Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Tư tưởng đạo đức hồ chí minh với việc giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên

LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
nó cư xử vô đạo đức, tồi tệ. Nói đến giá trị đạo đức theo đúng nghĩa của nó thì nó chỉ
có thể tích cực, hoặc tiêu cực mà không có giá trị đạo đức trung hoà.
Những hành động đơn nhất, riêng biệt một con người cũng như toàn bộ bản
chất, tính cách cá nhân của nó có thể có đạo đức và vô đạo đức. Thường vẫn có những
trường hợp: có người bản chất vô đạo đức hoặc trong lĩnh vực nhất định nào đó bao
giờ cũng những lẻ tẻ làm những hành động cư xử có đạo đức, và ngược lại, có người
bản chất là có đạo đức nhưng lại làm hành đông vô đạo đức hoặc một trong những lĩnh
vực nhất định bào giờ cũng cư xử vô đạo đức.
Bản chất đạo đức theo Kant, đó là sự việc khác biệt giữa “tính luân lý “ và “tính
hợp pháp”.
Hêghen có sự phân biệt rất rõ hai thuật ngữ “luân lý “ và thuật ngữ “đạo đức“.
Hêghen gọi “luân lý” là phương tiện chủ quan của đạo đức, còn đạo đức là phương
diện khách quan của luân lý. Khái niệm luân lý là thái độ bên trong của ý chí đối với
chính nó, tức là quan niệm chủ quan về điều thiện và đều ác. Đạo đức, đó là nội dung
khách quan của cái thiện và cái ác được tạo thành trong gia đình, xã hội và quốc gia.
Hêghen cũng cho rằng “luân lý’’ và “đạo đức” thường được dùng với ý nghĩa như
nhau và có từ nguyên chung, nhưng ông vẫn thấy rằng có thể sử dụng hai từ này để chỉ
những bậc “hoàn toàn khách nhau” trong sự phát triển của tư tưởng pháp lý.
Có thể nói nhìn nhận luân lý là phương diện khách quan của hành vi, đạo đức là
phương diện chủ quan hành vi của Hêghen đều không đúng những thuật ngữ “hợp luân
lý”, “phi luân lý” và “vô luân lý” hoàn toàn tương ứng với “đạo đức”, “phi đạo đức”
và “vô đạo đức”.
Vậy đạo đức là gì?
Theo quan niệm đạo đức học Mác-xít, đạo đức là hệ thống những chuẩn mực
biểu hiện sự quan tâm tự nguyện tự giác của những con người trong quan hệ với nhau
và trong quan hệ của xã hội nói chung.
Bản chất của đạo đức là sự quan tâm tự giác của con người đến lợi ích của
nhau, với lợi ích của xã hội.
1.2. Một số quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức.
1.2.1. Nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng đạo đức của Hồ Chí
Minh
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà Nho nghèo, yêu nước, Hồ Chí Minh
sớm tiếp thu được những giá trị đạo đức truyền thống quan trọng, thôi thúc Hồ Chí
Minh ra đi tìm đướng cứu nước, cứu dân.
Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ tiêu biểu của nhân loại quan tâm một
cách toàn diện đến vấn đề đạo đức và nêu cao tấm gương đạo đức.
Người không để lại tác phẩm đạo đức lớn, nhưng những tư tưởng lớn của
Ngừơi về đạo đức đã nằm trong những bài nói, bài viết ngắn gọn, diễn đạt rất cô động,
theo phong cách Phương Đông, rất quen thuộc với con người Việt Nam. Bản thân
5
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
Người lại thực hiện trước nhất và nhiều nhất những tư tưởng ấy, thực hiện nhiều hơn
cả những điều Người đã nói, đã viết về đạo đức.
Khi bàn về nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng đạo đức của Hồ Chí
Minh, thường có những ý kiến khác nhau. Có người cho rằng đạo đức Hồ Chí Minh đã
xuất phát từ chủ nghĩa Mác-Lênin.
Điều đó là không sai, nhưng hình như không hoàn toàn như thế. Hồ Chí Minh
đã tiếp thu những nội dung tư tưởng cơ bản đạo đức chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng
Người đã vận dụng một cách sáng tạo và quan trọng là Người đã cải tạo nó thành
những quan niệm đạo đức có sắc thái riêng phù hợp với yêu cầu cách mạng Việt Nam
trong thời đại mới.
Có người chỉ căn cứ vào những phạm trù đạo đức Nho giáo mà Hồ Chí Minh đã
sử dụng để nói rằng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ Nho giáo, có nguồn
gốc từ Nho giáo. Rõ ràng điều đó là không đúng.
Có thể nói, quá trình hình thành nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cũng
phản ánh phương pháp tư duy mới rất biện chứng về sự tiếp nhận các nguồn giá trị văn
hoá của dân tộc và nhân loại, bất kể đó là thuộc nguồn gốc nào, là Nho giáo, Lão giáo,
Phật giáo hay Thiên chúa giáo, là chủ nghĩa Mác-Lênin hay truyền thống văn hóa đạo
đức dân tộc.
Hồ Chí Minh đã từng nói: ”Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu
dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Giê-su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng, chủ nghĩa Tôn Dật
Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê-
su, Các Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao? Họ điều muốn mưu cầu
hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên
đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất
hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các
vị ấy“[1] Câu nói nổi tiếng này của Hồ Chí Minh chẳng những phản ảnh rõ thái độ của
Người đối với các giá trị đạo đức truyền thống và tinh hoa đạo đức nhân loại, mà còn
thể hiện một quan điểm bao dung trân trọng đối với những di sản văn hoá đạo đức có
nguồn gốc và khuynh hướng tư tưởng khác nhau.
Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở tiếp thu, phát
triển nhiều nguồn tư tưởng đạo đức, chủ yếu là tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Mác-
Lênin, nhưng đối với Người nền đạo đức truyền thống, đặt biệt là các hệ tư tưởng đạo
đức của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo đã được dân tộc hoá cũng có vị trí hết sức quan
trọng.
Trong quá trình chuyển hoá tư tưởng đạo đức cũ thành đạo đức mới, Hồ Chí
Minh đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn tư duy biện chứng khi nhìn nhận các mặt
đối lập trong xã hội, trong mỗi người và trong các phạm trù đạo đức, để gạt bỏ đi
những mặt cần gạt bỏ, cải tạo lại những gì có thể cải tạo được và nhất là thấy rõ vị trí
của mỗi mặt.
6
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
Chẳng hạn khi nói đến đức và tài, Người luôn luôn coi trọng tài và có thể nói
không ai quan tâm đến việc đi tìm người tài hơn Hồ Chí Minh, nhưng đồng thời Người
coi đức vẫn là cái gốc. Cũng như vậy, khi nói đến đạo đức cũ và đạo đức mới, đến cá
nhân và tập thể, Người không tuyệt đối hoá mặt này hay mặt khác, mà bao giờ cũng
có sự nhìn nhận đúng mực, đúng độ. Do đó có thể nói, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
chẳng những đã đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và
chắc chắn còn là nền tảng của việc xây dựng nền đạo đức xã hội mới.
Do hệ thống những vấn đề đạo đức khá rộng, bao quát gần như toàn bộ tư
tưởng đạo đức truyền thống của dân tộc và nhân loại, cả Cổ, Kim, Đông, Tây, cho nên
những nội dung tư tưởng đạo đức có liên quan đến việc hình thành tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh thật bao la, phong phú và cũng rất đa dạng, phức tạp. Nhưng có thể thấy
quá trình hình thành hệ thống tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là xuất phát tư ba nguồn
cơ bản sau đây.
a, Nền tảng đạo đức truyền thống dân tộc, kể cả đạo đức Nho giáo, Phật giáo,
Lão giáo đã được dân tộc hoá. Trong nền tảng đạo đức truyền thống của dân tộc, trước
hết phải nói đến chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái là đặc trưng bản chất đạo đức
cách mạng đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Chính nó là nguồn động lực thôi thúc
Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân và sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ
nhằm dành bằng đựơc độc lập cho dân tộc, thống nhất cho tổ quốc, tự do hạnh phúc
cho đồng bào mình. Cũng chính từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống và lòng nhân ái
bao la của dân tộc, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp nhận học
thuyết khoa học và cách mạng cũng như tinh thần đạo đức vô sản nhằm cải tạo nền
đạo đức cũ, xây dựng nên đạo đức mới.
b, Những nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức chủ nghĩa Mác-Lênin tuy
không phải là cội nguồn mở đầu cho việc hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh,
nhưng lại có giá trị định hướng cho sự phát triển tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh theo
mục tiêu xã hội chủ nghĩa, được xem là hạt nhân của tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ
Chí Minh. Cho nên thật khó nói giữa hai cội nguồn đạo đức truyền thống và đạo đức
chủ nghĩa Mác-Lênin mặt nào quan trọng hơn mặt nào. Cả hai đều có vị trí quan trọng
ngang nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên nền tảng đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ
Chí Minh.
c, Ngoài hai nguồn gốc đạo đức cơ bản trên, phải nói đến những tinh hoa đạo
đức thế giới mà nhân loại đạt được từ xưa cho đến thế kỷ XX, trong đó có di sản đạo
đức mang ý thức hệ tư sản, những quan niệm chân chính về tự do, bình đẳng, bác ái,
dân chủ, nhân quyền nhân đạo Đây là một nguồn gốc tuy không giữ vai trò quyết
định như hai nguồn gốc đạo đức nêu trên nhưng lại hết sức quan trọng ở chỗ: Nó giúp
Hồ Chí Minh động lực sáng tạo cái mới, tìm thấy mặt hợp lý cũng như các giá trị nhân
đạo, tinh thần dân chủ trong những di sản đạo đức hình thành trong thời đại cách mạng
tư sản, nhằm bổ sung đồng thời phát triển hệ tư tưởng đạo đức mới.
7
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
Cũng như các nhà kinh điển Mác-xít, Hồ Chí Minh không chỉ tiếp nhận những
tinh hoa đạo đức hình thành trong thời đại cách mạng tư sản, mà Người còn vận dụng
nó rất sáng tạo trong điều kiện và trong hoàn cảnh cách mạng nước ta. Nếu chú ý đến
ý nghĩa và tính chất kết hợp giữa dân tộc và quốc tế, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, giữa truyền thống và hiện đại, chúng ta sẽ thấy rất rõ tinh thần sáng tạo của
Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực đạo đức. Hồ Chí Minh không
chỉ tiếp nhận các khái niệm tự do, bình đăng, bác ái vốn là khẩu hiệu của giai cấp tư
sản trong thời đại cách mạng tư sản đang phát triển, mà Người còn tìm cách giữ lại,
đồng thời phát triển nội dung các phạm trù cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
trong hệ thống đạo đức truyền thống.
Tất cả những hiện tượng nói lên rằng nguồn gốc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
là kết quả hội tụ của rất nhiều nguồn, nhiều học thuyết đạo đức cổ kim, Đông Tây của
Việt Nam và Thế Giới, nhưng nổi bật nhất vẫn là phương pháp làm việc biện chứng
của chủ nghĩa Mác mà Hồ Chí Minh tránh được những giáo điều trong nhận thức và
hành vi đạo đức, đồng thời phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới,
tạo cho mình một hệ thống tư tưởng đạo đức phù hợp với điều kiện cách mạng Việt
Nam .
1.2.2. Những chuẩn mực đạo đức cơ bản của Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là qua các tác phẩm, bài viết
bài nói của người trong thời kỳ 1945 -1954, chúng ta thấy Người đề ra những chuẩn
mục đạo đức cụ thể đối với từng đối tượng: cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân,
phụ nữ, thanh niên đó là những lời khen ngợi, biểu dương hay phê bình nhắc nhở, hay
đó là những lời khuyên nên tránh hay nên làm, cần xây hay cần chống. Bao giờ Người
cũng phân biệt mặt tốt với mặt xấu, cái thiện với cái ác trong động cơ cũng như trong
hành động của mỗi con người, trong mối quan hệ xã hội vô cùng đa dạng, để làm rõ
những vấn đề đạo đức cần phải xây dựng. Người làm công việc ấy rất thường xuyên,
gần như một ngừơi làm vườn cần mẫn, hàng ngày bắt sâu, nhặt cỏ, tỉa lá cắt cành, vun
xới cho những mầm cây.
Những phẩm chất cần tu dưỡng, những định hướng để vươn tới cái chân, cái
thiện, cái mỹ của cuộc sống con người - Đó là những vấn đề đạo đức Người rút ra từ
cuộc đời thực của con người và xã hội Việt Nam, khái quát thành tư tưởng, lí luận đạo
đức, từ đó trở lại cải tạo con người, làm biến đổi hiện thực xã hội. Có thể nêu những
chuẩn mực đạo đức cơ bản sau đây:
a. Trung với nước - hiếu với dân:
Từ xưa đến nay ở Việt Nam, trong quan hệ văn hoá - đạo đức, thì mối quan hệ
giữa dân và nước, giữa nhân dân và tổ quốc là mối quan hệ lớn nhất, có vai trò chi
phối mọi quan hệ khác. Do đó, trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất đạo đức
hàng đầu. Trung - hiếu là những khái niệm đã có trong đạo đức truyền thống. Trước
kia, đạo đức Phong kiến dạy người ta phải ”trung với Vua, hiếu với Cha Mẹ”. Đó là
hai điều lớn trong đạo ngũ luân, mà điều lớn nhất là trung với Vua.
8
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
Trên cơ sở kế thừa, phát triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, Hồ
Chí Minh nói: trung với nước, hiếu với dân. Ở đây, Hồ Chí Minh không chỉ dùng từ
“trung - hiếu” với ý nghĩa một trách nhiệm, bổn phận của con người, mà với khái niệm
mang tính truyền thống lịch sử, Người đã đưa vào đó một nội dung, mang tính cách
mạng, phản ánh đạo đức cao rộng hơn. Người viết: “Đạo đức, ngày trước thì trung với
Vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với
nước, phải hiếu với toàn dân, với đồng bào”[2]. Như vậy, theo Hồ Chí Minh, trung là
trung với nước, với đảng, với lý tưởng cách mạng, còn hiếu không chỉ đối với cha mẹ
mà còn bao hàm một nội dung sâu rộng hơn là hiếu với dân, với đồng bào.
Đây là cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức. Người viết: ”Đạo đức cũ như
người đầu ngược xuống đất, chân chống lên trời. Đạo đức mới như người hai chân
đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”[3]. Theo Hồ Chí Minh, ”trung với
nước” thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội, thể hiện trách nhiệm
đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với con đường đi lên của đất nước. Ở đây,
nước là của nhân dân và nhân dân là chủ nhân của đất nước.
Theo Hồ Chí Minh, hiếu với dân nghĩa là bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao
nhiêu quyền hạn đều của dân, công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, sự
nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân; chính quyền từ xã đến chính phủ
Trung Ương do dân cử ra: “Đoàn thể từ Trung Ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói
tóm lại, quyền hành và lực lượng của dân rất to, việc dân vận rất quan trọng. Dân vận
kém việc gì cũng kém. Dân vận khéo việc gì cũng thành công”[4]. Từ đó, Người luôn
nhắc nhở cán bộ, đảng viên: ”phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, khi sắp tới dân
mong, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt làm quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân
không ủng hộ”[5].
Mặt khác, ở Hồ Chí Minh, hiếu với dân không chỉ thể hiện ở chỗ thương dân,
mà chủ yếu là ở chỗ tin dân dựa vào dân, giúp đỡ dân, lo cho cuộc sống của nhân dân
ngày càng tốt hơn. Ngừơi khuyên cán bộ, đảng viên phải gắn bó với dân, phải gần dân,
thân dân, lấy trí tuệ ở dân, học hỏi dân, bởi có biết làm học trò dân, mới làm được thầy
học dân. Người xác định, cán bộ các cấp đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh
việc chung cho dân. Cán bộ phải cùng nhau bàn tính kỹ càng, cùng nhau chia công
việc rõ rệt, cùng nhau đi giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đạt kế hoạch tổ
chức nhân công, sắp xếp việc làm, khuyến khích theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết
những khó khăn.
Cán bộ phải đi sát với dân, thiết thực bày vẽ cho dân: “việc gì lợi cho dân, ta
phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh”[6]. Trong bài 6 điều không
nên và 6 điều nên làm, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “nước lấy dân làm gốc, gốc có
vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”[7]. Đó là một sự tổng kết
mang tính chân lý về mối quan hệ giữa nước với dân.
Trung với nước, hiếu với dân là hạt nhân cơ bản nhất của tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh, là tiêu chuẩn quan trọng nhất đối với mọi thế hệ.
9
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
b. Lòng yêu thương đối với con người.
Các Mác đã từng nhấn mạnh rằng: người hạnh phúc nhất là người đem lại hạnh
phúc cho nhiều người nhất.
Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ
nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ,
cùng với việc thể hiện của chính bản thân mình qua thực tiễn hoạt động cách mạng,
Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất
cao đẹp nhất.
1. Đạo đức cộng sản chủ nghĩa yêu cầu phải thông cảm với mỗi người lao động
lương thiện, cái gắn bó ta với người này là thái độ yêu lao động, thiện tâm và tình
người. Thái độ tốt và tình yêu với con người - đó là chủ nghĩa nhân đạo.
Chủ nghĩa Mác hiểu chủ nghĩa nhân đạo là tình yêu thương, đây là tình yêu đối
với người lao động, đối với người lương thiện và chân chính. Chủ nghĩa nhân đạo xã
hội chủ nghĩa có căn cứ ở sự lương thiện, sự công bằng và lương tâm. Nó yêu cầu quí
trọng ở con người tất cả những gì tốt đẹp và lên án tất cả những gì xấu ở con người.
Tình yêu với con người là tiêu chuẩn cuối cùng là bản chất của đạo đức. Tất cả
vì con người, vì sự no ấm và hạnh phúc của nó, đây là phương châm được nêu lên
trong cương lĩnh đảng cộng sản Liên Xô.
Nếu như mục đích và ý nghĩa cao nhất của cuộc sống con người là đấu tranh
cho hạnh phúc của con người, thì điều này không thể thực hiện bằng những biện pháp
rời rạc, lẽ tẻ, bằng con đường của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa ích kỷ, phải tổ chức
bằng sự tổ chức hợp lý, thống nhất và có kế hoạch, bằng con đường của chủ nghĩa tập
thể.
Con người phải yêu những con người - Kalinin nói - nếu nó yêu những con
người thì nó sẽ sống tốt hơn, cuộc đời phải vui hơn, vì không có kẻ nào trên đời này lại
sống khốn khổ như kẻ yếm thế, kẻ có tư tưởng thù ghét con người.
2. Tình yêu thương đó là tình cảm rộng lớn. Trước hết dành cho những người
cùng khổ, những người lao động bị áp bức bóc lột. Tình yêu thương đó đã được thể
hiện ở Hồ Chí Minh bằng ham muốn tột bậc là làm cho nước được độc lập, dân được
tự do, mọi người ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Khi thực hiện nghĩa vụ của mình đối với mọi người, đối với xã hội mà con
người cảm thấy thoải mái yên ổn trong lòng chính là lúc bản thân họ cảm thấy hạnh
phúc, thấy sự thanh thản của lương tâm. Bao giờ cũng vậy, việc hoàn thành nghĩa vụ
đạo đức không những đem lại hạnh phúc cho chính chủ thể hành động. Chính điều này
càng thôi thúc con người hành động tốt hơn, hướng đến điều thiện nhiều hơn và mong
muốn đem lại hạnh phúc cho người nhiều hơn.
Một nhà văn Nga đã từng nói: “người ta nghiêng mình trước tài năng, nhưng
người ta bái phục trước thánh thiện” (Gornốp). Bởi lương tâm trong sạch khiến người
ta ý thức được nhân phẩm của mình, cảm thấy sự khoan khoái trong tâm hồn và làm
10
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
cho tình cảm đạo đức càng trở nên mãnh liệt hơn. Sự phát triển đó là chỉ bảo xác nhận
đức hạnh, góp phần hình thành tình cảm nhân cách ở mỗi con người.
- Tình yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ bạn bè, đồng
chí với mọi người bình thường, trong quan hệ hàng ngày, nó đòi hỏi mọi người phải
luôn luôn chặt chẽ nghiêm khắc với mình, rộng rãi độ lượng với người khác. Nó đòi
hỏi thái độ tôn trọng con ngừơi phải biết cách nâng con người lên, chứ không phải hạ
thấp, càng không vùi dập con người. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những
người ở cương vị lãnh đạo, bất cứ ở cấp nào.
- Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh ở thế kỷ XX, các thế hệ người Việt
Nam đã thể hiện mãnh liệt nhất tình cảm của mình đối với nghĩa vụ, đối với trách nhiệm
của một người dân mất nước. Cả dân tộc đã từng “nếm mật, nằm gai”, đã từng phải
“khoét núi, ngủ hầm”, đã từng chịu đựng ”mưa dầm, cơm vắt”, đến nỗi ”máu trộn bùn
non”. Nhưng kỳ lạ thay ”gan không núng, chí không mòn”. Với tinh thần đó, với tình
cảm thiêng liêng giành cho Tổ quốc, cả dân tộc Việt Nam đã vượt lên, đã chiến thắng
tất cả mọi kẻ thù và đã không cảm thấy hổ thẹn với truyền thống chống giặc của cha
ông.
- Tình yêu thương con người, còn được thể hiện đối với những người có sai lầm
khuyết điểm, nhưng đã nhận rõ những khuyết điểm và sai lầm, cố gắng sữa chữa, kể cả
những người lầm đường lạc lối đã hối cải, kể cả đối với những kẻ thù đã bị thương, bị
bắt hoặc đã chịu quỳ hàng. Chính tình yêu thương rộng lớn đó mà Hồ Chí Minh đã
đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi người, và Người tin rằng ai cũng đều có, cũng
theo.
- Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn
nhau. Đây chính là điều nhắc nhở cán bộ đảng viên phải luôn luôn chú ý đến phẩm
chất yêu thương con người. Đây là tình yêu trên nguyên tắc tự phê bình một cách chân
thành, nghiêm túc giữa con ngừơi cùng lý tưởng, cùng phấn đấu cho một sự nghiệp
chung. Nó hoàn toàn xa lạ với thái độ dĩ hoà vi quý, bao che sai lầm khuyết điểm cho
nhau, càng xa lạ với thái độ yêu nên tốt, ghét nên xấu, bè cánh có thể đưa đến những
tổn thất lớn cho Đảng, cho cách mạng.
c. Cần kiên liêm chính, chí công vô tư.
Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư là nét đặc trưng của đạo đức theo quan
niệm của Hồ Chí Minh. Đó là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng, việc tu
dưỡng, rèn luyện nó diễn ra hàng ngày, hàng giờ, trong công tác, sinh hoạt gia đình, xã
hội, ở mọi không gian, thời gian, và nhìn chung là lấy chính bản thân mình làm đối
tượng. Phẩm chất này là một biểu hiện cụ thể của phẩm chất “trung với nước, hiếu với
dân”, bởi vì ”cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” sẽ tạo khả năng giữ vững độc lập,
xây dựng đất nước.
Đây cũng là những khái niệm đạo đức truyền thống được Hồ Chí Minh vận
dụng, đưa vào những nội dung và yêu cầu mới, Người viết ”bọn phong kiến ngày xưa
nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm, mà lại bắt nhân dân phải tuân
11
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay chúng ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính
cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”[8].
Ngay trong tác phẩm “Đường kách mệnh” viết năm 1927, ”cần kiệm” đã được
Hồ Chí Minh nhắc tới và coi như là yêu cầu số 1 của tư cách một ngừơi cách mạng.
Ngừơi mong mỏi tha thiết mỗi người Việt Nam, nhất là cán bộ, đảng viên phải lấy
”cần kiệm liêm chính” là phương châm sống trong cuộc sống mới.
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: Trong dịp lễ sinh nhật của Người (19 - 5-
1946), các đại biểu trong ban vận động đời sống mới đến chúc thọ Người và đề nghị
Người như trong cuộc vận động, hãy ra một khẩu hiệu.
Hồ Chí Minh nói các chú muốn có khẩu hiệu thì Bác cho khẩu hiệu: Cần, kiệm,
liêm, chính, chí công, vô tư.
Khẩu hiệu đó - một đại biểu thưa với Bác - khẩu hiệu này đã quá quen thuộc,
xin Bác phải nêu khẩu hiệu mới để phù hợp cuộc sống vận động đời sồng mới.
Bác cười và nói: ”hàng ngày ta phải ăn cơm, uống nước, phải thở khí trời để
sống. Những việc đó ngày xưa ông cha ta làm, bây giờ chúng ta phải làm, con cháu ta
sau này cũng phải làm. Vậy ăn cơm thở khí trời để đem lại cuộc sống cho con người
thì đó là những việc không bao giờ cũ cả. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư đối với
đời sống đó cũng vậy”[9].
Đến tháng 3- 1947, do nhu cầu cuả cuộc sống kháng chiến kiến quốc, Chủ
Tịch Hồ Chí Minh kêu gọi thi đua xây dựng ”đời sống mới, cần, kiệm, liêm, chính”.
Người giải thích cần, kiệm, liêm, chính một cách thiết thực và dễ hiểu:
- Cần: làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ và về sớm. Làm cho chóng, cho
chu đáo. Việc ngày nào nên làm trong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai.
Cần trong lao động là cần cù, siêng năng lao động có kế hoạch, tự lực cánh
sinh, sáng tạo, có năng suất cao, lao động có tinh thần trách nhiệm. Người nói:
Người siêng năng thì mau tiến bộ
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no
Cả nhà siêng năng thì là phồn vinh
Cả nước siêng năng thì nước giàu mạnh.
Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không
phải quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho
lâu dài.
- Nói về kiệm, Người nói: kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí,
không bừa bãi. Cần với kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người
Hồ Chí Minh nói kiệm đối với cán bộ: giấy bút vật liệu đều tốn tiền của chính
phủ, tất là của dân; tức là ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết thì
chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai, ba lần. Mỗi ngày, công sở cả
nước dùng hàng mấy vạn tờ giấy và phong bì. Nơi nào cũng tiết kiệm một chút thì
trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc
12
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
- Liêm: tức là ”luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân” và ”không xâm
phạm một đồng xu, hạt thóc cuả nhà nước, của dân”, phải ”trong sạch, không tham
lam” và không tham địa vị, không tham tiền tài, không ham sung sướng. Không ham
người tâng bốc mình. Vì vậy mà phải quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.
Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ
Người chỉ ra những hành vi trái với chữ liêm, như: ” cậy quyền thế mà đục
khoét dân, ăn của đút, họăc trộm của công làm của tư ”[10]
- Chính: Người viết: ”Một ngừơi phải cần kiệm, nhưng còn phải chính mới là
người hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người, trong số người ấy có thể chia
làm hai hạng: người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công nghìn việc.
Trong những công việc ấy có thể chia làm hai thứ việc chính và việc tà”[11].
Như vậy chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đúng đắn”. Với mình. Không tự
cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển đều hay,
sửa đổi điều dở của bản thân mình
Đối với người - không nịnh hót ngừơi trên, không xem khinh người dưới; luôn
giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc.
Đối với công việc - để việc công lên trên, lên trước việc tư. Đối với việc dân,
đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho bằng được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó
khăn, nguy hiểm, việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác dù mấy nhỏ cũng vẫn
tránh. Mỗi ngày càng làm một việc lợi cho nước, cho dân
- Chí công vô tư: Người nói: Đem lòng chí công vô tư mà đối với ngừơi với
việc. Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ mình nên
đi sau; phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ
Chí công vô tư, thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích:
”trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì
quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn
của đút, có dịp không chí công vô tư”[12]
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư có quan hệ mật thiết với nhau. Cần mà
không kiệm thì chẳng khác nào ”gió vào nhà trống”, “ nước đổ vào chiếc thùng không
đáy”, “làm chừng nào xài chừng ấy”, rốt cuộc ”không lại hoàn không”. Còn kiệm mà
không cần thì sản xuất được ít, không đủ dùng, không có tăng thêm, không có phát
triển. Ngừơi coi cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức chủ yếu của một con người, như bốn
mùa của trời (xuân, hạ, thu, đông), như bốn phương của đất (đông, tây, nam, bắc) và
kết luận: Thiếu một mùa thì không thành trời, thiếu một phương thì không thành đất,
thiếu một đức thì không thành người
Hồ Chí Minh còn chỉ ra mối quan hệ giữa bốn điều đó rằng: cần, kiệm, liêm là
gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là
hoàn toàn.
- Mặc dù mỗi đức tính có những nội dung riêng, nhưng chúng lại liên quan mật
thiết với nhau và tạo thành một chính thể, là thước đo văn minh tiến bộ của dân tộc.
13
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
Chủ Tịch Hồ Chí Minh nói: Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, chính là một dân tộc
giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ. Ngoài ra, nó còn
là một đặc điểm của một xã hội hưng thịnh và những điều đó trái lại là những đặc điểm
của một xã hội suy vong.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là cái cần để ”làm việc, làm người, làm
cán bộ phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, tổ quốc và nhân loại”.
d. Có tinh thần quốc tế vô sản.
Đạo đức cộng sản chủ nghĩa không những yêu cầu tôn trọng dân tộc mình, văn
hóa và truyền thống của nhân dân mình, mà đối với những dân tộc khác, đối với mọi
nhân dân nói chung, nó cũng đặt ra yêu cầu ấy.
Cương lĩnh của đảng đề xướng nguyên tắc đoàn kết anh em với những người
lao động của mọi nứơc, với nhân dân của mọi nước. Nguyên tắc này dựa trên quy luật
phát triển lịch sử hợp tự nhiên của nhân loại, quy luật phát triển lịch sử của văn hoá và
văn minh nhân loại.
Người nào muốn tổ quốc mình có nhiều người bạn, có nhiều người thân thiết có
thiện chí, người ấy phải có tinh thần quốc tế. Như vậy, tinh thần quốc tế, không những
tự nó là một điều hay, điều tốt, như là sự biểu hiện những xu hướng tự nhiên của con
người, đồng thời nó là còn một phương tiện biểu hiện lòng yêu nước. Người nào yêu
tổ quốc thì người ấy phải cố gắng tranh thủ thật nhiều bạn cho nhân dân mình. Người
nào không tìm bạn cho mình thì người ấy thù địch với bản thân mình.
Tinh thần quốc tế vô sản đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, mà Hồ Chí
Minh đã nêu lên bằng mệnh đề “Bốn phương vô sản đều là anh em”. Đó là tinh thần
đoàn kết các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động mà Hồ Chí Minh đã dày công
vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp
cách mạng của cả dân tộc.
Đó là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người tiến bộ
trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội. Sự đoàn kết ấy là nhằm những mục
tiêu lớn của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc.
Tinh thần quốc tế ấy vẫn được gọi là chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước,
hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính là chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng.
Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có
thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, so sánh biệt lập, kỳ thị chủng tộc, hoặc chủ
nghĩa bành trướng bá quyền, như thế giới thường nói hiện nay. Tất cả những khuynh
hướng lệch lạc ấy có thể dẫn đến chỗ phá vỡ cả một quốc gia dân tộc hay một liên
bang đa quốc gia dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung,
thậm chí có thể đưa đến tình trạng đối đầu, đối địch.
Hồ Chí Minh viết: Quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh
em. Chỗ khác Hồ Chí Minh dạy “họ là thân thích ruột rà, cộng đồng thế giới là đều
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét