Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo.DOC

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cùng với sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, đòi hỏi phải có
những con người có trình độ hiểu biết, thực sự dám nghĩ, dám làm, đó là kết
quả của một nền giáo dục toàn diện. Nhận thức được vai trò quan trọng của
GD&ĐT là nền tảng đưa nước ta thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH,
là chìa khóa mở cửa tiến vào tương lai, Nghị quyết Trung ương IV khóa VII
của BCH Trung ương Đảng đã đề ra: “Cùng với khoa học công nghệ,
GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Coi trọng cả ba mặt: Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng
và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực GD&ĐT trong 5
năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH tạo điều
kiện cho nhân dân đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những tiêu
cực và yếu kém trong GD&ĐT”; Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng
định: “GD&ĐT cùng với khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc
sách hàng đầu. Phải coi đầu tư giáo dục là một trong những hướng chính của
đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp phát triển kinh tế- xã hội”.
Đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT là đầu tư để phát triển kinh tế- xã hội
1.2. Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
1.2.1. Sự cần thiết của chương trình
Sau gần 15 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành
tựu quan trọng, nhưng còn những yếu kém, bất cập. Ngày 28 tháng 12 năm
2001 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 201/2001/QĐ-TTg phê duyệt
“Chiến lược phát triển Giáo dục 2001- 2010”. Chiến lược xác định rõ mục tiêu,
giải pháp và các bước đi theo phương châm đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại
hóa, xã hội hóa, xây dựng một nền giáo dục có tính thực tiễn và hiệu quả, tạo
bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng, đưa nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp
các nước phát triển trong khu vực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010.
Xuất phát từ nhận thức và thức tiễn nêu trên mà việc đề ra CTMTQG
GD&ĐT là hết sức cần thiết. Nó sẽ giải quyết những vấn đề khó khăn, bất cập
về CSVC trong trường học, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục phù
hợp với yêu cầu mới, nâng cao chất lượng trong việc học cả lý thuyết cũng
như thực hành, hỗ trợ giáo dục ở các vùng khó khăn nhằm giảm sự chênh lệch
về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền; đầu tư tập trung xây dựng một số
trường Đại học, Cao đẳng, THCN trở thành trọng điểm đó là những mục
tiêu chủ yếu của CTMTQG GD&ĐT trong giai đoạn từ 2001 đến 2010.
Chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ
và giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường, cơ
chế, chính sách, tổ chức để thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã được xác
định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước trong
một thời gian nhất định.
Một chương trình mục tiêu quốc gia gồm nhiều dự án khác nhau để
thực hiện các mục tiêu của chương trình. Đối tượng quản lý và kế hoạch hóa
được xác định theo chương trình, việc đầu tư được thực hiện theo dự án.
Dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các hoạt
động để tiến hành một công việc nhất định nhằm đạt được một hay nhiều mục
tiêu cụ thể đã được định rõ trong chương trình với nguồn lực và thời hạn thực
hiện được xác định.

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.2. Nội dung của chương trình
Thực hiện Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001 và Quyết
định số 26/2003/QĐ-TTg ngày 17/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ
GD&ĐT thực hiện CTMTQG GD&ĐT giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005,
thông qua 7 Dự án sau đây:
Dự án 1: “Củng cố và phát huy kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học và xóa
mù chữ, thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở”
Dự án 2: “Đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa”
Dự án 3: “Đào tạo cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường, đẩy
mạnh dạy ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân”
Dự án 4: “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, tăng cường CSVC các
trường sư phạm”
Dự án 5: “Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng còn
nhiều khó khăn”
Dự án 6: “Tăng cường CSVC các trường học, các Trung tâm kỹ thuật
tổng hợp - Hướng nghiệp; xây dựng một số trường Đại học, THCN trọng
điểm”
Dự án 7: “Tăng cường năng lực đào tạo nghề”
Về Cơ chế quản lý dự án :
- Bộ GD&ĐT quản lý, điều hành, tổng hợp chung tình hình thực hiện
CTMTQG GD&ĐT; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và các
địa phương tổ chức thực hiện các dự án số : 1, 2, 3, 4, 5, 6;
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành có liên quan và các địa phương tổ chức thực hiện dự án số 7.
1.3. Nguồn tài chính thực hiện CTMTQG GD&ĐT
Từ sau Đại hội VI (12/1986) Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu sự
chuyển đổi toàn diện từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý
của nhà nước (hiện nay gọi là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ). Sự
nghiệp GD&ĐT cũng được phát triển từ một hệ thống giáo dục hầu như được
Nhà nước bao cấp gần như toàn bộ, đi học không phải đóng học phí sang
quan điểm giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, do dân và vì dân, phát triển
giáo dục là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn dân, thực hiện phương châm
“Nhà nước và nhân dân cùng làm”, khai thác tiềm năng của nhân dân và các
tổ chức kinh tế để hỗ trợ cùng NSNN tăng cường đầu tư cho giáo dục, từ đó
ngành giáo dục có điều kiện phát triển nhanh hơn. Những năm qua chúng ta
đã huy động được nhiều nguồn vốn khác nhau bao gồm:
1.3.1. Nguồn Ngân sách Nhà nước:
- Ngân sách Nhà nước và chi Ngân sách Nhà nước: NSNN là hệ thống
các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế xã hội và dân
cư phát sinh trong quá trình nhà nước động viên, phân phối của cải xã hội
dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quĩ tiền tệ tập trung của nhà nước, trên
cơ sở thỏa mãn nhu cầu chi gắn với chức năng quản lý và điều hành nền kinh
tế, xã hội của Nhà nước.
Chi NSNN là quá trình sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không
hoàn trả trực tiếp, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội của
Nhà nước.
Chi NSNN thực chất là việc thực hiện quan hệ tiền tệ, được hình thành
trong quá trình phân phối, đồng thời sử dụng NSNN vào việc cấp phát kinh
phí cho bộ máy quản lý Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội
mà Nhà nước giao cho, theo những nguyên tắc nhất định. Bên cạnh đó, chi
NSNN còn là sự phối hợp giữa quá trình phân phối và quá trình sử dụng
NSNN vào các mục tiêu:

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
* Quá trình phân phối NSNN là quá trình thực hiện cấp phát kinh phí từ
NSNN, nhằm tạo ra sự hoạt động của các quỹ, trong sự vận hành và phát triển
của nền kinh tế.
* Quá trình sử dụng NSNN là quá trình trực tiếp sử dụng khoản kinh
phí, được cấp phát từ nguồn NSNN, phục vụ cho các mục tiêu phát triển của
đất nước
Đầu tư cho GD&ĐT luôn được ưu tiên hàng đầu. Dù ở cơ chế kế hoạch
hóa tập trung hay ở cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa thì trong
tất cả các nguồn tài chính đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT nói chung,
CTMTQG GD&ĐT nói riêng, NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo có tính chất
quyết định đối với việc hình thành, mở rộng, phát triển hệ thống GD&ĐT và
chiếm một tỷ trọng lớn, vì:
- Đây là nguồn tài chính cơ bản, to lớn để duy trì và phát triển hệ thống
giáo dục đào tạo theo định hướng, mục tiêu của Nhà nước.
- Giải quyết những vấn đề thuộc chính sách xã hội, công bằng trong giáo
dục đào tạo như vấn đề về quyền lợi được hưởng giáo dục ở khu vực
vùng sâu, xa và người bị thiệt thòi, con em của những gia đình chính
sách hoặc gia đình gặp khó khăn về đời sống kinh tế.
- Giải quyết những vấn đề phát triển của hệ thống giáo dục ở tầm quốc
gia và ở những khu vực mà các thành phần kinh tế xã hội khác chưa
quan tâm hoặc chưa đủ năng lực để thực hiện.
Để đạt được mục tiêu của CTMTQG GD&ĐT thì nguồn vốn từ NSNN
phải tăng theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế và được cân đối trong dự toán chi
ngân sách Trung ương.

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.3.2. Các nguồn tài chính ngoài NSNN
Chi NSNN cho CTMTQG GD&ĐT là khoản chi mang tính chất
thường xuyên. Trong những năm qua, khoản chi này có xu hướng tăng, song
vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu chi ngày càng đa dạng và yêu cầu nguồn kinh
phí lớn của các dự án của CTMTQG GD&ĐT. Do đó đòi hỏi ngoài nguồn
đầu tư từ NSNN cần phải huy động thêm các nguồn tài chính khác, bao gồm:
+ Nguồn vốn do nhân dân đóng góp: khoản đóng góp của nhân dân
bằng tiền, hiện vật, ngày công lao động để xây dựng CSVC trường học
+ Nguồn tài trợ: Gồm tài trợ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài
nước, ủng hộ của các cơ quan, doanh nghiệp, ủng hộ các các tổ chức, cá nhân
trong nước và nước ngoài.
+ Nguồn bổ sung từ ngân sách địa phương và của các Bộ, ngành.
+ Nguồn vốn vay tín dụng từ các tổ chức tín dụng, vay nước ngoài
+ Nguồn vốn khác: Các khoản được biếu tặng cho các trường bằng hiện
vật như: sách giáo khoa, máy vi tính, đồ dùng thí nghiệm…
Những nguồn này tuy chưa nhiều nhưng cũng góp phần đáng kể vào
phát triển sự nghiệp GD&ĐT

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chương II
Thực trạng chi Ngân sách Nhà nước
cho chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
2.1. Khái quát về GD&ĐT của nước ta trong thời gian qua
Trong những năm qua GD&ĐT đã đạt được một số kết quả:
Về thực hiện phổ cập giáo dục:Dự án củng cố và phát huy kết quả phổ
cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ đã thực hiện có chất lượng phổ cập giáo
dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS, thực hiện giáo dục cho
mọi người, xây dựng xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và
thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ( Chính vì vậy mà mặc dù Việt
Nam là nước có thu nhập thấp nhưng tỷ lệ người lớn biết chữ đã đạt tới 90%
- Nguồn báo cáo phát triển thế giới 2007 của World Bank- Tạp chí nhà quản lý
trang 17, số 44 tháng 2/2007)
Theo số liệu báo cáo của Bộ Giáo dục & Đào tạo, đến tháng 7 năm
2007 có 39/64 tỉnh, thành phố (đạt tỷ lệ 61%) đạt chuẩn Quốc gia phổ cập
giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và 35/64 tỉnh, thành phố (đạt tỷ lệ 55%) được
công nhận đạt chuẩn Quốc gia phổ cập giáo dục THCS, 2 tỉnh đang hoàn
thiện thủ tục để chuẩn bị được kiểm tra là Tiền Giang và Tây Ninh.
Nhiệm vụ đổi mới chương trình, nội dung giáo dục phổ thông theo tinh
thần Nghị quyết số 40/2000/QH10 đã được hoàn thành cơ bản: Hoàn chỉnh
nội dung, chương trình, sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5 ở bậc tiểu học, từ
lớp 6 đến lớp 9 ở bậc trung học cơ sở và đưa vào thực hiện từ năm học 2001-
2002. Năm học 2006 - 2007 đã tiếp tục tập trung thực hiện tốt đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, phân ban kết hợp với tự chọn
ở lớp 10 THPT. Bên cạnh đó 8 chương trình, SGK dạy tiếng dân tộc (KhMer,

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
HMông, Jrai, Chăm) đã được ban hành theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ
thông.
Năm học 2006 - 2007, hầu hết các địa phương, các Bộ Ngành liên quan
đều chủ động hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới trường, lớp học, xoá "xã
trắng" về giáo dục mầm non, đồng thời xây dựng thêm trường học mầm non,
phổ thông ở các địa bàn tập trung dân cư.
Về CSVC: Năm học 2006-2007, cả nước có 557.027 phòng học mầm
non và phổ thông, trong đó có gần 28.801 phòng học bộ môn và phòng thí
nghiệm; 22.844 thư viện trường học (chiếm tỷ lệ 74% tổng số trường phổ
thông), trong đó có 24% thư viện đạt tiêu chuẩn; hơn 1.806 phòng tập thể dục
thể thao. Số phòng học cấp 4 và phòng học kiên cố là 467.727, chiếm tỷ lệ
89,6%. Riêng khối phổ thông xây mới được tổng số 32.580 phòng học, trong
đó có 15.831 phòng học tiểu học, 11.513 phòng học cho THCS và 5.236
phòng học cho THPT.
Tuy nhiên theo báo cáo từ các địa phương đến 30/6/2007, số phòng học
của Tiểu học có 242.939 phòng (mới đáp ứng 90,7% so với nhu cầu), THCS
có 147.290 phòng (mới đáp ứng 88,6% so với nhu cầu) và THPT có 57.528
phòng (mới đáp ứng 79,5% so với nhu cầu). Chưa đến 50% trường có kho,
phòng chứa thiết bị đáp ứng so với nhu cầu, cụ thể: Tiểu học có 7.828 kho,
phòng (đáp ứng 42,6% so với nhu cầu), THCS có 6.882 kho, phòng (đáp ứng
48,7% so với nhu cầu), THPT có có 1.634 kho, phòng (đáp ứng 50,4% so với
nhu cầu). Phòng thí nghiệm và phòng học bộ môn còn thiếu nhiều , toàn quốc
trường THCS chỉ có 113.910 phòng trên tổng số 163.800 lớp, trường THPT
chỉ có 5.104 phòng trên tổng số 24.298 lớp. Có thể nói đây là một trong
những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến việc đạt mục tiêu nâng

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cao chất lượng giáo dục theo yêu cầu của nội dung chương trình sách giáo
khoa mới
2.2. Thực trạng kinh phí đầu tư cho CTMTQG GD&ĐT
Kinh phí đầu tư cho CTMTQG GD&ĐT gồm nguồn kinh phí từ NSNN
và nguồn kinh phí huy động từ các nguồn khác như: Vốn NSTW hỗ trợ, vốn
địa phương bổ sung, vốn vay tín dụng, vốn nước ngoài, vốn lồng ghép, vốn
huy động cộng đồng.
Trong giai đoạn 2001-2005 các nguồn kinh phí huy động như sau:
2.2.1. Tổng mức kinh phí từ Ngân sách Trung ương đã chi cho các dự án
thuộc CTMTQG GD&ĐT Giai đoạn 2001 – 2005
Nguồn kinh phí này được trích trực tiếp từ NSTW để thực hiện chương
trình. Đây là khoản chi rất lớn, mang tính chất thường xuyên nên khoản chi
này được chi theo dự toán, các khoản chi này nằm trong dự toán đã được xây
dựng trước. Hàng năm ngành GD&ĐT cơ quan quản lý chương trình xây
dựng dự toán cho khoản chi này, dự toán này sẽ là căn cứ chính thức để phân
bổ khoản chi và giao nhiệm vụ cho từng cấp từ Trung ương xuống địa
phương. Đồng thời Bộ GD&ĐT đã dự toán kinh phí chi CTMTQG GD&ĐT
để thực hiện ở cấp Trung ương và cấp địa phương
Tổng số kinh phí đã chi để thực hiện CTMTQG GD&ĐT là 7.770,1 tỷ
đồng, trong đó: NSTW là 5.527,7 tỷ đồng (vốn sự nghiệp) chiếm 71,14%;
Nguồn NSĐP và nguồn huy động từ cộng đồng là 1.585,4 tỷ đồng chiếm
20,4%; Nguồn vay nợ và viện trợ nước ngoài là 657 tỷ đồng, chiếm 8,46%.

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bảng số 01: Ngân sách Trung ương thực cấp qua các năm của giai đoạn
2001-2005 Đơn vị tính: tỷ đồng
Nguồn:Phòng SNVX- Vụ Tài chính HCSN- Bộ Tài chính
Căn cứ vào nội dung hoạt động và phạm vi triển khai của các dự án, Bộ
GD&ĐT đã xây dựng dự toán chi tiết cho từng dự án, có phân chia theo từng
năm. Việc xây dựng dự toán ban đầu chưa tính đến nguồn kinh phí bổ sung
của các dự án hợp tác quốc tế và đóng góp của Ngân sách địa phương và cộng
đồng, mà chỉ tính phần Ngân sách Trung ương hỗ trợ.

Số Tên các Dự án Năm Năm Năm Năm Năm Tổng %
TT CTMTQG GD&ĐT 2001 2002 2003 2004 2005 cộng
1
Củng cố và phát huy kết quả
Phổ cập GDTH và XMC, thực
hiện phổ cập THCS
15 35,0 40 50 55 195 3,5
2
Đổi mới Chương trình, nội dung
SGK
246,7 380 520 800 1.946,7 35,2
3
Đào tạo cán bộ tin học, đưa tin
học vào nhà trường, đẩy mạnh
dạy ngoại ngữ trong hệ thống
GD QD
10,0 50 65 75 200,0 3,6
4
Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên,
tăng cường CSVC hệ thống
trường sư phạm
125 135,0 100 100 120 580,0 10,5
5
Hỗ trợ GD miền núi, vùng dân
tộc và vùng có nhiều khó khăn
130 136,0 105 120 150 641,0 11,6
6
Tăng cường CSVC các trường
học, Trung tâm kỹ thuật tổng
hợp, HN, các trường ĐH, THCN
trọng điểm
330 265,0 165 195 230 1.185,0 21,4
7
Tăng cường năng lực đào tạo
nghề
110,0 130 200 340 780,0 14,1
Tổng cộng 600 937,7 970 1.250 1.770 5.527,7 100,0

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét