Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Nâng cao hiệu quả tín dụng tại Sở giao dịch I- Ngân hàng Công thương Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
với các nguồn tiết kiệm nhàn rối từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách nhà
nước….đã được NHTM tận dụng huy động và sử dụng vốn huy động đó để
đầu tư cho các doanh nhiệp khác đang trong tình trạng thiếu vốn, cho nhu cầu
tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng và cho yêu cầu chi tiêu
của ngân sách Nhà nước trong lúc chưa có nguồn thu kịp thời…Như vậy tín
dụng ngân hàng đã góp phần điều hoà vốn một cách có hiệu quả trên phạm vi
toàn bộ nền kinh tế, tài trợ cho các hoạt động đầu tư, giảm tiền nhàn rỗi, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông.
 Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn. Các nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi từ rất nhiều các chủ thể khác nhau với qui mô khác nhau sẽ được NHTM
tập trung lại qua việc huy động và trở thành lượng vốn lớn. Thông qua việc
các ngân hàng thương mại tập trung vốn và ưu tiên cho vay một lượng vốn rất
lớn cho các ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn, các chương trình lớn, các
lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa đã góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh
cho nền kinh tế, nâng cao giá trị sản phẩm, tăng GDP, sản xuất ra những hàng
hoá chiến lược, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, tăng cường hội nhập quốc
tế và khu vực.
 Tín dụng tạo điều kiện cho các cá nhân, doanh nghiệp thực hiện các cơ
hội đầu tư sản xuất kinh doanh .
Đôi khi doanh nghiệp có khả năng tiếp cận những cơ hội đầu tư kinh
doanh tốt nhưng lại thiếu vốn đầu tư mà buộc phải bỏ lỡ cơ hội kinh doanh
đó. Hoặc trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều khả năng mở rộng sản xuất
kinh doanh nhưng nguồn tài chính thu hẹp, quá trình mở rộng không thể thực
hiện được. Tín dụng ngân hàng lúc này có vai trò quan trọng trong việc tạo cơ
Tạ Thanh Hiền 5 Ngân hàng 44B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hội để các doanh nghiệp có thể tồn tại, phát triển thực hiện các cơ hội kinh
doanh, nâng cao sức mạnh cạnh tranh trên thị trường.
 Tín dụng là công cụ thúc đẩy chế độ hạch toàn kinh doanh, tăng cường
việc quản lý tài chính, tăng tích luỹ đối với doanh nghiệp. Các tổ chức kinh tế
khi vay vốn họ phải cân nhắc về hiệu quả vốn vay mang lại - họ chỉ vay vốn
khi biết rằng có lãi. Mặt khác khi ngân hàng cho vay, trước đó, họ phải thực
hiện công việc phân tích tín dụng: phân tích các khả năng tài chính, năng lực
tài chính…qua các báo cáo tài chính. Điều này buộc các doanh nghiệp phải
tăng cường hạch toán kinh tế, quản lý tài chính và tích luỹ vốn để có thể hoàn
trả vốn cho ngân hàng.
 Tín dụng thoả mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của nền kinh
tế.
Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức : thứ nhất đó là
các cá nhân và tổ chức tạm thời có một lượng tiền nhàn rỗi do đó họ có nhu
cầu gửi tiền nhằm thực hiện các mục tiêu về an toàn và sinh lời đối với các
khoản tiết kiệm. Trong khi đó một số cá nhân và tổ chức khác lại có nhu cầu
sử dụng vốn. Điều tất yếu là tiền sẽ được chuyển từ nhóm một sang nhóm hai
nếu như cả hai cùng thấy có lợi. Khi hai đối tượng này tiếp xúc với nhau chắc
sẽ tạo ra quan hệ tín dụng trực tiếp. Tuy vậy, quan hệ tín dụng trực tiếp gặp
nhiều giới hạn về quy mô, thời gian, không gian…điều này đã tạo điều kiện
làm nảy sinh các trung gian tài chính. Các trung gian tài chính với khả năng
chuyên môn hoá trong các hoạt động của mình sẽ tập hợp những người có
nhu cầu tiết kiệm và những người có nhu cầu đầu tư, bằng việc đó giải quyết
được những mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp. Như vậy bằng tín dụng ngân
hàng, NHTM đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích
tiết kiệm đồng thời làm giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (làm tăng thu
nhập cho người đầu tư) từ đó mà khuyến khích đầu tư.
Tạ Thanh Hiền 6 Ngân hàng 44B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
 Thông qua cho vay tiêu dùng đối với từng cá nhân trong nền kinh tế,
tín dụng góp phần hỗ trợ vốn cho dân cư cải thiện đời sống, tăng cường khả
năng được đào tạo.
 Tín dụng ngân hàng là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho
NHTM.
Sự tồn tại và phát triển của ngân hàng chủ yếu dựa vào khả năng sinh lời
của ngân hàng. Mà trong đó tín dụng luôn là khoản mục lớn nhất chiếm
khoảng 70% tài sản sinh lời của NHTM, tỷ lệ thu nhập do tín dụng mang lại
chiếm từ 1/2 đến 2/3 trên tổng các nguồn thu của ngân hàng . Do vậy các
NHTM đang ngày càng đa dạng hoá hình thức tín dụng ngân hàng, kết hợp
với việc mở rộng mạng lưới, phát triển công nghệ mới gia tăng các tiện ích…
một mặt đảm bảo tính an toàn trong hoạt động đồng thời tăng khả năng sinh
lời cho ngân hàng.
 Tín dụng ngân hàng là công cụ của Nhà nước để điều tiết lượng tiền tệ
lưu thông trong nền kinh tế.
Một trong những chức năng quan trọng của NHTM là tạo phương tiện
thanh toán. Khi các ngân hàng cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã
tạo ra phương tiện thanh toán- tạo ra M1 tức là cũng đã tạo ra một khả năng
cung ứng tiền tệ. Và ngược lại khi các NHTM thu hẹp tín dụng thì lượng cung
ứng tiền sẽ giảm xuống. Do đó tín dụng ngân hàng được Nhà nước sử dụng
như là một công cụ để điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông thông qua việc
thực hiện các chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước. Đó là các chính
sách về lãi suất, dự trữ bắt buộc, công cụ thị trường mở, hạn mức tín dụng …
1.1.3 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng:
- Thứ nhất trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng ngân
hàng phải chấp nhận nhiều rủi ro hơn khách hàng. Đó là các rủi ro tín dụng,
rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tồn đọng vốn. Những
Tạ Thanh Hiền 7 Ngân hàng 44B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
rủi ro này gây tổn thất cho ngân hàng. Nguyên nhân gây rủi cho ngân hàng có
thể thuộc về chính bản thân ngân hàng : do quản lý yếu kém, không có khả
năng đánh giá chất lượng các khoản vay, cố tình làm sai , do các thay đổi bất
thường trên thị trường vượt qua khả năng dự tính cuả ngân hàng như thay đổi
về lãi suất, tỷ giá, thay đổi trong các quyết định cuả Chính phủ. Một trong
những nguyên nhân quan trọng nữa là xuất phát từ phía khách hàng: khách
hàng có thể làm ăn kém hiệu quả thua lỗ, chây lười hay cố ý sử dụng sai mục
đích đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên rủi ro là điều không thể
tránh khỏi trong hoạt động của ngân hàng nhất là rủi ro tín dụng, ngân hàng
chỉ có thể kiểm soát, hạn chế nó ở mức thấp nhất bằng việc thực hiện thắt chặt
quản lý tín dụng, xây dựng chính sách và qui trình phân tích tín dụng , trích
lập quĩ dự phòng, duy trì sự phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản, trao đổi
lãi suất, sử dụng các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi lãi suất, quyền chọn…
- Thứ hai trong quan hệ tín dụng ngân hàng: Lượng tiền mà NHTM sử
dụng để cấp tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế hầu như không phải
bằng nguồn vốn tự có của bản thân ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng bao
gồm hai loại chính : Vốn của chủ ( vốn tự có) và vốn nợ. Khác với nhiều loại
hình doanh nghiệp khác, vốn của chủ ngân hàng thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong
tổng nguồn vốn, vốn nợ sẽ là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng. Ngân hàng
cấp tín dụng chủ yếu là từ nguồn vốn nợ. Nguồn vốn nợ này hình thành từ
nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng, là nguồn tiền gửi của các cá nhân, tổ
chức trong nền kinh tế, nguồn tiền vay, vốn tài trợ từ các tổ chức, Chính phủ
nước ngoài…
1.1.4 Các hình thức tín dụng của ngân hàng :
Tập hợp các phương thức cấp tín dụng được sắp xếp theo từng nhóm dựa
trên một số tiêu thức nhất định được gọi là hình thức tín dụng. Có các hình
thức tín dụng cơ bản sau theo từng tiêu thức sau:
Tạ Thanh Hiền 8 Ngân hàng 44B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Theo hình thức tài trợ tín dụng được chia theo các loại:
Cho vay : Cho vay là phương thức mang lại nhiều lợi nhuận nhất so
với các nghiệp vụ khác, đồng thời cũng là hình thức phổ biến và truyền thống
trong nghiệp vụ tín dụng. Đôi khi nói đến tín dụng người ta hàm ý là nói đến
cho vay. Cho vay là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng sẽ giao một khoản
tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong
một khoảng thời gian xác định.
Các phương thức cho vay đối với doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay:
1.Thấu chi: Đây là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép
khách hàng (người vay) được phép chi trội (vượt ) trên số dư tiền gửi thanh
toán của mình đến một giới hạn nhất định, trong một khoảng thời gian xác
định . Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Thấu chi là hình thức cho
vay dựa trên cơ sở thu chi của khách hàng không có sự phù hợp về thời gian
và qui mô do đó đã tạo thuận lợi cho khách hàng trong việc thanh toán một
cách chủ động, nhanh chóng, kịp thời. Tuy nhiên hình thức này chỉ được áp
dụng cho những khách hàng có độ tin cậy, thu nhập đều đặn với chu kỳ ngắn.
2. Cho vay trực tiếp từng lần: Cho vay trực tiếp từng lần là một hình
thức cho vay chủ yếu và tương đối phổ biến của NHTM. Đối tượng áp dụng
là những khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có đủ điều
kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Những khách hàng này chủ yếu sử dụng
vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại để kinh doanh, vốn vay của ngân
hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh
doanh tức là chỉ đến khi có nhu cầu nảy sinh mang tính thời vụ hoặc cần mở
rộng sản xuất kinh doanh họ mới đến ngân hàng vay vốn. Cho vay trực tiếp
từng lần là nghiệp vụ cho vay tương đối đơn giản, tiền vay dựa trên giá trị
của tài sản đảm bảo.
Tạ Thanh Hiền 9 Ngân hàng 44B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
3. Cho vay luân chuyển: Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay
dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá. Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp
mua hàng hoá có thể thiếu vốn, do vậy cần vay vốn từ ngân hàng và sẽ trả nợ
khi doanh nghiệp bán được hàng. Cho vay luân chuyển thường được áp dụng
với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh có chu kỳ tiêu thụ đều đặn, ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường
xuyên đối với ngân hàng.
4. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng là
nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng một
hạn mức tín dụng được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Hạn
mức tín dụng là số dư tối đa tại thời điểm tính, hạn mức tín dụng sẽ được xác
định tuỳ theo từng đối tượng khách hàng. Cho vay theo hạn mức tín dụng
được sử dụng cho các khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia
thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
5. Cho vay gián tiếp: Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay thông
qua các trung gian. Cho vay gián tiếp được áp dụng đối với thị trường có
nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán…do đó cho vay qua trung gian sẽ có
thể tiết kiệm được chi phí cho vay. Cho vay gián tiếp có hai loại:
- Ngân hàng cho vay gián tiếp thông qua các tổ, đội, hội nhóm như Hội
nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội người mù…các tổ chức này sẽ
đứng ra đảm bảo vay vốn cho các thành viên với mục đích phát triển kinh tế,
xoá đói giảm nghèo, làm giàu. Đối tượng của hình thức cho vay này không
chỉ là những người buôn bán nhỏ, hộ gia đình…mà còn có thể là các doanh
nghiệp lớn với trung gian là các tổng công ty.
- Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm
đầu vào của chu kỳ sản xuất. Người bán lẻ sẽ tập trung các hoá đơn chứng từ
đề nghị ngân hàng thanh toán, sau đó ngân hàng sẽ thu nợ của khách hàng.
Tạ Thanh Hiền 10 Ngân hàng 44B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
6. Cho vay trả góp: Cho vay trả góp là hình thức tín dụng trong đó
khách hàng được phép hoàn trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã
thoả thuận.
Hình thức cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay
có giá trị lớn trung và hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng hoá lâu bền
như mua ô tô, mua nhà Tuy nhiên đây là hình thức cho vay có độ rủi ro cao
do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hoá mua trả góp, nếu thu nhập của
người đi vay bất ổn do ốm đau, mất việc…sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu nợ
của ngân hàng. Do đó cho vay trả góp thường có lãi suất cao nhất trong khung
lãi suất cho vay của ngân hàng.
Chiết khấu thương phiếu:
Thương phiếu được hình thành trong quá trình mua bán chịu giữa người
mua chịu và người bán chịu. Người bán hay người thụ hưởng có thể giữ
thương phiếu cho đến hạn sẽ được người mua hay người phải trả thanh toán;
hoặc trong nhiều trường hợp người bán ( người thụ hưởng) có thể xin chiết
khấu thương phiếu trước hạn tại ngân hàng. Chiết khấu thương phiếu là hình
thức tín dụng trong đó ngân hàng sẽ ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng
với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một
thương phiếu chưa đến hạn. Đến hạn ngân hàng có quyền đòi tiền từ người
mua (người phải trả), nếu người phải trả không trả ngân hàng có quyền truy
đòi đối với các bên có ký tên trên thương phiếu.
Bảo lãnh: Bảo lãnh của ngân hàng là việc ngân hàng sẽ cam kết dưới
hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện thay cho khách hàng của mình các
nghĩa vụ tài chính khi khách hàng không thực hiện các nghĩa vụ như cam kết
với đối tác.
Bảo lãnh là một hình thức tài trợ thông qua uy tín. Ngân hàng không
phải xuất tiền ngay khi bảo lãnh. Do đó bảo lãnh được ghi vào tài sản ngoại
Tạ Thanh Hiền 11 Ngân hàng 44B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
bảng, đó là giá trị mà ngân hàng cam kết trả thay khách hàng của mình. Phần
bảo lãnh ngân hàng phải thực hiện thay cho khách hàng của mình các nghĩa
vụ tài chính lúc đó sẽ được ghi vào loại tài sản “xấu” trong nội bảng, cấu
thành nợ quá hạn.
Bảo lãnh thường có ba bên: Bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh, bên hưởng
bảo lãnh. Trong đó ngân hàng là bên bảo lãnh, khách hàng của ngân hàng là
bên được bảo lãnh, người hưởng bảo lãnh là bên thứ ba. Bảo lãnh có các loại
sau: Bảo lãnh bảo đảm dự thầu, bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước, bảo
lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả vốn vay( bảo lãnh vay vốn), bảo
lãnh đảm bảo thanh toán.
Bảo lãnh của ngân hàng tạo mối liên kết trách nhiệm tài chính và san sẻ
rủi ro giữa các bên liên quan. Trước hết do mối liên hệ giữa khách hàng và
ngân hàng buộc khách hàng phải thực hiện các cam kết đã ký đồng thời góp
phần giảm bớt thiệt hại tài chính cho bên thứ ba khi tổn thất xảy ra. Bảo lãnh
cũng góp phần tạo điều kiện ở rộng các dịch vụ như kinh doanh ngoại tệ, tư
vấn, thanh toán.
Cho thuê ( thuê- mua tài sản ): Cho thuê bắt nguồn từ việc một số
doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp các thiết bị, nhà cửa có giá trị lớn, thời
gian sử dụng lâu dài có nhu cầu tiêu thụ để tăng doanh thu và giảm sự hao
mòn của tài sản, trong khi đó lại có những người mua không đủ tiền mua hoặc
chỉ có nhu cầu sử dụng tài sản trong thời gian ngắn hơn thời gian khấu hao
của tài sản do đó đã nảy sinh nhu cầu cho thuê và đi thuê. Cho thuê là việc
các ngân hàng thương mại bỏ tiền mua các tài sản theo yêu cầu của khách
hàng để cho khách hàng thuê theo những thoả thuận nhất định. Và sau một
thời gian nhất định khách hàng phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng. Do vậy
tài sản cho thuê thuộc sở hữu của ngân hàng nên ngân hàng sẽ thu hồi để bán
hay cho người khác thuê.
Tạ Thanh Hiền 12 Ngân hàng 44B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cho thuê có hai hình thức chủ yếu là cho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài
chính. Việc cho thuê nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian ngắn
còn cho thuê tài chính đáp ứng cho các nhu cầu sử dụng lâu dài và người đi
thuê có quyền mua lại tài sản khi hết hợp đồng thuê. Trong hoạt động tín
dụng của ngân hàng thương mại thì hoạt động cho thuê chủ yếu là cho thuê tài
chính.
Trong hoạt động cho thuê của ngân hàng thì tài sản cho thuê thường là
tài sản cố định, những tài sản này ngân hàng không cam kết cung cấp các dịch
vụ bảo dưỡng tài sản cũng như không chịu trách nhiệm về những thiệt hại đối
với tài sản cho thuê. Khi người đi thuê không thực hiện đúng hợp đồng ngân
hàng sẽ có quyền thu hồi lại tài sản. Một đặc điểm nữa là lãi suất cho thuê
thường cao do phải bao gồm các chi phí liên quan đến tìm kiếm người cung
cấp, mua trang thiết bị, chi phí dàn xếp, và do rủi ro mà ngân hàng gặp phải vì
đây là những tài sản mang tính đặc chủng, khó bán và chi phí thu hồi cao. Để
quản lý hoạt động cho thuê ngân hàng thương mại có thể lập các phòng cho
thuê hoặc có rất nhiều ngân hàng đã chuyên môn hoá nghiệp vụ cho thuê bằng
việc lập ra các công ty cho thuê.
- Phân loại theo sự bảo đảm tín dụng:
 Tín dụng không có sự đảm bảo (tín chấp). Tín dụng không có đảm bảo
là loại tín dụng không cần tài sản đảm bảo mà việc cho vay chỉ dựa trên uy
tín của bản thân khách hàng. Vì vậy hình thức này được cấp cho các khách
hàng có uy tín, khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính
lành mạnh, vững chắc, các món vay tương đối nhỏ so với nguồn vốn của
người vay hoặc các khoản vay theo chỉ định của Chính phủ mà Chính phủ yêu
cầu không cần có tài sản đảm bảo.
 Tín dụng có tài sản đảm bảo: Đối với loại tín dụng này khi khách hàng
vay vốn phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba. Tín
Tạ Thanh Hiền 13 Ngân hàng 44B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
dụng có đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng của mình phải ký hợp
đồng đảm bảo, ngân hàng sẽ kiểm tra, đánh giá tài sản đảm bảo về các nội
dung như quyền sở hữu, giá trị thị trường, khả năng bán tài sản, khả năng tài
chính của bên bảo lãnh… để có thể giám sát và bảo quản tài sản đảm bảo,
thanh lý tài sản khi khách hàng không trả nợ
- Phân loại theo độ rủi ro:
Tín dụng phân theo độ rủi ro bao gồm các khoản tín dụng có độ an toàn
cao, khá, trung bình và thấp. Để phân loại ngân hàng phải nghiên cứu để xây
dựng các tiêu thức phân chia theo từng thang bậc xếp loại tín dụng có dấu
hiệu rủi ro từ thấp đến cao bao gồm các loại: Tín dụng lành mạnh, tín dụng
có vấn đề, nợ quá hạn có khả năng thu hồi, nợ quá hạn khó đ òi.
- Phân theo mục đích:
Cho vay tài trợ các dự án: Đó là các khoản vay phục vụ cho việc xây
dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm các tài sản cố định…nhằm thực hiện các dự án.
Để được vay vốn người vay phải xây dựng các phương án của dự án một cách
đầy đủ các thông tin chi tiết về nội dung, mục đích , kế hoạch, quá trình thực
hiện đầu tư…ngân hàng sẽ dựa vào việc đánh giá, phân tích các chỉ tiêu hiệu
quả tài chính của dự án để đánh giá hiệu quả như NPV, IRR, PI…dự án để
xem xét có quyết định cho vay hay không. Thông thường các khoản vay tài
trợ cho các dự án là các khoản tín dụng trung và dài hạn
 Cho vay tiêu dùng: Là một hình thức tín dụng sử dụng cho các cá nhân
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Tín dụng tiêu dùng ngày càng gia tăng mạnh
mẽ trong điều kiện kinh tế đang có nhiều bước phát triển, đời sống nhân dân
ngày càng cao gắn liền với nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng lâu bền có giá trị
lớn như nhà cửa, đất đai, xe, phương tiện vận tải…vì thế cho vay tiêu dùng
đang trở thành một trong những xu hướng phát triển và trở thành một thị
trường đầy tiềm năng trong hoạt động của ngân hàng. Việc cho vay tiêu dùng
Tạ Thanh Hiền 14 Ngân hàng 44B

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét