẩu và bảo vệ thị trờng nội địa nhằm đạt mục
tiêu, yêu cầu kinh tế, chính trị, xã hội trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
Những công cụ và chính sách chủ yếu đợc áp dụng trong thơng mại quốc
tế là:
a. Chính sách thuế quan.
* Khái niệm:
Thuế quan là một loại thuế đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu nhằm đạt
đợc những mục tiêu nhất định nh tăng thu ngân sách nhà nớc, hạn chế nhập
khẩu hoặc xuất khẩu
Thuế quan xuất khẩu áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu và áp dụng với
phạm vi hạn chế và mức thuế suất không cao. Thờng áp dụng đối với các mặt
hàng truyền thống với thuế suất không ảnh hởng đến cung cầu.
Thuế quan nhập khẩu áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và sử dụng t-
ơng đối phổ biến ở các nớc trên thế giới với các mức thuế suất rất khác nhau đối
với từng nhóm hàng hoá cụ thể và tuỳ theo điều kiện từng nớc.
* Tác động của thuế quan.
Đợc phân tích với trờng hợp một nớc nhỏ áp dụng thuế quan nhập khẩu
sẽ có ảnh hởng đối với sản xuất, tiêu dùng, phân phối thu nhập qua mô hình đ-
ờng cung, đờng cầu nh sau:
Trong đó:
S, D là đờng cung và đờng cầu trong nớc.
P
0
và P
w
là giá hàng hoá nhập khẩu trong điều kiện tự do thơng mại .
P
t
: Giá hàng nhập khẩu sau khi đánh thuế nhập khẩu với thuế suất là t.
P
t
= P
0
+ T = P
0
(1 + t)
14
P D S
P
t
B C
P
o
A H G E P
w
0 Q
1
Q
3
Q
4
Q
2
Q
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét