Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
MMDS
Multichanel Multipoint
Distribution System
Hệ thống phân phối đa điểm
đa kênh
MPEG Motion Picture Experts Group
Nhóm chuyên gia hình ảnh
động
MODEM Modulation/Demodulation Điều chế/giải điều chế
MUX Multiplexer Bộ ghép kênh
NEXT Near End Crosstalk Xuyên âm đâu gần
NIC Network Interface Card Card giao diện mạng
NID Network Interface Device Thiết bị giao diện mạng
NRZ Non Return Zeror Mã đường truyền NRZ
NSP Network Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ mạng
NT Network Termination Kết cuối mạng
NTU Network Termination Unit Khối kết cuối mạng
NVOD Near Video On Demand
Dịch vụ video gần theo thêu
cầu
ONU Optical Network Unit Đơn vị mạng quang
PAM
Pulse Amplitude
Modulatedtion
Điều chế biên độ xung
PBX Private Branch Exchange Tổng đài cơ quan
PON Pasive Optical Network Mạng quang thụ động
POTS Plain Old Telephone Service Dịch vụ thoại thông thường
PPP Point-to-Point Protocol Giao thức điểm điểm
PRA Primary Rate Access Truy cập tốc độ sơ cấp
PRI Primary Rate Interface Giao diện tốc độ sơ cấp
PSD Power Spectral Density Mật độ phổ công suất
PSTN
Public Switch Telephone
Network
Mạng điện thoại chuyển
mạch công cộng
QAM
Quarature Amplitude
Modullation
Điều chế biên độ cầu phương
QoS Quality of Service Chất lượng dịch vụ
QPSK Quadrature Phase Shift Keying Khoá dịch pha cầu phương
RADSL Rate Adaptive DSL
Đường thuê bao số tốc độ
thích ứng
RJ45
Modul kết nối 8 dây tiêu
chuẩn
RF Radio Frequency Tần số vô tuyến
RFI Radio Frequency Interference Nhiễu tần số vô tuyến
RT Remote Terminal Thiết bị đầu cuối xa
SDSL Single pair DSL Đường thuê bao số đơn
SNR Signal to Noise Ratio Tín hiệu trên tỷ lệ tạp âm
SYN Synchronization Symbol Ký hiệu đồng bộ
Vi Thị Huệ - C07VT2 5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
TCM Trellis Code Modulation Điều chế mã hoá lưới
TDD Time Division Duplexed
Phương thức truyền dẫn song
công phân chia theo thời gian
TDM Time Division Multiplexing
Ghép kênh phân chia theo
thời gian
UTP Unshielded Twisted Pair Đôi dây xoắn không bọc kim
VC Virtual Channel Kênh ảo
VCI Virtual Channel Identification Nhận dạng kênh ảo
VPI Virtual Path Identifier Nhận dạng đường ảo
VDSL Very High Data Rate DSL
Đường dây thuê bao số tốc độ
rất cao.
VoD Video on Demand Video theo yêu cầu
VoDSL Voice overDSL Dịch vụ thoại qua DSL
VTU-O
VDSL Transmission Unit at
the ONU
Đơn vị truyền dẫn VDSL tại
ONU
VTU-R
VDSL Transmission Unit at
the Remote site
Đơn vị truyền dẫn VDSL từ
xa
WLL Wireless Local Loop Mạch vòng vô tuyến nội hạt
xDSL x Digital Subscriber Loop
Họ công nghệ đường dây
thuê bao số
Vi Thị Huệ - C07VT2 6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
MỞ ĐẦU
Ngày nay xu hướng phát triển hội tụ mạng PSTN, mạng số liệu và các mạng
khác đang tồn tại độc lập ở Việt Nam thành mạng NGN là một tất yếu. Tuy nhiên
lộ trình nâng cấp mạng phải trải qua nhiều giai đoạn do có nhiều yếu tố khác nhau
tác động. Xét về góc độ mạng truy nhập, hiện nay cáp đồng vẫn là môi trường
truyền dẫn chính trong mạng truy nhập, chiếm tới khoảng 94%. Mạng truy nhập
cáp đồng truyền thống có nhiều nhược điểm hạn chế khả năng cung cấp không
chỉ các dịch vụ mới, nhất là các dịch vụ băng rộng, mà ngay cả đối với các dịch
vụ truyền thống như thoại. Mặt khác sự thay đổi của cơ cấu dịch vụ là yếu tố then
chốt ảnh hưởng đến sự phát triển của mạng truy nhập. Khách hàng yêu cầu không
chỉ là các dịch vụ thoại/fax truyền thống, mà cả các dịch vụ số tích hợp, thậm chí
cả truyền hình kỹ thuật số độ phân giải cao. Mạng truy nhập truyền thống rõ ràng
chưa sẵn sàng để đáp ứng các nhu cầu dịch vụ này. Trong khi việc cáp quang hoá
hoàn toàn mạng viễn thông chưa thực hiện được vì giá thành các thiết bị quang
vẫn còn cao thì việc tận dụng cơ sở hạ tầng rất lớn này là rất cần thiết và có lợi.
Công nghệ đường dây thuê bao số (xDSL) là một giải pháp hợp lý trong giai đoạn
hiện nay. Trên thế giới nhiều nước đã áp dụng công nghệ này và đã thu được
thành công đáng kể. Ở Việt Nam công nghệ xDSL mà phổ biến là ADSL cũng đã
được triển khai trong những năm gần đây và đã thu được những thành công nhất
định về mặt kinh tế cũng như giải pháp mạng đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng.
Người sử dụng Internet tại Việt Nam ngày càng có nhiều nhu cầu khai thác
Internet ở mức độ cao hơn như gọi điện thoại Internet, khai thác mạng ảo dùng
riêng VPN, tổ chức hội thảo trực tuyến, xem video theo yêu cầu (VOD), nghe
nhạc, chơi game trực tuyến ADSL chính là phương tiện giúp họ thực hiện các
nhu cầu này với chi phí thấp. ADSL - Asymmetric Digital Subscriber Line
(Đường thuê bao kỹ thuật số không đối xứng) là một công nghệ mới cung cấp kết
nối tới các thuê bao qua đường cáp điện thoại với tốc độ cao cho phép người sử
Vi Thị Huệ - C07VT2 7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
dụng kết nối Internet 24/24 mà không ảnh hưởng đến việc sử dụng điện thoại và
fax. Tốc độ download từ 2-8 Mbps, tốc độ upload tối đa 640 Kbps.
Số thuê bao đăng ký dịch vụ ADSL trong thời gian qua đã tăng rất nhanh
trong cả nước. Thống kê của Bộ Bưu chính Viễn thông cho thấy năm nhà cung
cấp dịch vụ Intemet ADSL lớn gồm VDC, FPT, Viettel, Netnam và Saigon Postel
(SPT) hiện nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu sử dụng ADSL. Thị
trường Internet băng rộng Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng và đang ngày càng
thu hút đông đảo người sử dụng. Tuy nhiên, do các doanh nghiệp chưa dự tính
được hết nhu cầu của khách hàng nên tốc độ đầu tư chưa đáp ứng được dẫn đến
tình trạng sốt Internet, nhất là dịch vụ ADSL. Hiện nay VNPT đã nâng dung
lượng đường truyền lên 10 Gbps. Động thái này sẽ châm ngòi cho cuộc đua nâng
cấp mở rộng mạng của các nhà cung cấp khác.
Sau một thời gian nghiên cứu, được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo
Ths.Nguyễn Đình Long và được thực tập tại Trung Tâm Viễn thông Thanh Oai -
Công ty Điện thoại 3 Hà Nội. Em đã nghiên cứu tổng quan về dịch vụ ADSL và
quy trình khai thác, lắp đặt thuê bao ADSL. Tuy nhiên vì thời gian và kiến thức
còn nhiều hạn chế nên bản báo cáo này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
sót, em rất mong nhận được sự góp ý giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa
Viễn thông và các bạn để bản báo cáo thực tập của em được hoàn thiện tốt hơn.
Nội dung bản báo cáo thực tập tốt nghiệp gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về công nghệ ADSL
- Chương 2: Quy trình đo thử và lắp đặt thuê bao.
- Chương 3: Kết luận
Hà nội, ngày 22 tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Vi Thị Huệ
Vi Thị Huệ - C07VT2 8
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ ADSL
1.1 Khái niệm về ADSL và mô hình tham chiếu
Hiểu một cách đơn giản nhất, ADSL là sự thay thế với tốc độ cao cho
thiết bị Modem hoặc ISDN giúp truy nhập Internet với tốc độ cao và nhanh
hơn. ADSL là công nghệ thông tin băng rộng mới cho phép truy nhập tốc độ
rất cao tới Internet và mạng thông tin số liệu bằng cách sử dụng đường dây
điện thoại sẵn có tại nhà. ADSL vượt trội các Modem điện thoại thông thường
ở mọi khía cạnh. Các biểu đồ sau chỉ ra các tốc độ cao nhất có thể đạt được
giữa các dịch vụ cung cấp
Hình 1. 1 So sánh tốc độ truy cập Internet giữa ADSL với ISDN và
Modem thoại thông thường
ADSL là viết tắt của Asymmetric Digital Subscriber Line - đó là đường
thuê bao số không đối xứng, là kỹ thuật truyền được sử dụng trên đường dây từ
Modem của thuê bao tới Nhà cung cấp dịch vụ.
Asymmetric: Tốc độ truyền không giống nhau ở hai chiều. Tốc độ của
chiều xuống (từ mạng tới thuê bao) có thể nhanh gấp hơn 10 lần so với tốc độ
của chiều lên (từ thuê bao tới mạng). Ðiều này phù hợp một cách tuyệt vời cho
việc khai thác dịch vụ Internet khi mà chỉ cần nhấn chuột (tương ứng với lưu
lượng nhỏ thông tin mà thuê bao gửi đi) là có thể nhận được một lưu lượng lớn
dữ liệu tải về từ Internet.
Digital: Các Modem ADSL hoạt động ở mức bit (0 & 1) và dùng để
chuyển thông tin số hoá giữa các thiết bị số như các máy tính PC. Chính ở khía
cạnh này thì ADSL không có gì khác với các Modem thông thường.
Subscriber Line: ADSL tự nó chỉ hoạt động trên đường dây thuê bao
bình thường nối tới tổng đài nội hạt. Ðường dây thuê bao này vẫn có thể được
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
tiếp tục sử dụng cho các cuộc gọi đi hoặc nghe điện thoại cùng một thời điểm
thông qua thiết bị gọi là "Splitters" có chức năng tách thoại và dữ liệu trên
đường dây.
Hình 1. 2 Mô hình tham chiếu ADSL
- ATU-C: Khối truyền dẫn ADSL phía tổng đài
- ATU-R: Khối truyền dẫn ADSL phía thuê bao
- POTS : Các dịch vụ thoại đơn thuần.
- PSTN : Mạng chuyển mạch thoại công cộng
- Mạng băng rộng là hệ thống chuyển mạch với tốc độ trên 1,5/2,0 Mbps
(tốc độ của luồng T1/E1).
- Mạng băng hẹp là hệ thống chuyển mạch với tốc độ dưới 1,5/2,0
Mbps. (Tổng đài PSTN - 64 kbit/s)
- Mạng phân bố dữ liệu trong nhà thuê bao là hệ thống kết nối ATU-R
tới các modul dịch vụ. Có thể là điểm-điểm hoặc điểm - đa điểm.
- SM: Modul dịch vụ để thích ứng đầu cuối
- Splitter : Bộ chia bao gồm bộ lọc thông cao HPF và thông thấp LPF
làm nhiệm vụ phân tách thoại và số liệu.
Vi Thị Huệ - C07VT2 10
Mạng
băng rộng
Bộ tách
R
Bộ tách
C
PSTN
NT
T-R
SM
SM
P
H
Y
V-C
U-C 1
U-C 2
U-R 1
U-R 2
HPF
LPF
Đường tín hiệu
Giao diện
ATU-C
POTS
T-S
P
H
Y
ATU-R
mạch
vòng
Mạng
trong nhà
thuê bao
Mạng
băng hẹp
Điện thoại hoặc
modem âm tần
HPF
LPF
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
- U-C 1 là giao diện giữa mạch vòng và bộ chia phía tổng đài bao gồm
cả băng thoại
- U-R 1: Giao diện giữa mạch vòng bộ chia phía khách hàng không có
băng thoại
- U-C 2: Giao diện giữa bộ chia và ATU-C không có băng thoại POTS
- U-R 2: Giao diện giữa bộ chia và ATU-R
- V-C: Giao diện giữa ATU-C và mạng băng rộng
- T-S: Giao diện giữa mạng trong nhà thuê bao và máy chủ khách
hàng. Một ATU-R có thể có nhiều loại giao diện T-S khác nhau (ví dụ
T1/E1 và một giao diện Ethernet).
- T-R: Giao diện ADSL giữa ATU-R và mạng trong nhà thuê bao.
Mạng trong nhà thuê bao có thể là một mạng cục bộ chẳng hạn như mạng LAN
hoặc có thể không phải là như thế trong trường hợp một kết nối trực tiếp giữa
một modem và một PC hoặc một card modem cắm trong ADSL và bus máy
tính.
1.2 Lịch sử phát triển ADSL
Khái niệm ban đầu của ADSL xuất hiện từ năm 1989, từ J.W.Lechleider
và những người khác thuộc Bellcore. Sự phát triển ADSL bắt đầu ở trường đại
học Stanford và phòng thí nghiệm AT&T Bell Lab năm 1990. Mẫu ADSL đầu
tiên xuất hiện vào năm 1992 ở phòng thí nghiệm Bellcore, sản phẩm ADSL
đầu tiên được thử nghiệm vào năm 1995.
Vào tháng 10 năm 1998, ITU thông qua bộ tiêu chuẩn ADSL cơ bản.
Khuyến nghị G922.1 chi tiết ADSL full-rate.
Ban đầu ADSL được nghiên cứu ở tốc độ 1,5 Mbit/s thu và 16 kbit/s phát
cho ứng dụng MPEG-1 quay số video (VDT). Một số thành viên trong nghành
công nghiệp này gọi đây là ADSL1. Sau đó, ADSL2 được đưa ra cho phép 2
dòng MPEG-1 đồng thời được truyền tốc độ cao hơn 3 Mbit/s thu và 16 kbit/s
phát . Vào năm 1993, sự quan tâm hướng về ADSL3 với 6 Mbit/s thu và ít nhất
64 kbit/s phát hỗ trợ video MPEG2. Tiêu chuẩn ADSL ANSI T1.413 phiên bản
1 phát triển vượt ra khỏi khái niệm ADSL3. Thuật ngữ ADSL1, ADSL2, và
ADSL3 ít được sử dụng sau khi tiêu chuẩn ANSI T1.413 thông qua.
Tiếp theo đó dường dây thuê bao số tốc độ điều chỉnh (RADSL) là thuật
ngữ áp dụng cho hệ thống ADSL có khả năng xác định dung lượng truyền của
mỗi mạch vòng một cách tự động và sau đó hoạt động ở tốc độ cao nhất phù
hợp với mạch vòng đó. Tiêu chuẩn ANSI T1.413 cung cấp khả năng hoạt động
tốc độ điều chỉnh. Điều chỉnh tốc độ thực hiện khi thiết lập đường dây, với giới
Vi Thị Huệ - C07VT2 11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
hạn chất lượng tín hiệu thích hợp để đảm bảo rằng tốc độ đường dây thiết lập
có thể duy trì trong những thay đổi danh định trên đặc tính truyền của đường
dây. Do đó RADSL sẽ tự động cung cấp tốc độ bit lớn hơn trên mạch vòng có
đặc tính truyền dẫn tốt hơn (suy hao ít hơn, nhiễu ít hơn). RADSL hỗ trợ tốc độ
thu tối đa trong phạm vi từ 7 đến 10 Mbit/s và tốc độ phát tối đa trong phạm vi
từ 512 đến 900 kbit/s. Trên những mạch vòng dài (5,5 km hoặc lớn hơn).
RADSL có thể hoạt động ở tốc độ thu thấp nhất khoảng 512 kbit/s và 128 kbit/
s phát. RADSL mượn khái niệm tốc độ điều chỉnh từ modem trong băng thoại.
RADSL có lợi ích của một phiên bản thiết bị có thể đảm bảo tốc độ truyền dẫn
cao nhất có thể cho mỗi mạch vòng và cũng cho phép hoạt động trên những
mạch vòng dài ở tốc độ thấp hơn.
1.3 Ứng dụng của ADSL
ADSL xác lập cách thức dữ liệu được truyền giữa thuê bao (nhà riêng
hoặc công sở) và thiết bị DSLAM ở bưu điện trên chính đường dây điện thoại
bình thường. Chúng ta vẫn thường gọi các đường dây này là local loop.
Thực chất của ứng dụng ADSL không phải ở việc truyền dữ liệu đi/đến
tổng đài điện thoại nội hạt mà là tạo ra khả năng truy nhập Internet với tốc độ
cao. Như vậy, vấn đề nằm ở việc xác lập kết nối dữ liệu tới Nhà cung cấp dịch
vụ Internet. Mặc dù chúng ta cho rằng ADSL được sử dụng để truyền dữ liệu
bằng các giao thức Internet, nhưng trên thực tế việc thực hiện điều đó như thế
nào lại không phải là đặc trưng kỹ thuật của ADSL. Hiện nay, phần lớn người
ta ứng dụng ADSL cho truy nhập Internet tốc độ cao và sử dụng các dịch vụ
trên Internet một cách nhanh hơn.
1.4 Cơ chế hoạt động với ADSL
ADSL tìm cách khai thác phần băng thông tương tự còn chưa được sử
dụng trên đường dây nối từ thuê bao tới tổng đài nội hạt. Ðường dây này được
thiết kế để chuyển tải dải phổ tần số (frequency spectrum) chiếm bởi cuộc thoại
bình thường. Tuy nhiên, nó cũng có thể chuyển tải các tần số cao hơn dải phổ
tương đối hạn chế dành cho thoại. Ðó là dải phổ mà ADSL sử dụng.
Vi Thị Huệ - C07VT2 12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
Hình 1. 3 Phân bổ phổ tần trên đường dây điện thoại
Thoại cơ bản sử dụng dải tần số từ 300Hz tới 3400Hz.
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét, thoại và dữ liệu ADSL chia sẻ cùng một
đường dây thuê bao ra sao. Trên thực tế, các Splitter được sử dụng để đảm bảo
dữ liệu và thoại không xâm phạm lẫn nhau trên đường truyền.
Các tần số mà mạch vòng có thể chuyển tải, hay nói cách khác là khối
lượng dữ liệu có thể chuyển tải sẽ phụ thuộc vào các nhân tố sau:
- Khoảng cách từ tổng đài nội hạt.
- Kiểu và độ dày đường dây.
- Kiểu và số lượng các mối nối trên đường dây.
- Mật độ các đường dây chuyển tải ADSL, ISDN và các tín hiệu phi thoại
khác.
- Mật độ các đường dây chuyển tải tín hiệu radio.
1.5 Ưu điểm của ADSL so với PSTN & ISDN
+PSTN và ISDN là các công nghệ quay số (Dial-up).
+ADSL là "liên tục/always-on" kết nối trực tiếp.
+PSTN và ISDN cho phép chúng ta sử dụng Fax, dữ liệu, thoại, dữ liệu
tới Internet, dữ liệu tới các thiết bị khác.
+ADSL chỉ chuyển tải dữ liệu tới Internet.
+PSTN và ISDN cho phép chúng ta tuỳ chọn ISP nào mà ta muốn kết nối.
+ADSL kết nối chúng ta tới một ISP định trước.
+ISDN chạy ở tốc độ cơ sở 64kbps hoặc 128kbps.
+ADSL có thể tải dữ liệu về với tốc độ tới 8Mbps.
+PSTN ngắt truy nhập tới Internet khi chúng ta thực hiện cuộc gọi.
+ADSL cho phép vừa sử dụng Internet trong khi vẫn có thể thực hiện
cuộc gọi đồng thời.
+Kết nối Internet qua đường PSTN và ISDN bằng phương thức quay số
có tính cước nội hạt.
+ADSL không tính cước nội hạt.
+Mặc dù Modem ADSL luôn ở chế độ kết nối thường trực, nhưng vẫn có
thể cần phải thực hiện lệnh kết nối Internet trên máy PC.
+Các dịch vụ như Fax và thoại có thể được thực hiện cũng trên kết nối dữ
liệu ADSL tới Internet.
+Trên thực tế, tốc độ Download tiêu biểu đối với dịch vụ ADSL gia đình
thường đạt tới (up to) 400kbps
+Dùng bao nhiêu, trả bấy nhiêu. Cấu trúc cước theo lưu lượng sử dụng
(Hoặc theo thời gian sử dụng).
Vi Thị Huệ - C07VT2 13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
+Không hạn chế số người sử dụng khi chia sẻ kết nối Internet trong
mạng
1.6 Cấu trúc mạng sử dụng công nghệ ADSL
Hình 1. 4 Cấu trúc của hệ thống ADSL
Kiến trúc dịch vụ end-to-end ADSL tiêu biểu được mô tả trong hình sau.
Hình 1. 5 Kiến trúc mạng ADSL chuẩn
Nó bao gồm customer premises equipment (CPE) và các thiết bị hỗ trợ
ADSL tại point of presence (POP). Network access providers (NAPs) quản lý
mạng lõi Layer 2 trong khi đó network service providers (NSPs) quản lý mạng
Vi Thị Huệ - C07VT2 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét