Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Bảo hiểm Gián đoạn Kinh Doanh tại Bảo việt Hà nội

vai trò quan trọng của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh trong việc đảm bảo hoạt động
sản xuất kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế, tạo tâm lý ổn định cho các nhà đầu
t,
Tóm lại, nếu ta coi bảo hiểm thiệt hại vật chất là điều kiện cần thì bảo hiểm gián
đoạn kinh doanh sẽ là điều kiện đủ trong một đơn bảo hiểm hỗn hợp.
1.1.2.Vai trò kinh tế xã hội của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
1.1.2.1.Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "lá chắn kinh tế" của các doanh nghiệp,
góp phần giảm thiểu những hậu quả ảnh hởng của các rủi ro đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp
Trong cuộc sống hàng ngày cũng nh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp đôi khi xảy ra những rủi ro bất ngờ mà không ai lờng trớc đợc. Các rủi
ro đã và đang gây nên những tổn thất, thiệt hại về tài sản, về tính mạng của con ng-
ời, làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đợc
ứng dụng trong sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho qui mô của hoạt động sản xuất
kinh doanh ngày càng mở rộng. Do vậy, giá trị tài sản của doanh nghiệp ngày càng
lớn. Nếu chẳng may rủi ro thiệt hại xảy ra thì hậu quả thờng rất nặng nề và ảnh hởng
lâu dài không chỉ tới bản thân chính doanh nghiệp mà còn ảnh hởng đến cả các
doanh nghiệp, cá nhân thờng xuyên có quan hệ với doanh nghiệp. Sự ra đời của các
công ty bảo hiểm đã giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh ổn định tình hình sản xuất,
đảm bảo công việc kinh doanh đợc tiến hành bình thờng. Thông qua việc bồi thờng
một cách kịp thời, chính xác, trung thực đã giúp cho các doanh nghiệp nhanh chóng
khắc phục đợc hậu quả thiệt hại. Bên cạnh đó, với sự chuyển đổi của cơ chế quản lý,
Nhà nớc đã chủ động giao vốn cho các doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp
Nhà nớc. Trong việc bảo tồn và phát triển vốn, các doanh nghiệp không có sự hỗ trợ
nhiều của Nhà nớc nh trong thời kỳ bao cấp trớc đây. Nếu khi có thiệt hại gì xảy ra,
doanh nghiệp không đợc quyền ghi giảm vốn đặc biệt là những thiệt hại gây ra bởi
các rủi ro các công ty bảo hiểm trong nớc đã triển khai hay với các loại hình tơng tự.
Vì vậy bảo hiểm sẽ là "lá chắn kinh tế" để đảm bảo sự bảo toàn vốn cho các doanh
5
nghiệp khi không may gặp phải những thiệt hại của thiên tai hoặc do sự sơ suất vô ý
của ngời lao động.
Trên thực tế, sau khi rủi ro xảy ra đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh thì hầu nh mọi hoạt động không thể tiến hành bình thờng nh kế hoạch đã đặt
ra trớc. Từ đó dẫn đến nhiều khoản tổn thất không đợc bồi thờng trong đơn bảo hiểm
tài sản nh chi phí về thuê nhà, trụ sở, chi trả lơng công nhân viên Để khắc phục
tình trạng doanh nghiệp có thể bị phá sản hoặc lâm vào tình thế khó khăn khi phải
đối mặt với các tổn thất đó, tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là cách tốt nhất
để bù đắp thiệt hại. Khi tham gia loại hình bảo hiểm này, nếu tổn thất xảy ra, các cơ
quan, doanh nghiệp không những đợc bồi thờng cho những khoản chi phí nói trên
mà còn đợc bù đắp phần lợi nhuận ròng bị mất mát mà lẽ ra họ có thể nhận đợc nếu
nh không có tổn thất xảy ra. Vậy cùng với đơn bảo hiểm tài sản, bảo hiểm gián đoạn
kinh doanh đã góp phần làm hạn chế đến mức tối thiểu những hậu quả ảnh hởng của
các rủi ro tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
1.1.2.2.Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần mang lại sự an toàn trong xã hội
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa nh hiện nay, nớc ta đã thu hút đợc lợng lớn vốn
đầu t không những của các nhà đầu t trong nớc mà còn của các nhà đầu t nớc ngoài.
Các nhà đầu t, vì mục đích kinh doanh của mình, luôn quan tâm đến việc bảo toàn
và phát triển vốn, làm sao có thể an toàn nhất tránh các rủi ro đáng tiếc xảy ra với
đồng vốn của họ. Tuy nhiên, trong sản xuất kinh doanh có nhiều yếu tố rủi ro mang
tính ngẫu nhiên xảy ra bất cứ lúc nào và không loại trừ bất cứ ai. Các công ty bảo
hiểm là các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động trên cơ sở xử lý, chuyển giao, phân
tán rủi ro, vì vậy để hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, cần thiết các doanh
nghiệp bảo hiểm phải tìm cách giảm thiểu xác suất xảy ra rủi ro. Một trong số các
biện pháp mà các doanh nghiệp bảo hiểm đang áp dụng rất hiệu quả đó là biện pháp
đề phòng, hạn chế tổn thất nhằm bảo vệ đối tợng bảo hiểm. Hàng năm, các công ty
bảo hiểm thờng trích ra một khoản theo tỉ lệ nhất định trên cơ sở nguồn phí thu đợc
để thực hiện các biện pháp phòng tránh cần thiết có hiệu quả nhất. Phí thu đợc từ
các đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tất yếu sẽ có phần đóng góp trong đó. Vì
vậy, có thể nói bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần đề phòng, hạn chế tổn thất,
6
mang lại sự an toàn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng và cho toàn
xã hội nói chung.
1.1.2.3.Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nớc,
thúc đẩy kinh tế phát triển
Cũng nh nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nói riêng và những loại hình kinh doanh
dịch vụ khác nói chung, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngân
sách Nhà nớc, đặc biệt tăng nguồn thu từ ngoại tệ cho Nhà nớc. Một phần nguồn phí
thu đợc từ nghiệp vụ bảo hiểm này hàng năm đợc đóng góp vào ngân sách Nhà nớc
để sử dụng vào các mục đích chính trị, xã hội. Ngoài ra, một phần phí thu đợc tạm
thời nhàn rỗi từ các hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã tạo ra lợng vốn lớn
để phát triển nền kinh tế thông qua việc đầu t.
Tất cả những gì đã nêu trên là minh chứng rõ ràng và đầy đủ cho sự cần thiết của
việc tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh.
1.2.Những nội dung cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
1.2.1.Đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh "bảo hiểm cho các tổn thất mất giảm thu nhập thực
tế và tiềm năng cũng nh các phụ phí phát sinh từ hậu quả của tổn thất vật chất"
[3,5/7]. Do vậy, nó có một số các đặc điểm riêng biệt so với các loại bảo hiểm khác
nh sau:
- Đặc điểm về đối tợng bảo hiểm:
Khi có một rủi ro xảy ra, ví dụ một vụ hoả hoạn, gây thiệt hại tài sản, ngời đợc bảo
hiểm sẽ đợc bảo hiểm theo đơn bảo hiểm tài sản (cụ thể là đơn bảo hiểm hoả hoạn
và các rủi ro đặc biệt). Với số tiền bảo hiểm nhận đợc, ngời đợc bảo hiểm có thể có
đủ khả năng khôi phục lại cơ sở hạ tầng, mua lại các thiết bị, máy móc, phục vụ
cho việc sử dụng nh trớc khi xảy ra rủi ro. Tuy vậy, nếu nh số tài sản bị thiệt hại
đang đợc sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh thì nhà kinh doanh sẽ phải chịu
cả những thiệt hại về mặt kinh doanh nh mất lợi nhuận, mất khả năng kinh doanh
trong một thời gian nhất định. Hơn thế nữa, anh ta phải chịu những chi phí nh chi
7
phí thuê nhà xởng, chi phí trả lơng cho công nhân viên, lãi suất ngân hàng, mặc dù
không thực hiện sản xuất kinh doanh hoặc những chi phí thuê nhà xởng, máy móc
tạm để tiếp tục sản xuất kinh doanh trong thời gian sửa chữa, phục hồi cơ sở sản
xuất. Nói cách khác, tuỳ vào mức độ thiệt hại gây ra mà công việc kinh doanh bình
thờng của ngời đợc bảo hiểm sẽ bị ngng trệ hoặc giảm sút. Chúng ta hãy cùng xem
xét ví dụ minh hoạ sau đây:
Hình dới đây miêu tả tổn thất về doanh thu có thể xảy ra sau một vụ cháy nghiêm
trọng. Cần chú ý rằng doanh thu (số tiền doanh nghiệp thu đợc) sẽ chỉ trở lại bình
thờng sau 9 tháng kể từ khi có vụ cháy xảy ra cho dù công việc xây dựng lại chỉ mất
3 tháng. Trờng hợp này xảy ra do nguyên nhân một số khách hàng không chắc chắn
đợc liệu công ty có tiếp tục kinh doanh nữa hay không và nếu khách hàng có thể dễ
dàng tìm ra những hãng cung cấp thay thế thì thời gian hồi phục kinh doanh sẽ bị
kéo dài. Khác hẳn với thiệt hại vật chất, thiệt hại mà nhà kinh doanh phải gánh chịu
trong trờng hợp bị ngừng trệ kinh doanh là rất trừu tợng và đợc cụ thể hoá vào thời
điểm trong tơng lai khi mà doanh nghiệp của ngời đợc bảo hiểm trở lại tình trạng
vốn có nh trớc khi tổn thất xảy ra. Nói tóm lại, đối tợng của bảo hiểm gián đoạn
kinh doanh là đối tợng vô hình.
(Nguồn: Hình 4.1 - [17, 112])
Trong biểu đồ trên, ngời ta đã giả định một doanh thu tĩnh song trong thực tế, rất
nhiều ngành nghề biến động theo mùa và tất nhiên cần phải xem xét yếu tố này khi
8
Chá
T12 T3 T6 T9 T12
Thời kỳ
xây dựng lại
Doanh thu
giải quyết bất kỳ khiếu nại nào. Vì vậy, trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
thờng nêu rõ công thức sẽ đợc sử dụng khi giải quyết bồi thờng tổn thất.
- Đặc điểm về giai đoạn bồi thờng:
Một đặc trng cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là ngời đợc bảo hiểm đợc
chọn một "giai đoạn bồi thờng". Đó là giai đoạn mà theo tính toán của ngời đợc bảo
hiểm sẽ đủ để ngời đó khôi phục lại kinh doanh, hoàn toàn khôi phục lại khả năng
hoạt động và doanh thu kể cả khi đã xảy ra vụ hoả hoạn nghiêm trọng nhất. Ngời đ-
ợc bảo hiểm sẽ chọn "giai đoạn bồi thờng" tối đa, có thể là 12 tháng, 18 tháng, , và
"giai đoạn bồi thờng" sẽ đợc đa vào hợp đồng bảo hiểm. "Giai đoạn bồi thờng" tối
đa phụ thuộc vào các yếu tố sau:
"+Thời gian để sửa chữa, xây dựng lại tài sản bị thiệt hại. Thời gian này đợc tính bao
gồm cả thời gian thiết kế, lên kế hoạch và cả thời gian xin các loại giấy phép.
+ Thời gian thay thế máy móc, nguyên vật liệu. Việc đánh giá chính xác khoảng
thời gian này là rất quan trọng và phụ thuộc vào loại máy móc, nguyên vật liệu. Nếu
nh doanh nghiệp sử dụng các máy móc, nguyên vật liệu phải nhập khẩu hoặc loại
đặc biệt thì việc ổn định tình hình kinh doanh trong một thời gian ngắn là hết sức
khó khăn.
+ Thời gian cần thiết để khôi phục năng suất và tính hiệu quả kinh doanh trở về
bình thờng nh trớc khi xảy ra tổn thất, bao gồm cả thời gian để giành lại những
khách hàng đã mất." [5, 6].
- Đặc điểm về tổn thất vật chất:
Điều kiện tiên quyết để ngời đợc bảo hiểm có quyền đòi bồi thờng theo đơn bảo
hiểm gián đoạn kinh doanh là "tại thời điểm xảy ra tổn thất, các thiệt hại của các tài
sản của ngời đợc bảo hiểm tại địa điểm đợc bảo hiểm phải đợc bảo vệ bởi một đơn
bảo hiểm thiệt hại vật chất" [2, 1]. Điều kiện này đợc biết đến trong ngành bảo hiểm
thế giới nh "qui định tổn thất vật chất" (material damage provisio). Qui định này có
nghĩa là trớc khi giải quyết khiếu nại gián đoạn kinh doanh, phải có một khiếu nại
theo đơn thiệt hại vật chất đã đợc thanh toán bồi thờng hay trách nhiệm theo đơn
bảo hiểm đó đã đợc chấp nhận. Vì vậy, thông thờng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
9
chỉ là đơn bảo hiểm mở rộng phạm vi bảo hiểm của một đơn bảo hiểm vật chất. Rủi
ro trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, trừ những trờng hợp loại trừ, phải
trùng khớp với rủi ro trong đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất.
1.2.2.Nội dung cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm nói chung và trong hợp đồng
bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nói riêng
1.2.2.1. Hợp đồng bảo hiểm
1.2.2.1.1.Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
"Hợp đồng bảo hiểm là một thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo
hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm
phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm" [6,16].
Nh vậy, đứng trên góc độ pháp lý thì hợp đồng bảo hiểm thực chất là một hợp đồng
kinh tế trong đó một bên đồng ý bồi thờng, trả tiền bảo hiểm cho bên kia khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm với điều kiện bên kia chấp nhận đóng phí bảo hiểm. Theo hợp
đồng bảo hiểm, mối quan hệ nhất định giữa hai bên ràng buộc với nhau bởi hai vấn
đề cơ bản: bồi thờng và nộp phí bảo hiểm.
1.2.2.1.2.Điều kiện pháp lý áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm
Có hai loại điều kiện đợc áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm, đó là:
Điều kiện ngầm định
Điều kiện rõ ràng
a) Điều kiện ngầm định
Trong thực tế, có những điều kiện ngầm định không đợc thể hiện bằng văn bản nhng
hai bên phải luôn tuân thủ trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
- Quyền lợi đợc bảo hiểm: Trong luật bảo hiểm Anh và nhiều nớc, trong đó có Việt
Nam có qui định về quyền lợi đợc bảo hiểm. Theo đó, để có đủ năng lực pháp lý
tham gia vào hợp đồng bảo hiểm thì ngời tham gia bảo hiểm phải là ngời có quyền
lợi khi đối tợng bảo hiểm đó bị thiệt hại. Điều đó có nghĩa là đối tợng bảo hiểm, đặc
biệt là tài sản phải thuộc quyền sử dụng hay quản lý hợp pháp của các cơ quan
10
doanh nghiệp, các cá nhân và tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã hội và
họ chính là ngời tham gia bảo hiểm.
- Tín nhiệm tuyệt đối: Điều kiện "tín nhiệm tuyệt đối" đợc áp dụng trong quan hệ
bảo hiểm giữa ngời bảo hiểm đối với ngời tham gia bảo hiểm. Điều đó có nghĩa là
ngời tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm kê khai trung thực, đầy đủ và chính xác
giá trị tài sản hoặc là tình trạng sức khoẻ, trong phạm vi kiến thức và sự hiểu biết
của họ khi ngời bảo hiểm yêu cầu. Những thông tin này là cơ sở để ngời bảo hiểm
có chấp nhận bảo hiểm cho đối tợng bảo hiểm hay không. Ngời tham gia bảo hiểm
không đợc thực hiện bất cứ hành vi man trá hay gian dối nào trong thời gian hiệu lực
cuả hợp đồng nhằm trục lợi. Việc tuân thủ đúng nguyên tắc này đóng vai trò quan
trọng trong việc giao dịch bảo hiểm.
-Bồi thờng: Khi có sự cố rủi ro thuộc trách nhiệm bảo hiểm gây thiệt hại cho ngời đ-
ợc bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm sẽ đợc bồi thờng theo đúng qui định của hợp đồng.
Hiện nay có ba hình thức bồi thờng đợc sử dụng:
+ Thanh toán bằng tiền mặt. Đây chính là hình thức phổ biến nhất. Công ty bảo
hiểm xác định giá trị tổn thất thực tế bằng tiền và thực hiện bồi thờng cho khách
hàng.
+ Sửa chữa đối với loại tài sản bị tổn thất còn khả năng sửa chữa.
+ Thay thế hay phục hồi, phơng pháp này thờng đợc áp dụng trong trờng hợp tổn
thất toàn bộ.
Đó là các điều kiện ngầm định đợc áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm. Hai điều kiện
đầu đợc coi là hai điều kiện quan trọng phải đợc thực hiện trớc khi hình thành hợp
đồng. Trong trờng hợp những điều kiện này không đợc tuân thủ, tính hợp lệ của toàn
bộ hợp đồng sẽ không đợc đảm bảo.
b) Những điều kiện rõ ràng
Cùng với việc thực hiện những điều kiện ngầm định, giữa ngời bảo hiểm và ngời đợc
bảo hiểm cũng có những "điều kiện rõ ràng" đợc qui định bằng văn bản trong hợp
đồng bảo hiểm buộc hai bên cùng phải tôn trọng thực hiện. Các điều kiện đó sẽ đợc
xem xét một cách cụ thể trong phần tiếp theo của hợp đồng bảo hiểm.
11
1.2.2.1.3.Kết cấu và nội dung của hợp đồng bảo hiểm
* Đơn yêu cầu bảo hiểm:
Đơn yêu cầu bảo hiểm là hình thức phổ biến nhất để công ty bảo hiểm có thể nhận
đợc các thông tin liên quan tới rủi ro sẽ đợc bảo hiểm. Đối với hầu hết các loại bảo
hiểm, ngời yêu cầu bảo hiểm sẽ điền vào đơn yêu cầu bảo hiểm và nộp cho công ty
bảo hiểm. Các đơn này có thể do công ty bảo hiểm gốc hoặc môi giới bảo hiểm hay
trung gian bảo hiểm cung cấp.
Trong hầu hết các đơn bảo hiểm thờng có những câu hỏi chung nh sau:
Tên, địa chỉ của ngời yêu cầu bảo hiểm (nếu bảo hiểm liên quan đến cá nhân có
thể có câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp, tuổi tác).
Thời gian yêu cầu bảo hiểm.
Ngành nghề kinh doanh.
Cơ sở tính phí bảo hiểm (đồ đạc, nhà cửa, bảng lơng, doanh thu, )
Bên cạnh đó cũng có những câu hỏi liên quan đến các rủi ro cụ thể. Nói cách khác,
một đơn yêu cầu bảo hiểm sẽ chứa đựng các câu hỏi chung và riêng, và tất cả các
câu hỏi đó đều có giá trị đối với công ty bảo hiểm.
Đơn yêu cầu bảo hiểm chính là cơ sở của hợp đồng bảo hiểm và là một phần không
thể thiếu trong hợp đồng bảo hiểm.
* Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm:
Sau khi đơn yêu cầu bảo hiểm đợc trình bày hợp lý và công ty bảo hiểm chấp nhận
đơn đó, công ty bảo hiểm sẽ cấp cho ngời đợc bảo hiểm đơn bảo hiểm kèm theo giấy
chứng nhận bảo hiểm. Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng về
việc xác lập hợp đồng, trong đó bao gồm mọi chi tiết về việc bảo hiểm. Trong đơn
bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm phải đề cập đợc các nội dung sau:
Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm hoặc
ngời thụ hởng.
Đối tợng bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản đợc bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản
12
Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm
Mức phí bảo hiểm, phơng thức đóng phí bảo hiểm
Thời hạn, phơng thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thờng
Các qui định giải quyết tranh chấp
Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng
Ngoài ra còn có thể có những nội dung khác do các bên thoả thuận.
1.2.2.2.Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh giống nh bất kỳ một hợp đồng bảo hiểm
nào đều mang đầy đủ các nội dung cũng nh đặc điểm của một hợp đồng bảo hiểm
nh đã đề cập ở phần lý luận trên. Tuy nhiên, do tính đặc thù của loại nghiệp vụ bảo
hiểm này nên nó cũng có những đặc điểm riêng so với các loại hợp đồng bảo hiểm
khác. Trong phần lý luận sau, do phạm vi nghiên cứu của đề tài này nh đã đề cập ở
phần giới thiệu, sẽ chỉ đề cập tới hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy.
1.2.2.2.1.Một số khái niệm về doanh thu, chi phí cố định, chi phí biến đổi, lợi nhuận
thuần, lợi nhuận gộp
"Doanh thu bán hàng là toàn bộ các khoản doanh thu về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
dịch vụ" [11, 83]. Đây là bộ phận chủ yếu, chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu.
Ngoài ra, doanh thu còn từ các hoạt động khác bao gồm các khoản từ hoạt động đầu
t tài chính (thu từ hoạt động đầu t, thu về việc mua bán chứng khoán, lãi kí quĩ, hoàn
nhập dự phòng giảm giá chứng khoán, cho thuê tài sản, lãi tiền gửi, lãi tiền cho
vay ), và từ hoạt động bất thờng (thu về nhợng bán thanh lý tài sản cố định, thu từ
phạt vi phạm hợp đồng, nợ khó đòi đã đòi đợc, nợ phải trả không xác định đợc chủ,
thu nhập năm trớc bị bỏ sót ).
"Chi phí cố định là những chi phí có đặc trng cơ bản là tổng số của nó không thay
đổi khi khối lợng kinh doanh thay đổi" [18,90]. Khoản chi phí này là những khoản
chi phí tồn tại ngay cả khi không tiến hành sản xuất kinh doanh, ví dụ nh tiền thuê
nhà xởng, thuê đất, tài sản cố định,
13
"Chi phí biến đổi là chi phí biến đổi thuận chiều với sự thay đổi khối lợng kinh
doanh của doanh nghiệp" [18,90], ví dụ nh chi phí mua nguyên vật liệu, chi phí thuê
nhân công hợp đồng
"Lợi nhuận thuần là khoản lợi nhuận thu đợc sau khi đã trừ đi tất cả các khoản dự
phòng, các chi phí cố định kể cả những chi phí khấu hao, nhng phải đợc tính trớc khi
trừ đi các loại thuế tính trên thu nhập" [5, appendix A]
"Lợi nhuận gộp = [Doanh thu + (giá trị hàng tồn kho và hàng hoá đang trong kì sản
xuất ở cuối kỳ - giá trị hàng hoá đang trong kỳ sản xuất đầu kì) - tổng chi phí sản
xuất không đợc bảo hiểm]" [5, appendix A].
1.2.2.2.2.Đối tợng bảo hiểm
Nh đã đề cập trong phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, đối tợng bảo
hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là đối tợng vô hình. Khác với các loại
nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất có đối tợng bảo hiểm là hữu hình, đối tợng bảo
hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh do đặc tính trừu tợng nh vậy đã gây rất
nhiều khó khăn cho các nhà bảo hiểm. Đây cũng chính là lý do khiến cho một
nghiệp vụ bảo hiểm rất quan trọng nh bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã ra đời quá
muộn so với các nghiệp vụ khác. Theo đơn bảo hiểm qui chuẩn của Anh quốc mà
ngày nay rất nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang sử dụng thì đối tợng bảo hiểm
của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "tổn thất mang tính hậu quả do việc ngừng trệ
hay gián đoạn" [5, 6].
1.2.2.2.3.Số tiền bảo hiểm
Khác với số tiền bảo hiểm trong các nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất đợc xác
định dựa trên giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm của bảo hiểm gián đọan kinh doanh
đợc xác định dựa trên giá trị lợi nhuận gộp hàng năm của doanh nghiệp tham gia
bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm trong loại hình nghiệp vụ này do ngời đợc bảo hiểm xác
định, đợc tính từ số liệu kế toán của ngời đợc bảo hiểm và phải thể hiện đợc giá trị
lợi nhuận gộp ớc tính trong tơng lai của doanh nghiệp đợc bảo hiểm. Để xác định
giá trị đó, số liệu kế toán của năm gần nhất sẽ đợc sử dụng. Tuy nhiên, thờng thì ng-
ời ta sử dụng số liệu kế toán của hai hoặc ba năm liên tiếp nhằm tránh những biến
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét