Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014
quan điểm tiến hành cải cách ở Việt Nam trong những năm 1945 -1956
5
những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng không
được tiến hành ở giai đoạn hiện tại, tức giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc, mà được
thực thi ở giai đoạn thứ hai, giai đoạn cách mạng ruộng đất, trong tiến trình ba giai đoạn của
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc, trước mắ
t đối tượng chính của cách mạng Việt Nam là thực dân Pháp và bọn can thiệp
Mỹ, đối tượng phụ là bọn phong kiến phản động (không phải là toàn bộ giai cấp địa chủ
phong kiến). Trong khuôn khổ của cuộc cách mạng giải phóng, một phần nhiệm vụ của cách
mạng ruộng đất cũng được thực hiện, nhằm thúc đẩy công cuộc giải phóng dân tộc mau
thắng lợi. Do vậy, chính sách ruộng
đất trong kháng chiến được Đại hội II quy định chủ yếu
là giảm tô, giảm tức. Ngoài ra, Đại hội chủ trương thi hành những cải cách khác như quy
định chế độ lĩnh canh, tạm cấp ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian cho dân cày nghèo,
chia lại công điền, sử dụng hợp lý ruộng vắng chủ và ruộng bỏ hoang, v.v… Mục đích trước
mắt của chính sách này là làm cho nông dân phấn khởi tăng gia sản xu
ất, hăng hái tham gia
giết giặc, bảo đảm cung cấp và đoàn kết toàn dân để kháng chiến.”
1
Đến khi kháng chiến
thành công, trọng tâm của cách mạng sẽ chuyển từ nhiệm vụ giải phóng dân tộc sang nhiệm
vụ xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến. Khẩu hiệu “thực hiện người cày có ruộng”
trong phạm vi toàn quốc sẽ được đề ra.
Sang năm 1952, Đảng lại một lần nữa khẳng định: “chính sách ruộng đất của ta là
chính sách ruộng đất của mặt trận dân tộc thống nhấ
t kháng chiến, cụ thể là chính sách một
mặt địa chủ giảm tô, giảm tức và một mặt tá điền phải trả tô, trả tức”
2
. Bên cạnh việc giảm
tô, chính sách thu thuế nông nghiệp đối với địa chủ cũng góp phần làm suy yếu thế lực,
phạm vi ảnh hưởng của giai cấp địa chủ.
Như vậy, chủ trương chung của Đảng trong kháng chiến là chưa đánh đổ giai cấp địa
chủ, chưa tịch thu ruộng đất của họ vì chính sách đại đoàn kết dân tộc, cô lập tối đa kẻ thù,
đảm bảo xây dựng lực lượng toàn dân chống lại thực dân Pháp. Vì nhận thức sâu sắc “Tổ
quốc trên hết, dân tộc trên hết” nên Đảng chủ trương dùng phương pháp cải cách để thu hẹp
dần dần phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến bản xứ qua hai hình thức chủ yếu là giảm
tô, giảm tức.
Quá trình thực hiện từ 1945-1952 chính sách cải cách ruộng đất từng phần đã thu
được kết quả to lớn. Tính từ liên khu IV trở ra, đến năm 1953 đã có 397.000 ha ruộng đất
được giảm tô 25%. Ở miền Tây Nam Bộ có nơi mức tô được giảm cao hơn nhiều. Ruộng
đất đem chia cho nông dân lao động chiếm một diện tích rất lớn. Theo số liệu thống kê của
3.035 xã ở miền Bắc trước khi cải cách ruộng đất, từ năm 1945 đến 1953, ruộng đất đã tịch
thu củ
a thực dân Pháp chia cho nông dân là 26,8 ngàn ha; ruộng đất của địa chủ được đem
chia cho nông dân là 156,6 ngàn ha; ruộng đất của nhà chung đem chia cho nông dân là 3,2
ngàn ha; ruộng đất công và nửa công được chia là 289,3 ngàn ha. So với tổng số ruộng đất
chia cho nông dân đến khi hoàn thành cải cách ruộng đất kể cả sửa sai, thì số ruộng đất chia
cho nông dân từ năm 1945 đến năm 1953 chiếm 58,8%. Riêng ở Nam Bộ, cho đến năm
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, Tập 12, tr. 439-440
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, Tập 13, tr. 119
6
1953 chính quyền cách mạng đã chia cho nông dân 460 ngàn ha ruộng đất của thực dân
Pháp và những địa chủ phản bội Tổ quốc
1
.
Thống kê ở 3.035 xã ở miền Bắc cũng cho thấy quyền sở hữu ruộng đất của các giai
cấp đến năm 1953 đã có nhiều những thay đổi lớn
2
:
Thành phần Tỷ lệ dân số(%) Tỷ lệ ruộng đất sở hữu(%)
Địa chủ 2,3 18%
Phú nông 1,6 4,7%
Trung nông 36,5 39
Bần nông 43 25,4
Cố nông 13 6,3
Các thành phần khác 6 1
Ruộng công và bán công 4,3
Ruộng nhà chung 1,3
Trước năm 1945, địa chủ chiếm 3% dân số nhưng chiếm hữu 52,1% tổng số ruộng
đất. Song đến năm 1953 địa chủ chiếm 2,3% dân số và ruộng đất chiếm hữu chỉ còn 18%
tổng số ruộng đất. Nông dân lao động (gồm trung nông, bần nông và cố nông) chiếm 92,5%
dân số, đã được làm chủ 70,7% tổng số ruộng đất
3
. Kết quả cụ thể ở các địa phương càng
minh chứng cho sự thay đổi căn bản bức tranh sở hữu ruộng đất. Ở Thái Nguyên, cho đến
trước 1953 địa chủ chỉ còn chiếm khoảng 3,2% dân số và 21,6% ruộng đất. Nông dân lao
động (gồm cả trung, bần và cố nông) chiếm 91,37 dân số, đã làm chủ gần 80% tổng số
ruộng đất
4
. Thống kê ở 39 xã của tỉnh Thanh Hóa, nếu như trước năm 1945, địa chủ chiếm
3,1% dân số và chiếm hữu 30% tổng số ruộng đất, đến đầu năm 1953 số hộ địa chủ đã giảm
xuống còn 2,1% và chỉ còn trong tay 11,3% ruộng đất. Trong khi đó các tầng lớp nhân dân
lao động chiếm 97,9% số hộ và sở hữu 88,7% ruộng đất
5
Xuất phát từ sự nhận thức đúng đắn đặc điểm xã hội Việt Nam, Đảng Lao động Việt
Nam đã khéo léo đề ra một phương thức riêng, độc đáo để thực hiện khẩu hiệu “người cày
có ruộng” trong tiến trình kháng chiến chống Pháp. Trên cơ sở đó, Nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà cũng đã vận dụng luật pháp để bước đầu thực hi
ện các nhiệm vụ cách mạng
dân chủ, sử dụng luật pháp trong việc giải quyết ruộng đất cho nông dân. Những cuộc cải
cách nhỏ được thực hiện từng bước, gộp lại thành một cuộc cách mạng lớn, mang lại hiệu
quả cao. Thành quả đó đã minh chứng chủ trương tiến hành cải cách ruộng đất từng phần,
theo một đường lối cách mạng riêng biệt củ
a Việt Nam là độc đáo, đúng đắn và sáng tạo.
Đường lối đó, trước hết đã tạo ra được mối dung hòa lợi ích giữa các giai cấp trên cơ sở vì
lợi ích chung của cả dân tộc. Nó cho phép Đảng ta giải quyết một cách khéo léo mối quan
1
Tổng cục Thông kê: Việt Nam con số và sự kiện (1945-1989). Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1990, tr. 63
2
Tổng cục Thông kê: Việt Nam con số và sự kiện (1945-1989), Sđd, tr. 64.
3
Lê Mậu Hãn (cb). Đại Cương Lịch sử Việt Nam. Sđd, tr. 98-99
4
Nguyễn Duy Tiến. Quá trình thực hiện sở hữu ruộng đất cho nông dân ở Thái Nguyên. Nxb CTQG. H. 2002, tr. 102
5
Hồ sơ tổng kết cải cách ruộng đất tỉnh Thanh Hóa. HS 84, . Lưu trữ UBND tỉnh Thanh Hóa, tr 38 - 58
7
hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến trên cơ sở những điều kiện lịch sử cụ
thể. Theo cách riêng của mình, Việt Nam vừa giải quyết được vấn đề ruộng đất cho nông
dân, phát huy tinh thần kháng chiến của nông dân - lực lượng lớn nhất trong xã hội, vừa tập
hợp được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, kể cả địa chủ
và con em họ đóng góp sức người,
sức của cho cuộc kháng chiến.
2. Phóng tay phát động quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất
Bước sang năm 1953, tình hình cách mạng Việt Nam có nhiều thay đổi. Vùng tự do
của ta mở rộng và tương đối ổn định, cách mạng Việt Nam thoát khỏi thế bao vây cô độc,
quân đội ta đã giữ vững và phát huy thế chủ động chiến lược trên toàn chiến tr
ường. Sự
chuyển biến của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở giai đoạn cuối đòi hỏi chi viện
sức người, sức của cho tiền tuyến ngày càng trở nên cấp thiết. Để đưa cuộc kháng chiến đi
đến thắng lợi cuối cùng nhất thiết phải huy động hơn nữa lực lượng nhân dân mà nông dân
chiếm đa số. Điều đó đòi h
ỏi phải không ngừng bồi dưỡng lực lượng nông dân, cải thiện đời
sống nông dân. Mặt khác, do nhiều nguyên nhân, việc thi hành chính sách giảm tô, giảm tức
nhiều nơi không thu được kết quả như mong đợi, quá trình thực hiện gặp nhiều sai phạm.
Những cải cách dân chủ thực hiện trong những năm đầu kháng chiến đã có tác dụng tích cực
trong thời gian trước, đến nay tỏ ra không đủ nữa. Cũng trong thờ
i gian này, các nước Xã
hội chủ nghĩa anh em như Liên Xô, Trung Quốc cũng đưa ra ý kiến về cuộc cách mạng
nước ta. Liên Xô phê bình nước ta chậm làm cách mạng thổ địa. Trung Quốc hứa sẽ chia sẻ
kinh nghiệm với Việt Nam về phát động quần chúng cải cách ruộng đất
1
.
Trong bối cảnh đó, Hội nghị Trung ương Đảng họp lần thứ IV (1/1953) đã kiểm điểm
chính sách ruộng đất của Đảng trong những năm kháng chiến và nhận định rằng chúng ta
chưa kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong, chính sách ruộng đất
chưa được thi hành đầy đủ và kịp thời. Hội nghị đi đến k
ết luận “Việc giảm tô, giảm tức dù
có làm triệt để đi nữa cũng không thể bồi dưỡng nông dân đúng mức, không thoả mãn được
yêu cầu của nông dân, làm cho nông dân quyết tâm hy sinh cho sự nghiệp kháng chiến. Vậy
đã đến lúc, vấn đề cải cách ruộng đất phải được đề ra và giải quyết kịp thời, đặng đẩy mạnh
kháng chiến đến thắng lợi. Không thể bỏ trễ trong khuôn kh
ổ chính sách giảm tô, giảm
tức”
2
. Tiếp đó, Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khoá II và Hội nghị toàn
quốc lần thứ I của Đảng họp từ ngày 14 đến ngày 23/11/1953 một lần nữa khẳng định sự
cần thiết tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện triệt để khẩu hiệu “người cày có ruộng” và
thông qua Cương lĩnh ruộng đất của Đảng. Tháng 12/1953, Luật Cải cách ruộng
đất đã
được Quốc hội chính thức thông qua. Theo đó, cải cách ruộng đất nhằm:
“Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược
khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ.
1
Trong một cuộc gặp gỡ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Stalin tại Mát-xcơ-va, Stalin hỏi Hồ Chí Minh “giữa ghế nông
dân và ghế địa chủ, người cách mạng Việt Nam ngồi ghế nào?” Dẫn theo Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây,
Nxb Quân đội nhân dân, H. 1995, tr. 412.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14, sđd, tr. 52
8
Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân.
Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở
đường cho công thương nghiệp phát triển.
Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng
của kháng chiến.
Để đẩy mạnh kháng chiến hoàn thành giải phóng dân tộc, củng cố chế
độ dân chủ
nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc”
1
Thực hiện cải cách ruộng đất dựa trên đường lối chính sách chung: dựa hẳn vào bần cố
nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp phú nông, tiêu diệt chế độ bóc lột phong
kiến từng bước và có phân biệt, để phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến. Đường lối trên
đã thể hiện rõ quan điểm, thái độ của Đảng đối với từng giai cấp, tầng lớ
p ở nông thôn.
Như vậy đến năm 1953 đã có sự thay đổi trong đường lối chiến lược cách mạng dân
tộc dân chủ của Đảng ta. Trong những năm đầu cuộc kháng chiến, Đảng xác định “… Cuộc
kháng chiến này chỉ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, củng cố và mở rộng chế độ
dân chủ cộng hoà. Nó không tịch thu ruộng đất của địa chủ phong kiến chia cho dân cày, chỉ
tịch thu ruộng đất và các hạng tài sản khác của Việt gian phản động để bổ sung ngân quỹ
kháng chiến hay ủng hộ các gia đình chiến sĩ”
2
. Đến giai đoạn cuối cuộc kháng chiến, trước
yêu cầu về sức người, sức của ngày càng tăng lên nhanh chóng; trước tình hình những chính
sách cải cách dân chủ đề ra trong những năm đầu kháng chiến hiện không đáp ứng được
nhiệm vụ bồi dưỡng, động viên lực lượng nhân dân nữa; trước những kinh nghiệm có được
trong cuộc vận động giảm tô, giảm tức và trước yêu cầu của Liên Xô, Trung Qu
ốc - hai
nước viện trợ về vũ khí, lương thực cho ta trong kháng chiến chống Pháp đòi hỏi chúng ta
phải thực hiện cải cách ruộng đất coi đây như một biểu hiện cho tính cách mạng và là một
điều kiện để tranh thủ viện trợ. Đảng ta đã chủ trương tiến hành cải cách ruộng đất, xoá bỏ
toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam, chia hẳn ruộng
đất cho dân cày.
Cuộc phát động quần chúng triệt để thực hiện giảm tô, giảm tức, đợt thí điểm và đợt
1 đã thu hút hàng triệu đồng bào tham gia với khí thế cách mạng long trời lở đất đã khiến
cho giai cấp địa chủ càng hoang mang lo sợ và phân hoá cao độ. “Quyền làm chủ của người
nông dân trên ruộng đất mà họ đang canh tác được xác nhận về mặt pháp lý. Mơ ước có
mảnh ruộng
của riêng mình ở nông dân đến lúc này đã có hy vọng trở thành hiện thực”.
3
Khi bắt đầu trận đánh quyết chiến, chiến lược Điện Biên Phủ cũng là lúc hậu phương hoàn
thành đợt thí điểm cải cách ruộng đất, tin thắng lợi đã vang dội đã làm nức lòng người lính
ngoài mặt trận, tiếp thêm tinh thần chiến đấu to lớn, thúc đẩy bộ đội ta thi đua giết giặc lập
1
Luật Cải cách ruộng đất. Khoá họp thứ ba của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Quốc hội nước Việt Nam
xuất bản, 1954, tr.11
2
Trường Chinh: Kháng chiến nhất định thắng lợi. Nxb Sự Thật. H. 1947, tr. 30-31
3
Đinh Thu Cúc. Quyết định thực hiện Luật Cải cách ruộng đất vào cuối năm 1953 – một động lực tinh thần góp phần
quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ. In trong sách “50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và sự nghiệp đổi mới
phát triển đất nước” của Viện KHXHVN và tỉnh Điện Biên. Nxb KHXH, H., 2004, tr. 250
9
công. Sức mạnh tinh thần đã chuyển hoá thành sức mạnh vật chất tạo nên những kỳ tích của
quân đội Việt Nam. Như vậy, việc thực hiện chủ trương triệt để giảm tô, giảm tức và cải
cách ruộng đất vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ tinh
thần quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta, tích cực chi việ
n cho chiến trường trong
đông xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuy vậy, thắng lợi quân sự
của Việt Nam trong thời điểm này phản ánh của quá trình vừa kháng chiến vừa kiến quốc;
vừa chiến đấu, vừa xây dựng hậu phương; của cả quá trình thực hiện chính sách ruộng đất
từng bước ở nông thôn trước năm 1953.
Để tiến thêm một bước trong việc xóa bỏ
sự chiếm hữu ruộng đất bất công của địa
chủ, nhằm tăng cường hơn nữa sở hữu ruộng đất cho nông dân, bồi dưỡng lực lượng chính
cho cuộc kháng chiến, phát triển sản xuất, chi viện cho chiến trường thì việc tiếp tục đẩy
mạnh cuộc vận động cách mạng ruộng đất là cần thiết. Song xét về thực tế tình hình phân bố
ruộng
đất cụ thể ở nông thôn lúc bấy giờ và vấn đề đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn cao
của cuộc kháng chiến thì không nhất thiết phải phải phóng tay phát động quần chúng triệt để
giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất như đã làm. Do vậy, việc đề ra chủ trương cải cách
ruộng đất và quá trình thực hiện đã phạm sai lầm ngay từ đầu và càng về sau càng n
ặng nề
và nghiêm trọng.
Kinh nghiệm đúng đắn, sáng tạo của các thời kỳ đầu về thi hành chính sách ruộng đất
từng bước, dần dần thực hiện nhiều cải cách nhỏ, gộp lại như một cuộc cách mạng lớn về
vấn đề ruộng đất đã không được tiếp tục thực hiện. Đó là một sai lầm về phương thức thực
thi chi
ến lược cách mạng ruộng đất.
Sau hiệp định Giơnevơ, miền Bắc được giải phóng. Với quan niệm cải cách ruộng
đất trước đây đã là khâu chính để ta phát triển lực lượng, đẩy mạnh kháng chiến thì cải cách
ruộng đất lại càng cần thiết để phát triển lực lượng, củng cố hoà bình
1
, Đảng chủ trương đẩy
mạnh phát động quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đất hơn nữa, coi cải
cách ruộng đất là nhiệm vụ trung tâm để củng cố miền Bắc. Điều này đồng nghĩa với việc
tập trung mũi nhọn đấu tranh vào giai cấp địa chủ đã suy tàn. Chủ trương này được thực thi
ngày càng mở rộng đã góp ph
ần làm cho những sai lầm của cải cách ruộng đất ngày một trở
nên nghiêm trọng.
Cải cách ruộng đất được tiến hành từ 1953 đến 1956 với 8 đợt giảm tô và 5 đợt cải
cách ruộng đất trên 3.314 xã (sau chia nhỏ thành 3.653 xã) thuộc 22 tỉnh, thành phố. Qua
đó, 810.000 ha ruộng đất của thực dân, địa chủ phong kiến, ruộng đất tôn giáo, ruộng đất
công và nửa công nửa tư ở miền Bắc đã bị tị
ch thu, trưng thu, trưng mua và đã được chia
cho hơn 8 triệu nhân khẩu tức 72,8% số nông hộ. Ngoài ra còn 1,8 triệu nông cụ, hơn 10
vạn trâu bò, hàng vạn nhà cửa cũng được đem chia cho nông dân. Sau cải cách ruộng đất,
giai cấp địa chủ đã bị xóa bỏ hoàn toàn, ruộng đất đã thuộc về tay nông dân. Nhiệm vụ
“người cày có ruộng” đã hoàn thành ở miền Bắc.
1
Hoàng Quốc Việt. Đẩy mạnh cải cách ruộng đất để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất và xây dựng đất nước.
Năm 1954, hồ sơ 3908, Phông Bộ Nội vụ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
10
Từ 1945 đến 1953, Đảng, Chính phủ ta đã thực hiện nhiều biện pháp để thực thi cách
mạng ruộng đất ở Việt Nam. Chính sách ruộng đất của Đảng trong từng thời kỳ trước 1953
có khác nhau, nhưng đều tựu chung lại ở một điểm: chính sách đó một mặt biểu hiện đường
lối đại đoàn kết dân tộc, phân hoá giai cấp địa chủ, tranh thủ tất cả
các phần tử có thể tranh
thủ đứng về phía dân tộc chống kẻ thù chủ yếu nhất là đế quốc xâm lược, một mặt cũng biểu
hiện không tách rời nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc với nhiệm vụ xoá bỏ sở hữu
ruộng đất phong kiến đưa ruộng đất về tay nông dân. Điểm mạnh của hệ thống chính sách
ruộng đất của th
ời kỳ 1945 – 1953 là vừa đảm bảo chính sách đại đoàn kết dân tộc, cô lập
tối đa kẻ thù tạo nên sức mạnh rộng lớn nhất bảo đảm cho kháng chiến thắng lợi, vừa giải
quyết được quyền lợi chính đáng của giai cấp nông dân là có tư liệu sản xuất trong tay, động
viên họ tích cực tham gia kháng chiến, phát huy tính tích cực, chủ động của họ, tạo ra của
cả
i vật chất cho xã hội. Đáng tiếc, hệ thống chính sách ruộng đất những nắm 1953 – 1956
lại không phát huy được những ưu điểm trên. Cải cách ruộng đất trong những năm 1953 –
1956 thực sự đã trở thành một cuộc đấu tranh giai cấp giằng co, gay go và quyết liệt, gây
tổn hại đến khối đại đoàn kết toàn dân trong khi nhiệm vụ dân tộc chưa hoàn thành. Quan
điểm thực hiện cả
i cách ruộng đất ngay trong kháng chiến, trên thực tế là đã quay lại với
Luận cương tháng 10/1930, luận cương nặng về đấu tranh giai cấp đã từng bị thực tiễn cách
mạng Việt Nam đào thải.
Nhìn thẳng vào những sai phạm trong cải cách ruộng đất, Hội nghị lần thứ X Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (họp từ tháng 9 đến tháng 11/1956) nhận định: “Đó là những
sai lầm nghiêm trọng, phổ
biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những vấn đề
nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với nguyên tắc và điều lệ của một Đảng theo
chủ nghĩa Mác-Lênin, trái với chế độ pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân. Những sai
lầm đó không những đã hạn chế những thắng lợi đã thu được, mà lại gây ra những tổn thất
rất l
ớn cho cơ sở của Đảng, của chính quyền, của các tổ chức quần chúng, ảnh hưởng tai hại
đến chính sách mặt trận của Đảng ở nông thôn cũng như ở thành thị, ảnh hưởng nhiều đến
tinh thần đoàn kết và phấn khởi trong Đảng và trong nhân dân, đến công cuộc củng cố miền
Bắc, đến sự nghiệp đấu tranh để thực hiện thống nước nhà”
1
. Hội nghị đã thẳng thắn vạch ra
những sai lầm, phân tích những nguyên nhân và gọi đúng tên những sai lầm là tả khuynh.
Trên cơ sở đó, Hội nghị đưa ra những biện pháp hữu hiệu và kiên quyết sửa sai. Một biểu
hiện trước tiên của tinh thần nhìn thẳng, dũng cảm sửa chữa sai lầm là thi hành biện pháp kỷ
luật đối với Ban lãnh đạo Uỷ ban Cải cách ruộng đất Trung
ương.
Chủ trương cải cách ruộng đất trong những năm 1953-1956 như đã làm ngay từ đầu
là không cần thiết đặc biệt là sau khi hoà bình lập lại. Sai lầm đó không chỉ là do nhận thức
chưa sâu sắc về hai nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta mà còn vì
Đảng đã đánh giá tình hình nông thôn miền Bắc không được toàn diện, nhất là đã đánh giá
“địch” quá cao và nhấn mạnh một cách thái quá v
ề tình hình nghiêm trọng do “địch” gây ra
mà cụ thể ở đây là giai cấp địa chủ đang ở thế suy tàn.
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, sđd, tr. 540
11
Đánh giá khái quát về cải cách ruộng đất, Bộ Chính trị cho rằng: “Căn cứ trên những
kết quả đạt được và căn cứ vào hai nhiệm vụ chiến lược của cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ, thì việc tiếp tục giải quyết vấn đề ruộng đất, xoá bỏ những tàn dư của chế độ phong
kiến là cần thiết.
Căn cứ tình hình thực tế nông thôn miề
n Bắc nước ta sau năm 1954, căn cứ vào số
ruộng chia cho nông dân trong cải cách ruộng đất, căn cứ tác hại rất nghiêm trọng của sai
lầm cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, thì cách thức tiến hành cải cách ruộng đất như
đã làm là không cần thiết. Đó là vì trước khi tổ chức cải cách ruộng đất, giai cấp địa chủ,
chế độ phong kiến đã căn bả
n đã bị xoá bỏ và mục tiêu người cày có ruộng đã căn bản thực
hiện với tỷ lệ hơn 2/3 ruộng đất đã vào tay nông dân, với quyền làm chủ của nông dân trong
nông thôn đã được thực hiện từ cách mạng tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp”
1
.
Quá trình thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” ở Việt Nam là quá trình diễn ra
tương đối phức tạp và kéo dài do đặc điểm của cách mạng nước nhà. Đường lối chính sách
chỉ đạo thực hiện của Đảng đối với vấn đề thực hiện quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân
chịu tác động của nhiều nhân tố: tác động của hoàn cảnh trong nước và tác động t
ừ nhân tố
ngoài nước. Quan điểm của Đảng về việc giải quyết khẩu hiệu “người cày có ruộng” trong
những năm 1945 - 1956 có khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, đó là điều bình thường khi
hoàn cảnh lịch sử đổi thay. Nhưng đường lối thay đổi thế nào cho phù hợp với điều kiện lịch
sử mới là điều đáng quan tâm. Tất cả phụ thuộc vào sự phân tích,
đánh giá của Đảng về tình
hình thực tiễn, phụ thuộc vào tư duy, năng lực nhận thức đúng đắn của Đảng trong việc giải
quyết các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.
1
Dẫn theo: Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 2
(1954-1975), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.72.
12
THE VIETNAM COMMUNIST PARTY’S VIEWS OF THE LAND
REFORM PROCESS AS SEEN FROM THE RESOLUTION OF
THE PARTY CENTRAL COMMITTEE (1945-1956)
MA. Le Thi Quynh Nga
University of Social Sciences and Humanities,
Hanoi VNU
In the context of colonial society as in Vietnam, where the national interests was
considered higher the class’ interests, the direction policies to “farmers having land”
implementation must be laid down in the Party’s policy system of solving national missions.
National liberation had been identified as the highest objective, which democracy
implementation has become the strong powerful for the development of national liberation
revolution. Therefore, this is a complex process that is affected domestically and
internationally by various objective and subjective factors. Depending on the historical
features, properties and conditions of every specific stage, the Party had made its different
point of views in solving the farmland for the farmers.
The pre-1945 period, the production relationship was mainly to rent land and get land
rent. The Vietnamese people’s forever expectation is to own lands and fields. Right after
establishment, the Party has lay down as a policy “conducting a civil right bourgeois
revolution and land revolution toward a communist society”
1
and put forward a mission
“defeating the French Imperialism and feudalism reclaim all of the imperialist’s occupied
lands to allocate for the peasants’ farming”
2
. Historically, through 1939 to 1945 when the
Central Party had identified “the revolution in Indochina is currently to solve the urgent
issue of liberated nations instead of taking two missions of anti-empirialist and landing”
3
the
landing slogan was not addressed and focusing on revoking land of the imperialist and their
lackeys to allocate to the poor peasants. The Party’s policy is to hold aloft the national flag
and putting the interests of all sectors and classes under the vitality and existence of the
country. Under the leading of the Party, the Government and Viet Minh frontier, our people
had achieved a great victory in August 1945 Revolution by the solidarity power of whole
nation. The Democratic Republic of Vietnam has been established and remarked a high
effort of the whole nation in fighting for independence and freedom.
1
The Communist Party of Vietnam, The complete Party’s document, Vol. 2, National Political Pulishing House, H,
2000, p 2
2
The Communist Party of Vietnam, The complete Party’s document, Vol. 2, sdd, p 2-3
3
The Communist Party of Vietnam, The complete Party’s document, Vol. 3, sdd, p.119
13
The piecemeal agarian reform - a measure of land revolution by a distinct way
of Vietnam
A great victory of Revolution August 1945 has brought the independence and
freedom to the Vietnam people. As the President Ho Chi Minh’s declare against the whole
people and the world: “Vietnam has its rights to enjoy the freedom and independence, and
actually become a freedom and independent country. All of Vietnamese determine to devote
all of sprite and forces, lives and assets to maintain these freedom and independent rights”
1
.
However, Vietnamese nation had continued to fight against the evil intension of
invadation of the French colonialism to control ourselves country and fulfill the oath “It’s
better to died rather than losing the country and become slavery”.
The situation of the country did not permit the Vietnamese revolution to solve
completely the land issue at that time. Policy on land issue, slogan “farmers having
farmland” must be done to maintain the national solidarity, isolate maximine the enemy,
creating the greatest power for the victory of the fighting war while brings the right interests
for the farmer class and mobilizing them to join actively in the resistance war and country
building. In that case, the Party and Vietnam Government laid down the policy of a partly
democratic reform to limit by step the exploitation of the colonialist and feudal, and
improved living for the farmers.
In 20-11-1945 Ministry of Home Affairs of Provisional Government issued the
Circular stipulated the farmland owners had to reduce land rent by 25% and land and fields
tax by 20%; providing some principles to reallocate public farmland to both men and
women, allocating temporarily unfarming land to a part of farmers were lacking farming
land
2
. When Ministry of Home Affairs and Ministry of Agriculture made its inter-ministry
Circular on reducing land rental by 25% compared to those before the August Revolution
for the farmers (dated 28-11-1946)
3
, President Ho Chi Minh sent a letter to the landowner
that stressed on this policy: “By reduce of 25% land rental, it brought an equity and benefit
to both landowners and farmers and will not sow division”
4
. That policy had ensured the
interests to both “landlord” and “workers”.
In 15/1/1948, the Second Open Conference of the Central Party made its decision
“bring the traitors’ land and assets to allocate temporarily to the poor peasants or soldiers for
partly self-helps. Division of public land was toward a more appropriate and equity. Bring
1
Declaration of Independence of Vietnam Democracy and Republic. National Salvation Newpaper, Vol. 36, dated 5-9-
1945
2
Bureau for Central Party History Studies. History of The Communist Party of Vietnam (draft) Vol 1. Trusth Pulishing
House, p. 445
3
A summary document 1000 days war resistance of the Economic Departments, File 1683, ph«ng Minister Palace. The
National Achive Center No.3, p. 101
4
Institute for Marxism-Leninism and Ho Chi Minh Ideology Studies. Ho Chi Minh chronicles biography. Vol 4.
National Political Publishing House. H.1994, p. 262.
14
the enemy’s land to allocate to the poor peasants and rearrange the plantation managed by
the Government”
1
. The method of land employment recollected from the French
colonialism and unpatriotic Vietnamese had been identified more clearly in the fourth
Central Membership Conference (5/1948). Accordingly, the basic contents were to revoke
the unpatriotic Vietnamese people’s land and assets (announced by the court) that land
would be allocated to the farmers and the assets would be depending on the circumstaneous
to allocate to the farmers; the plantation recollected from the French will be temporarily
managed by the Government; a Governance Board will be established at each plantation to
distribute the land for and support to planning for the peasants.
In August 1945, The Central Party organized the fifth Membership Conference.
Through the true evaluation on peasants and feudal landlords, situation and nature of newly
democratic revolution in Vietnam, the Conference made its conclusion: “In order to
eradicate the feudal remnants and develop agriculture, it has to conduct a land reform”.
However, based on the characteristics of the revolution in our country and the feudalism’s
attitude to the revolution, the Conference had made its policy “Promoting a gradual
innovation to narrow the exploitation scope of indigenous feudal landlords (eg.reduced land
rent), concurrently revised the land regime (in case of not harmful to the unity frontier to
fight against the French invadation). “That was also a method to implement the land
revolution by a distinct way” (emphasized by the author).
The above Party’s decision of conducting the partly land reform had been inherited
from and develops the experiences of rightly solving the relationship of anti-colonialism and
feudalism during the national liberation mobilization pre-August Resolution. Basically,
those conditions decided the method of the land reform in Vietnam was the burning of
national liberation war. Concurrently, after the August Revolution, the people had held the
power and a democratic republic regime was founded with a quite advanced Constitution.
The newly democratic government is belonged to the people and leading by the working
class. Leader of class, Party of Workers, is also the leader of the nation and the government.
Moreover, the movement was strongly deveping in the world and had great impacts to the
Indochinese movement. However, by the Central’s decision above, there were the ebullient
arguments within the Party. “Some comraders said the Indochinese movement is only a
national liberation movement. In term of two anti-imperialist and anti-feudalism missions
mentioned above, we had priorily to gather all strengths to complete the mission of anti-
imperialist and expelling the French empire”
2
. Against these ideas, the Central Party made
clearly that “It is obviously to gather all strengths to complete anti-imperialist mission, but
anti-feudalism mission (eradicating the feudal exploitation remnants and land reform) had
not been suspended to implement after anti-imperialist finished. At that time, newly
democratic Indochinese movement could not divided into two distinct stages. The August
Revolution revoked without compensations a part of land of the French colonialism and
1
The Communist Party of Vietnam, The complete Party’s document, Vol 9, Sdd, p. 31-32
2
The Communist Party of Vietnam, The complete Party’s document, Vol. 9, Sdd, p. 198
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét