sản phẩm mới, tìm kiếm khả năng và biện pháp thu hút khách hàng. chính thông
qua tiêu thụ sẽ làm cho sản xuất ngày càng gắn với tiêu dùng hơn. doanh nghiệp
có thể sử dụng tốt hơn nguồn lực của mình, tạo dựng một bộ máy kinh doanh
hợp lý và có hiệu quả.
Tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng tổng thể các biện
pháp về tổ chức, kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiện các nghiệp vụ liên quan
đến tiêu thụ sản phẩm như nắm nhu cầu thị trường, tổ chức sản xuất, tiếp nhận
sản phẩm, chuẩn bị hàng hoá và xuất bán theo yêu cầu của khách hàng với chi
phí kinh doanh nhỏ nhất. Như vậy, tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp là một
hoạt động mang tính nghiệp vụ cao, bao gồm nhiều loại công việc khác nhau
liên quan đến các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất và các nghiệp vụ tổ chức quản lý
quá trình tiêu thụ.
Đối với các doanh nghiệp, việc chuẩn bị hàng hoá để xuất bán cho khách
hàng là hoạt động tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông (ở các kho
thành phẩm ). Các nghiệp vụ sản xuất ở các kho bao gồm: tiếp nhận, phân loại,
bao gói, lên nhãn hiệu sản phẩm, sắp xếp hàng hoá ở kho, bảo quản và chuẩn bị
đồng bộ các lô hàng để xuất bán vận chuyển hàng theo yêu cầu của khách.
Những nguyên tắc cơ bản trong tiêu thụ sản phẩm là nhận thức và thoả
mãn đầy đủ nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm, bảo đảm tính liên tục
trong quá trình tiêu thụ sản phẩm sản xuất, tiết kiệm và nâng cao trách nhiệm
của các bên trong quan hệ giao dịch thương mại.
Ở các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng, quyết
định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó. Khi sản phẩm của doanh
nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn
một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện uy tín
của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu
dùng và sự hoàn thiện của cách hoạt động dịch vụ. Nói cách khác, tiêu thụ sản
phẩm phản ánh đầy đủ những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp.
Công tác tiêu thụ sản phẩm gắn người sản xuất với người tiêu dùng, nó
giúp cho các nhà sản xuất hiểu thêm về kết quả sản xuất của mình và nhu cầu
của khách hàng.
Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân đối
giữa cung và cầu, vì nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với những cân
bằng, những tương quan tỷ lệ nhất định. Sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ tức
là sản xuất đang diễn ra một cách bình thường trôi chảy, tránh được sự mất cân
đối, giữ được bình ổn trong xã hội. Đồng thời, tiêu thụ sản phẩm giúp các đơn
- 5 -
vị xác định phương hướng và bước đị của kế hoạch sản xuất cho giai đoạn tiếp
theo.
Thông qua tiêu thụ sản phẩm, dự đoán chu cầu tiêu dùng của xã hội nói
chung và từng khu vực nói riêng đối với từng loại sản phẩm. Trên cơ sở đó, các
doanh nghiệp sẽ xây dựng được các kế hoạch phù hợp, mhằm đạt hiệu quả cao
nhất.
Tóm lại, để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến
hành thường xuyên, liên tục, hiệu quả thì công tác tiêu thụ sản phẩm phải được
tổ chức tốt. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc
tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự sống còn của các đơn vị
sản xuất kinh doanh.
II- NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở DOANH NGHIỆP
Như đã trình bày ở trên, trong cơ chế quản lý và kế hoạch hoá tập trung,
việc tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp do Nhà nước quyết định và tiến triển
khá thuận lợi. Sự khan hiếm hàng hoá đã tạo điều kiện để bán hàng nhanh
chóng, khó khăn chỉ có trong vấn đề vật tư cho sản xuất. Trong cơ chế thị
trường với việc gia tăng hàng hoá ngày càng nhiều trên thị trường nhiều nhà
kinh doanh đã phải chuyển hướng ưu tiên của mình từ sản xuất sang tiêu thụ.
Những cố gắng này ngày càng có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện mục đích
kinh doanh. Từ đó khái niệm marketing xuất hiện với nghĩa: mọi cố gắng của
doanh nghiệp đều hướng đến mục đích cần thiết là tiêu thụ sản phẩm. Theo
quan điểm kinh doanh hiện đại thì quản lý hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở doanh
nghiệp bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
1-/ Điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường về sản phẩm sản xuất của DN
Để có thể lập được kế hoạch tiêu thụ, doanh nghiệp phải nắm được nhiều
thông tin, ví dụ, về triển vọng nhu cầu trên thị trường đối với sản phẩm của
doanh nghiệp. Đối với những sản phẩm mới được đưa ra chào hàng, ngay từ quá
trình thiết kế, để thành công, doanh nghiệp cần biết một sản phẩm phải có hình
dáng mẫu mã cũng như tính chất của nó. Hơn nữa, doanh nghiệp phải có các
thông tin về những sản phẩm cạnh tranh, về vị trí của chúng trên thị trường.
Những câu hỏi này được giải đáp thông qua hoạt động nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu thị trường là công việc đầu tiên và cần thiết đối với mỗi doanh
nghiệp trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu thị trường nhằm
trả lời các câu hỏi: sản xuất những sản phẩm gì? sản xuất như thế nào? sản
- 6 -
phẩm bán cho ai?
Nội dung của nghiên cứu thị trường
* Trước hết là nghiên cứu tổng cung và tổng cầu. Tổng mức cầu là khối
lượng mà người tiêu dùng, các Doanh nghiệp, nhà nước sẽ sử dụng bằng giá cả,
thu nhập và những biến số kinh tế khác đã biết trước. Còn tổng mức cung là
khối lượng mà ngành sản xuất kinh doanh sẽ sản xuất, nhập khẩu và bán ra
trong đIều kiện giá cả, khả năng sản xuất và chi phí đã biết trước.
Nghiên cứu nắm bắt được năng lực sản xuất trong nước, dự báo khả năng
nhập khẩu trong thời gian 1 năm, 5 năm và dàI hạn10 đến 15 năm. Nghiên cứu
chu kỳ thay đổi và tốc độ tăng trưởng của tổng cầu, tổng cung. Nghiên cứu tính
quy luật và trình độ cân đối tổng cung, tổng cầu, các nguyên nhân tác động tới
cân đối tổng cung, tổng cầu.
* Thứ hai là nghiên cứu giá cả thị trường, đó là sự nghiên cứu các yéu tố
hình thành giá, các nhân tố tác động và dự đoán những diễn biến của giá cả thị
trường .
* Thứ ba : nghiên cứu người mua, người bán trên thị trường . Nội dung
nghiên cứu là phân loại được người kinh doanh theo các cấp độ khác nhau, phân
loại người tiêu dùng thành các hộ có quy mô, nhu cầu khác nhau. Tập trung
nghiên cứu những người mua có séc mua lớn và người bán có ưu thế lớn trên thị
trường những hàng hoá quan trọng.
* Thứ tư: nghiên cứu các trạng thái thị trường với những loại hàng hoá
chủ yếu tồn tại dạng độc quyền, cạnh tranh có tính độc quyền, cạnh tranh hoàn
hảo với những loại hàng hoá có lợi hay bất lợi . Xu hướng chuyển hoá các dạng
thị trường . Nguyên nhân và tác động của nó.
* Thứ năm là nghiên cứu thị trường của doanh nghiêp: xác định tỷ trọng
hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh trên tổng khối lượng hàng hoá đó trên thị
trường, tỷ trọng hàng của doanh nghiệp khác cùng kinh doanh mặt hàng đó, so
sánh về chất lượng sản phẩm, giá cả, các dịch vụ khách hàng
* Cuối cùng là nghiên cứu thị trường thế giới là nhằm tìm kiếm cơ hôị
thuận lợi, có hiêu quả trong việc thâm nhập trong quan hệ thương mại của Việt
nam với nước ngoài, nghiên cứu thị trường vĩ mô khi đã có được những kết quả
nghiên cứu thị trường thông qua nghiên cứu ổng quan Doanh nghiệp cần phải
biết chọn cho mình những cơ hội thích hợp với mình về trình độ công nghệ,
năng lực sản xuất, sản phẩm phù hợp.
- 7 -
Mục đích của nghiên cứu thị trường:
Nghiên cứu thị trường là xác định khả năng tiêu thụ những loại hàng hoá(
hoặc nhóm hàng) trên một địa bàn nhất định trong một khoảng thời gian nhất
định. Trên cơ sở đó nâng cao khả năng cung cấp để thoả mãn nhu cầu của thị
trường. Nghiên cứu thị trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì đây là một
nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng, giá bán, mạng lưới và hiệu quả của
công tác tiêu thụ. Nghiên cứu thị trường còn giúp doanh nghiệp biết được xu
hướng, sự biến đổi nhu cầu của khách hàng, sự phản ứng của họ đối với sản
phẩm của doanh nghiệp, thấy được các biến động của giá cả, từ đó có các biện
pháp điều chỉnh cho phù hợp. Đây là công tác đòi hỏi nhiều công sức và chi phí.
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có cán bộ nghiên cứu thị trường riêng,
thì cán bộ kinh doanh phải đảm nhiệm công việc này. Khi nghiên cứu thị trường
sản phẩm, Doanh nghiệp phải giải đáp được các vấn đề sau:
- Đâu là thị trường có triển vọng đối sản phẩm của Doanh nghiệp?
- Khả năng tiêu thụ sản phẩm cuả doanh nghiệp trên thị trường đó ra sao?
- Doanh nghiệp cần phải xử lý những biện pháp gì có liên quan và có thể sử
dụng những biện pháp nào để tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ?
- Những mặt hàng nào, thị trường nào có khả năng tiêu thụ với khối lượng
lớn nhất phù hợp vơí năng lực và đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp?
- Với mức gía nào thì khả năng chấp nhận của thị trường là lớn nhất trong
từng thơì kỳ?
- Yêu cầu chủ yếu của thị trường về mẫu mã, bao gói, phương thức thanh
toán, phương thức phục vụ
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ và phương thức phân phối sản phẩm.
Hoạt động nghiên cứu thị trường được thực hiện theo hai phương pháp:
Phương pháp thứ nhất: là nghiên cứu tại văn phòng hay tại bàn làm việc.
Đây là phương pháp phổ thông nhất của mọi cán bô nghiên cứu cần phải có hệ
thống tư liệu, tài liệu thông tin về thị trường để nghiên cứu. Hệ thống thông tin
trong nước về thị trường cần nghiên cứu bao gồm:
+ Niên giám thống kê Việt Nam, các bản tin về thị trường giá cả, tạp chí
Thương Mại, sách báo thương mại, các báo cáo của các Bộ.
+ Báo cáo tổng kết, đánh giá của Chính phủ, các bộ ngành có liên quan.
Bộ phận tư vấn của thị trường thương mại Quốc tế đã hợp tác với UNSO
(Thống kê của Liên hợp quốc) và các tổ chức Quốc tế, Quốc gia đưa ra các số
liệu thống kê về mậu dịch Quốc tế dưới dạng các bảng biểu theo hệ thống máy
- 8 -
vi tính hoá. Đó là các tài liệu cần thiết cho 1500 nhóm sản phẩm, nhiều thị
trường và cập nhật.
Ngiên cứu tại văn phòng có mặt tiện lợi đó là chi phí thấp, có nhiều tài
liệu, đưa quyết định nhanh chóng nhưng cũng có nhược điểm là thông tin không
cập nhật độ tin cậy có hạn.
Phương pháp thứ hai: Nghiên cứu tại hiện trường bao gồm việc thu thập
thông tin chủ yếu thông qua tiếp xúc trên thị trường . Một số phương pháp để
thu thập thông tin tại hiện trường như sau:
+ Phương pháp quan sát: Là phương pháp cổ điển nhưng rẻ tiền nhất, tránh
được thiên kiến của người trả lời câu hỏi. Sự quan sát có thể do người trực tiếp
tiến hành, cũng có thể qua máy móc như chụp ảnh, quay video. Khuyết điểm
của quan sát là chỉ thấy được sự mô tả bên ngoài, tốn nhiều công sức và thời
gian.
+ Phương pháp phỏng vấn: Gồm có việc thăm dò ý kiến và thực hiện: Cả hai
đều phải liên lạc trực tiếp với người trả lời phỏng vấn trực tiếp hoặc qua thư,
điện thoại, Cơ quan nghiên cứu có thể phối hợp với một số Doanh nghiệp làm
một trắc nghiệm chẳng hạn thay đổi giá bán để xem đưa đến kết quả gì? Phương
pháp này phức tạp, phải tính toán công phu và phối hợp chặt chẽ.
+ Soạn thảo các câu hỏi điều tra và phiếu trưng cầu ý kiến những người mua
bán trên thị trường.
Phương pháp thứ hai này có thể giúp Doanh nghiệp có được những thông
tin cần thiết và sát với mục tiêu kinh doanh của mình hơn, hơn nữa những thông
tin này có độ tin cậy hơn, tuy vậy để có được chúng Doanh nghiệp cần có chi
phí lớn và thời gian nhất định để phân tích.
Chính vì ưu, nhược điểm của mỗi phương pháp nên doanh nghiệp cần
phải kết hợp nghiên cứu tại văn phòng với nghiên cưú tại hiện trường. Nghiên
cứu thị trường phải tuân theo một quy chình chặt chẽ, tự đề ra mục tiêu, xây
dựng các danh mục các vấn đề cần nghiên cứu, tìm các số liệu thống kê, bổ
sung các số liệu mới, phân tích tính toán, xây dựng và đánh giá đề án, tiên đoán
khuynh hướng thị trường, cần phải có các phương tiện hiện đại để hỗ trợ. Từ đó
có thể trả lời tốt các câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Và cho ai?
Tức là thị trường đang cần những loại sản phẩm gì? đặc điểm kinh tế, kỹ thuật
của nó ra sao? Dung lượng về sản phẩm đó như thế nào? Ai là người tiêu dùng
sản phẩm đó?
- 9 -
2-/ Lựa chon sản phẩm thích ứng và tiến hành tổ chức sản xuất:
Trên cơ sở điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường, doanh nghiệp tiến
hành lựa chọn sản phẩm thích ứng với nhu cầu thị trường. Đây là nội dung quan
trọng quyết định hiệu quả của hoạt động tiêu thụ, vì trong nền kinh tế thị trường
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải dựa trên cái mà thị trường cần
chứ không phải dựa trên cái mà doanh nghiệp sẵn có. Sản phẩm thích ứng với
nhu cầu thị trường phải được hiểu theo nghĩa thích ứng cả về số lượng, chất
lượng, giá cả và thời gian mà thị trường đòi hỏi. Lựa chọm sản phẩm thích ứng
có nghĩa là phải tổ chức sản xuất những sản phẩm mà thị trường đòi hỏi. Sản
phẩm phải thích ứng với quy mô thị trường, với dung lượng thị trường, về mặt
chất lượng sản phẩm phải phù hợp với yêu cầu, tương ứng với trình độ tiêu
dùng. Thích ứng về mặt giá cả là giá cả hàng hoá được người mua chấp nhận và
tối đa hoá được lợi ích người bán.
Về mặt lượng: sản phẩm thích ứng về quy mô thị trường. Khối lượng sản
phẩm sản xuất ra phải tính đến hiệu quả kinh doanh. Nừu quy mô thị trường
nhỏ mà doanh nghiệp lại sản xuất quá nhiều thì sẽ dẫn đến hàng hoá bị ế thưà,
vốn bị ứ đọng, hàng dễ giảm phẩm chất như vậy là không có hiệu quả. Nếu
quy mô thị trường lớn mà sản xuất lại không đủ đáp ứng thì như vậy sản xuất
không hiệu quả.
Về mặt chất lượng sản phẩm: chất lượng sản phẩm là tổng hợp những
thuộc tính của sản phẩm đáp ứng với nhu cầu xác định, phù hợp với tên gọi sản
phẩm. Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiều mặt khác
nhau như tính chất cơ lý hoá, sinh học, độ nhạy cảm với giác quan của con
người. Những đặc trưng trên sẽ khác nhau ở mỗi loại sản phẩm của các hãng
khac nhau. Sản phẩm của hãng nào có chất lượng phù hợp với nhu cầu của
nhóm khách hàng mục tiêu trên thị trường thì đó sẽ là một nhân tố rất quan
trọng đem đến sự thành công cho doanh nghiệp.
Về giá cả sản phẩm: giá là khoản tiền bỏ ra để đổi lấy một món hàng hay
một dịch vụ. Thông thường giá là một yếu tố nhạy cảm bởi giá liên quan đến lợi
ích cac nhân có tính mâu thuẫn giữa người mua và người bán. Đối với người
bán, giá cả phản ánh khoản thu nhập mà họ mong muốn có được do nhường
quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm dịch vụ của mình cho người mua. Giá càng cao
người bán càng có lợi, người bán được quyền đặt giá. Đối với người mua giá
phản ánh chi phí bằng tiền mà họ chi trả cho người bán để có được quyền sở
hữu, sử dụng sản phẩm dịch vụ mà họ cần. Giá càng thấp người mua càng có
- 10 -
lợi, người mua được quyền trả giá. Từ mâu thuẫn trên thích ứng về mặt giá cả là
giá cả được người mua chấp nhận và tối đa hoá được lợi ích người bán.
3-/ Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm:
Xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là cơ sở quan trọng đảm bảo cho
quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp nhằm liên tịch theo kế hoạch
đã định. Thông qua kế hoạch tiêu thụ, hoạt động sắp tới của Doanh nghiệp trong
lĩnh vực bán hàng sẽ được xác định. Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là căn cứ để
xây dưng kế hoạch hậu cần vật tư và các bộ phận khác của kế hoạch sản xuất-
kỹ thuật- tài chính doanh nghiệp.
Bằng hệ thống các chỉ tiêu, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm phải phản ánh
được các nội dung cơ bản như: Khối lượng tiêu thụ sản phẩm về hiện vật và giá
trị có phân theo hình thức tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm và cơ cấu thị trường tiêu
thụ, và giá cả thị trường Các chỉ tiêu kế hoạch tiêu thụ có thể tính theo hiện
vật và giá trị, chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối.
Trong xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, Doanh nghiệp có thể sử
dụng nhiều phương pháp như phương pháp cân đối, phương pháp quan hệ động
và phương pháp tỷ lệ cố định Trong số những phương pháp trên phương pháp
cân đối được coi là phương pháp chủ yếu.
4-/ Tổ chức hoàn chỉnh sản phẩm và đưa hàng vào kho thành phẩm, chuẩn
bị hàng để xuất bán:
Chuẩn bị hàng để xuất bán là hoạt động tiếp tục quá trình sản xuất kinh
doanh trong khâu lưu thông. Muốn cho quá trình lưu thông hàng hoá được liên
tục, không bị gián đoạn thì các Doanh nghiệp phải chú trọng đến các nghiệp vụ
sản xuất ở kho như: tiếp nhận, phân loại, lên nhãn hiệu sản phẩm, bao gói, sắp
xếp hàng hoá ở kho bảo quản và ghép đồng bộ để xuất bán cho khách hàng (tiếp
nhận đầy đủ số lượng và chất lượng hàng hoá của Doanh nghiệp đặt gần với nơi
sản xuất sản phẩm). Nếu kho hàng đặt xa nơi sản xuất (có thể gần nơi tiêu thụ)
thì Doanh nghiệp phải tổ chức tốt việc tiếp nhận hàng hoá kịp thời, nhanh chóng
góp phần giải phóng nhanh phương tiện vận tải, bốc xếp, bảo quản an toàn, tiết
kiệm chi phí lưu thông.
Tiếp nhận đầy đủ về số lượng và đúng chất lượng hàng hoá trước hết là
tạo điều kiện để kho nắm chắc lượng hàng hoá trong kho, thực hiện tốt các
nhiệm vụ tiếp theo, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của đơn
vị. Tiếp nhận hàng hoá theo đúng nguyên tắc, thủ tục, quy trình đối với từng
- 11 -
loại sản phẩm và phương tiện chuyên chở sẽ phát hiện kịp thời tình trạng bao
gói và số lượng, chất lượng của hàng hoá để có biện pháp xử lý. Qua việc tiếp
nhận hàng hoá vào kho còn ngăn ngừa hàng hoá kém chất lượng lọt vào khâu
lưu thông, gây hậu quả xấu cho sản xuất, kinh doanh của đơn vị khác. Thực
hiện tốt công tác tiếp nhận hàng hoá ở kho góp phần hạn chế tình trạng thiếu
hụt, mất mát, hư hỏng sản phẩm, tạo điều kiện giảm chi phí lưu thông, tăng lợi
nhuận của đơn vị sản xuất kinh doanh.
Bảo quản tốt số lượng và chất lượng hàng hoá dự trữ trong kho, không
ngừng giảm hao hụt tự nhiên dưới mức cho phép. Đảm bảo cho việc xuất, nhập,
kiểm tra, kiểm kê hàng hoá. Hạ thấp chi phí bảo quản, góp phần giảm chi phí
lưu thông nói chung, chi phí kho nói riêng, giảm giá thành nghiệp vụ kho.
Các hoạt động như phân loại, ghép đồng bộ là các hoạt động dịch vụ
mang tính sản xuất sẽ được trình bày ở phần sau. Hoạt động tổ chức bao gói là
công việc lựa chọn bao bì phù hợp với sản phẩm. Mỗi loại bao bì dùng để chứa
đựng một loại hoặc một nhóm sản phẩm nhất định. Người ta quy định cách ghi
các ký hiệu để có thể nhận biết sản phẩm nhanh chóng và phân biệt với các sàn
phẩm khác. Trên bao bì còn có thể ghi nhãn hiệu của một loại vật tư, hàng hoá.
Trên nhãn hiệu người ta ghi những nội dung chủ yếu của sản phẩm để phân biệt
với các sản phẩm khác như : tên xí nghiệp, nơi sản xuất, có thể ghi tóm tắt các
tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật của sản phẩm
Trên bao bì ngoài các ký hiệu bằng chữ, bằng sơ đồ, tên riêng, để cá biệt
hoá các sản phẩm hàng hoá, để bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất, người lưu
thông và người tiêu dùng người ta còn dùng mã số mã vạch. Mã số mã vạch
giúp cho người lưu thông sản phẩm trong cửa hàng có thể sắp xếp, dự trữ, bảo
quản và quản lý một cách thuận lợi.
5-/ Định mức dự trữ thành phẩm và định giá bán
Định mức dự trữ
Dự trữ thành phẩm là những sản phẩm được xuất xưởng và nhập kho
thành phẩm nhưng chưa giao cho khách hàng. Việc hình thành loại dự trữ này là
một tất yếu do phải thực hiện các nghiệp vụ chuẩn bị sản phẩm trước lúc bán do
không ăn khớp về thời gian sản xuất với thời gian giao hàng và thời gian tiêu
dùng. Đại lượng dự trữ thành phẩm ở các doanh nghiệp cần phải tối ưu và đáp
ứng hai yêu cầu sau: đầy đủ để thực hiện bán hàng liên tục, tối thiểu đảm bảo
tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn lưu động. Điều này chỉ có thể đạt được bằng
cách xây dựng có khoa học hệ thống mức dự trữthành phẩm và tuân thủ các
- 12 -
mức đó trong quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất và kinh doanh.
Mức dự trữ thành phẩm: đây là đại lượng dự trữ bình quân năm tính theo
ngày ở cuối kỳ kế hoạch căn cứ vào thời gian cần thiết để thực hiện các nghiệp
vụ tiêu thụ, người ta xác định mức này theo phương pháp tính toán. Những
nghiệp vụ đó và thời gian thực hiện ở các doanh nghiệp có sự khác nhau, tuỳ
thuộc vào đặc điêmr sản phẩm, mặt hàng, khối lượng sản xuất, lô hàng giao,
hình thức vận chuyển và các nhân tố khác
Những nghiệp vụ tiêu thụ thường bao gồm: tích tụ và chuẩn bị đồng bộ lô
hàng, tiến hành các thí nghiệm, nghiên cứu, lên nhãn hiệu và bao gói, giao hàng,
vận chuyển hàng về các điểm quy định và làm thủ tục chuyển hàng cho đơn vị
vận tải.
Toàn bộ thời gian để thực hiện những hiệp vụ trên được gọi là chu kỳ tiêu
thụ và xác định mức dự trữ thành phẩm tính theo ngày. Thời gian cần tích tụ số
hàng đến một lượng đủcho lô hàng xuất, được xác định theo công thức sau:
Tkh = Vhg/ Vbq
Trong đó:
Vhg: số lượng sản phẩm của lô hàng xuất bán
Vbq : số lượng sản phẩm sản xuất bình quân ngày đêm dùng để giao hàng
Vbq = (V0 - Vnb )/n
Trong đó:
V0 :lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch
Vnb: số lượng sản phẩm sản xuất dùng trong nội bộ doanh nghiệp
n : số ngày trong kỳ( 360; 90; 30)
Thời gian để tiến hành thử nghiệm các sản phẩm bằng thời gian theo quy
định phù hợp với điều kiện kỹ thuật và tiêu chuẩn hiện hành. Nó phụ thuộc vào
các đặc điểm của các thử nghiệm tiến hành và tính chất sản phẩm.
Đối với một số sản phẩm, thời gian này, thường được xác định có tính
đến độ dài của quá trình ổn định, tính chất cơ- lý của sản phẩm thu được trong
quá trình sản xuất, vì các thử nghiệm chỉ có thể tiến hành sau khi kết thúc quá
trình đó. Thời gian cần thiết bao gói sản phẩm và tích tụ số hàng bao gói đến
một lượng đủ cho lô hàng xuất, được xác định theo công thức:
Tbg = Vlbg/Vbq bg
Trong đó: Vlbg: số lô hàng xuất đã được bao gói
Vbq bg: lượng sản phẩm sản xuất bình quân ngày đêm cần bao gói
- 13 -
Thời gian giao hàng được tính trên cơ sở khối lượng sản xuất sản phẩm
bình quân ngày đêm. Đại lượng này được tích tụ ở kho trong một ngày đêm,
hình thành dự trữ bình quân nửa ngày đêm (0,5).
Sau khi xác định mức dự trữ theo ngày doanh nghiệp cần tính toán các
chỉ tiêu dự trữ về hiện vật và giá trị. Mức dự trữ hiện vật được tính bằng cách
nhân mức sản phẩm một ngày đêm theo hiện vật với mức dự trữ theo ngày. Chỉ
tiêu này được sử dụng trong việc kế hoạch hoá cung ứng sản phẩm, kiểm tra tồn
kho và tính toán diện tích kho để bảo quản sản phẩm.
Chỉ tiêu giá trị về dự trữ được tính bằng cách nhân giá buôn bán sản
phẩm với mức dự trữ hiện vật.
Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều mặt hàng, khối lượng sản xuất
ngày đêm gồm nhiều loại sản phẩm khác nhau thì cơ cấu và thời gian thực hiện
các nghiệp vụ tiêu thụ, lô hàng xuất bán và các điều kiện khác nhau có thể rất
khác nhau. Vì vậy, mức dự trữ được tính có phân biệt theo mỗi loại sản phẩm và
phải có mức tổng hợp về các loại sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ. Mức này
được tính theo phương pháp bình quân gia quyền.
Định giá bán
Giá cả là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh, phát triển cùng với
sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá. Giá cả là biểu hiện bằng tiền của
giá trị hàng hoá, đồng thời biểu hiện tổng hợp các quan hệ kinh tế như cung cầu
hàng hoá, tích luỹ và tiêu dùng, cạnh tranh Giá cả là quan hệ về lợi ích kinh tế,
là tiêu chuẩn để các doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng kinh doanh.
Mặc dù trên thị trường hiện nay cạnh tranh về giá cả đã nhường vị trí
hàng đầu cho cạnh tranh về chất lượng và các hình thức dịch vụ nhưng giá cả
vẫn có một vai trò quan trọng. Hàng hoá sẽ không tiêu thụ được nếu giá cả hàng
hoá không được khách hàng chấp nhận.
Quyết định một chính sách đúng đắn là công việc rất khó khăn và có vai
trò sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Chính sách giá đúng sẽ còn giúp
doanh nghiệp bán được nhiều hàng hoá, thực hiện mục tiêu lợi nhuận, tăng thị
phần và nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thươnng trường. Chính sách giá
đúng sẽ phát huy có hiệu qủa các công cụ của marketing hỗn hợp.
6-/ Lựa chọn kênh tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường tiêu thụ sản phẩm được tiêu thụ được thực
hiện bằng nhiều kênh khác nhau, theo đó các sản phẩm vận động từ doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh đến tận tay các hộ tiêu dùng cuối cùng.
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét