Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá
trình sản xuất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất
liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản
xuất dầu tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Tóm lại, do có rất nhiều quan niệm về vốn nên rất khó đưa ra được một
định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh về vốn. Tuy nhiên có thể hiểu mọt cách
khái quát về vốn như sau:
Vốn của doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu, tham gia
liên tục vào quá trình sản xuất kinh doanh với mục đích đem lại giá trị thặng dư.
B. Phân loại vốn:
Để có thể quản lý, sử dụng vốn có hiệu quả bước đầu tiên mà người
quản lí doanh nghiệp phải thực hiện là phân loại vốn. Đây là công việc
được các doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế phát triển rất quan tâm vì
nó ảnh hưởng rất nhiều tới chi phí vốn và cơ cấu huy động vốn. ở các nước
đang phát triển, các nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chưa
nhiều nên việc phân loại vốn chưa được mọi người quan tâm.
- Căn cứ vào cơ cấu vốn trong sản xuất kinh doanh: phân thành hai loại là
Vốn sản xuất và vốn đầu tư.
- Vốn sản xuất: Là loại vốn sử dụng trong quá khứ và hiện tại phục vụ
cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đó là số tiền, tài sản hữu hình, vô hình
dùng trong việc hình thành công việc sản xuất, duy trì và phát triển hoạt động
của doanh nhgiệp. Hiệu quả của nó được đánh giá thông qua sự phát triển của
doanh nghiệp và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Vốn đầu tư: Là loại vốn phục cho mục đích sản xuát kinh doanh trong
tương lai. Số lượng vốn đầu tư phụ thuộc vào kế hoạch, các dự án sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn đầu tư sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp trong tương lai do sự cạnh tranh ngày càng khóc liệt của các
đối thủ cạnh tranh và do tính phức tạp của nhu cầu ngày càng tăng. Việc huy
động đủ số lượng, kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh là một vấn đề
mà mọi doanh nghiệp luôn luôn quan tâm và dốc sức để hoàn thiện công việc
đó.
- Căn cứ vào nguồn hình thành vốn
Căn cứ vào nguồn hình thành vốn thì toàn bộ vốn của doanh nghiệp
được chia thành nợ vay và vốn của chủ sở hữu. Đây là cách phân loại cơ bản
và phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Hai loại vốn này có mối quan hệ đặc
biệt với nhau khi chúng ta xem xét cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp.
- Vốn của chủ sở hữu: Là loại vốn do các chủ sở hữu của doanh nghiệp
tài trợ và giữ lại phần lợi nhuận chưa phân phối. Đối với các loại vốn này
doanh nghiệp không phải hoàn trả những khoản tiền đã huy động được trừ khi
doanh nghiệp đóng cửa. Tuy nhiên các chủ sở hữu có thể giảm vốn bằng cách
giảm vốn ngân sách nhà nước hay mua lại cổ phiêú Chi phí vốn chủ sở hữu
là chi phí cơ hội cho việc sử dụng vốn. Trong trường hơp huy động vốn cổ
phần, chi phí vốn là lợi tức yêu cầu của các cỏ đông. Do tính dài hạn và gần
như không hoàn trả, vốn chủ sở hữu có độ an toàn rất cao.
- Vốn vay: Những tài trợ cho doanh nghiệp loại vốn này không phải là
chủ sở hữu doanh nghiệp. Đặc trưng của loại vốn này là doanh nghiệp phải
tiến hành hoàn trả vốn vay trong một thời gian nhất định. Chi phí vốn là lãi
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phải trả cho các khoản nợ vay. Mức lãi xuất hay chi phí phải trả cho nợ vay
thường ổn định và được thoả thuận trước khi vay. Huy động nợ vay rủi ro hơn
huy động vốn chủ sờ hữu song đôi khi các doanh nghiệp lại thích sử dụng nợ
vay do một đặc điểm hết sức quan trọng. Chi phí nợ vay được tính vào chi phí
hợp lí hợp lệ không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong khi, lợi tức
dành cho chủ sở hữu được trả từ lợi nhuận sau thuế không được tính vào chi
phí hợp lí hợp lệ như nợ vay. Đăc điểm này hết sức quan trọng ảnh hưởng tới
việc hình thành cơ cấu vốn tối ưu với mục đích tối đa hoá giá trị vốn chủ sở
hữu.
Nhìn chung đây là hai cách phân loại rất cơ bản và phổ biến trong nền
kinh tế thị trường. Nó giúp cho người sử dụng có thể thấy được thực trạng tài
chính của doanh nghiệp khi xem xét về măt kinh tế. Về mặt pháp lí, người sử
dụng có thể thấy được trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng kí
kinh doanh với nhà nước, về số tài sản đã hình thành từ vốn vay ngân hàng
Còn nhiều cách phân loại vốn khác như thành vốn cố định và vốn lưu động,
phân chia theo khoản mục. Mỗi cách phân loại sẽ phục vụ những mục đích nhất
định.
- Căn cứ vào vai trò và đặc điểm chu trình giá trị của vốn khi tham gia
vào quá trình kinh doanh có thể chia vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
thành 2 bộ phận: vốn cố định và vốn lưu động.
+ Vốn cố định của doanh nghiệp.
Vốn cố định của doanh nghiệp là giá trị ứng trước về tài sản cố định (bao
gồm cả tài sản cố định vô hình và tài sản cố định hữu hình). Hay nói cách khác
vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định
của doanh nghiệp.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Đặc điểm của vốn cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm
giá trị được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất, hoàn
thành vòng luân chuyển khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Vốn cố định
là một thành phần quan trọng của vốn kinh doanh. Để quản lý vốn cố định cần
phải hiểu những đặc điểm về hiện vật của vốn cố định và các tài sản cố định
của doanh nghiệp.
Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, thời gian
sử dụng dài, có chức năng là tư liệu lao động. Trong khi tham gia vào quá trình
sản xuất tài sản cố định được cụ thể hoá như sau:
Về mặt hiện vật: Tài sản cố định tham gia hoàn toàn và nhiều lần vào quá
trình sản xuất nhưng giá trị thì giảm dần cho đến khi hư hỏng hoàn toàn phải
loại khỏi quá trình sản xuất.
Về mặt giá trị: TSCĐ được biểu hiện dưới hai hình thái:
- Một bộ phận tồn tại dưới hình thái ban đầu gắn với hiện vật là tài sản cố định.
- Một bộ phận giá trị chuyển vào sản phẩm mà tài sản cố định sản xuất ra
và bộ phận này sẽ chuyển hoá khi bán được sản phẩm.
Bộ phận thứ nhất ngày càng giảm, bộ phận thứ hai ngày càng tăng cho
đến khi bằng giá trị ban đầu của tài sản cố định thì kết thúc quá trình vận
động. Như vậy khi tham gia vào quá trình sản xuất nói chung tài sản cố định
không bị thay đổi hình thái hiện vật nhưng tính năng công suất thì bị giảm
dần, tức là bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị
của nó cũng giảm đi. Bộ phận giá trị hao mòn đó đã chuyển vào giá trị sản
phẩm sản xuất ra và được tính vào chi phí khấu hao. Quỹ khấu hao dùng để tái
sản xuất tài sản cố định khi chúng bị hư hỏng hoàn toàn phải loại ra khỏi quá
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trình sản xuất đó nhằm duy trì năng lực sản xuất bình thường của doanh
nghiệp.
Chính đặc điểm vận động về hiện vật và giá trị tài sản cố định đã quyết
định đặc điểm lưu thông và chu chuyển của vốn cố định, đó là khi tham gia
vào quá trình sản xuất, vốn cố định đã bao gồm hai bộ phận.
- Một bộ phận tương ứng với giá trị hao mòn sẽ gia nhập vào giá thành
sản phẩm và được tích luỹ lại khi sản phẩm được tiêu thụ.
- Bộ phận thứ hai là phần giá trị còn lại của tài sản cố định chính từ đặc
điểm này của vốn cố định cũng như tài sản cố định mà khi đánh giá tài sản cố
định cần có các đại lượng như giá trị ban đầu (nguyên giá), giá trị còn lại của
tài sản cố định.
Để quản lý và sử dụng vốn cố định có hiệu quả cần nghiên cứu các
phương pháp phân loại và kết cấu tài sản cố định. Thông thường có các cách
phân loại sau:
- Phân loại tài sản cố định theo hình thức thái biểu hiện, theo phương
pháp này toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được chia thành hai loại:
+ Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản: Là những tài sản
cố định vô hình và hữu hình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và kinh
doanh cơ bản cuả doanh nghiệp như, nhà xưởng, phương tiện vận tải, vật kiến
trúc
+ Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản: Là các tài sản
dùng cho sản xuất kinh doanh phụ trợ, nhà cửa máy móc thiết bị phục vụ sản
xuất phụ trợ và tài sản cố định cho thuê.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng: Theo phương pháp này,
căn cứ vào tình hình sử dụng của từng thời kỳ, tài sản cố định phân thành các
loại:
+ Tài sản cố định đang dùng
+ Tài sản cố định chưa cần dùng
+ Tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh toán
Tuỳ theo từng yêu cầu quản lý mà sử dụng từng phân cách phân loại tài
sản cố định cho phù hợp, từ đó có các biện pháp quản lý và bảo toàn vốn cố
định hiệu quả.
- Vốn lưu động của doanh nghiệp: là số vốn được ứng ra để hình thành
các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho
quá trình sản xuất của doanh nghiệp được diễn ra liên tục thường xuyên. Vốn
lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần tuần hoàn liên tục và
hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Vốn lưu động là điều
kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất kinh doanh.
Vốn lưu động của doanh nghiệp dựa theo vai trò của nó trong quá trình
tái sản xuất được chia làm ba loại:
- Vốn lưu động nằm trong quá trình dự trữ sản xuất, bao gồm, vốn
nguyên vật liệu chính vật liệu phụ, phụ tùng thay thế công cụ nhỏ
- Vốn lưu động nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất, bao gồm: vốn
sản phẩm đang chế tạo, vốn bán thành phẩm tự chế.
- Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông, bao gồm: Vốn tiền tệ
vốn trong thanh toán
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Dựa vào hình thái biểu hiện và theo chức năng của các thành phần vốn
lưu động có thể chia thành:
- Vốn vật tư hàng hoá, vốn nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ
- Vốn tiền tệ: Gồm vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán.
- Căn cứ vào thời gian hoạt động và sử dụng vốn có thể chia nguồn vốn
của doanh nghiệp thành hai loại:
+ Nguồn vốn thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn
định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Nguồn vốn này được dành
cho việc hình thành các tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối
thiểu cần thiết cho hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn thường xuyên bao gồm
chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn.
+ Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1
năm) doanh nghiệp có thể sử dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm
thời, bất thường phát sinh trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn
vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Các khoản nợ ngắn hạn.
Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn
vốn phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố trong quá trình kinh doanh.
- Căn cứ vào phạm vi hoạt động có thể chia làm hai nguồn:
+ Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động từ
hoạt động của bản thân doanh nghiệp bao gồm tiền khấu hao tài sản cố định,
lợi nhuận để lại và các khoản dự trữ dự phòng, các khoản thu từ nhượng bán
thanh lý tài sản cố định.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Nguồn vốn bên ngoài: là nguồn vốn có thể huy động như vay vốn của
ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, phát hành trái phiếu nợ người cung cấp
và các khoản nợ khác. Cách phân loại này chủ yếu giúp cho sự xem xét huy
động nguồn vốn của doanh nghiệp đang hoạt động.
1.1.1.2. Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một
lượng vốn nhất định đủ lớn như là một tiền đề quyết định, không có vốn sẽ
không có bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Sẽ là không tưởng nếu
nghĩ rằng có thể tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào mà không
có vốn hoặc không đủ vốn. Nói một cách khác vốn có vai trò đặc biệt quan
trọng để bắt đầu, duy trì và phát triển hoạt động của doanh nghiệp.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập doanh nghiệp. Để bắt đầu
hoạt động sản xuất kinh doanh, trước hết doanh nghiệp cần mua sắm máy móc,
trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng hay thuê công sở, mướn nhân công Vì vậy
trong giai đoạn này, doanh nghiệp cần tới một lượng vốn rất lớn và phải huy động
vốn. Vốn là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp chủ động thực hiện các dự án
mang lại lợi nhuận. Không có vốn thì các dự án sản xuất kinh doanh, các cơ
hội kinh doanh mang nhiều lợi nhuận sẽ bị bỏ lỡ và sẽ chỉ là dự định, kế
hoạch. Mỗi doanh nghiệp cần có chiến lược duy trì và phát triển trên thị
trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Vốn vẫn là yếu tố quan trọng hàng đầu
giúp doanh nghiệp có khả năng đầu tư, đổi mới công nghệ, đầu tư cho quảng
cáo , nhằm tăng cường cạnh tranh trước các đối thủ.
Trong cơ chế bao cấp, mọi nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp Nhà nước đều được bao cấp qua nguồn cấp phát của ngân sách
Nhà nước và qua nguồn tín dụng lãi suất thấp của ngân hàng. Có thể nói trong
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thời bao cấp vốn của doanh nghiệp Nhà nước hầu như được bao cấp “cho
không”. Khi sử dụng đồng vốn doanh nghiệp chỉ lo sao cho làm được kế
hoạch Nhà nước giao còn thực tế lãi lỗ không cần quan tâm, nếu thiếu Nhà
nước sẽ bù lỗ. Chính vì vậy vấn đề khai thác thu hút vốn không được đặt ra
như một yêu cầu cấp bách, có tính sống còn đối với doanh nghiệp. Việc khai
thác đảm bảo vốn kinh doanh của doanh nghiệp trở lên hết sức thụ động. Điều
này đã một mặt thủ tiêu tính chủ động của một doanh nghiệp, mặt khác tạo ra
sự cân đối giả tạo về cung cầu vốn trong nền kinh tế. Đây là lý do chủ yếu để
giải thích tại sao trong thời kỳ bao cấp lại vắng mặt và không cần thiết có thị
trường vốn.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các khoản bao cấp về vốn qua cấp
phát của ngân sách Nhà nước không còn nữa, doanh nghiệp Nhà nước phải tự
trang trải mọi chi phí và đảm bảo kinh doanh có lãi, phải tổ chức và sử dụng
đồng vốn có hiệu quả. Mặt khác doanh nghiệp phải bảo toàn số vốn được giao
kể cả khi có trượt giá, phải chủ động tìm kiếm bạn hàng, đầu tư đổi mới trong
hoạt động kinh doanh. Nếu không làm cho vốn sinh sôi nảy nở, không bảo
toàn và phát triển vốn tất yếu sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, nguy cơ phá sản là khó tránh khỏi.
Với vai trò quan trọng to lớn như vậy nên việc bảo tồn và tăng trưởng vốn là
một nguyên lí, là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của doanh
nghiệp. Chính vì vậy mà một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp luôn trăn
trở là: Doanh nghiệp nên tạo vốn bằng cách nào? Làm thế nào doanh nghiệp có thể
huy động vốn tối đa từ mọi nguồn với một chi phí thấp nhất và một cơ cấu tối ưu?.
1.2. Nguồn vốn và quản lý sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.2.1. Nguồn vốn của doanh nghiệp
1.2.2. Chi phí vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
1.2.2.1. Chi phí vốn.
Chi phí vốn là yếu tố đầu tiên có tác động quan trọng tới việc tạo lập
vốn của doanh nghiệp. Vốn là yếu tố cần thiết cho sản xuất. Cũng như bất
kỳ một yếu tố nào khác để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần bỏ ra một chi phí
nhất định. Để tạo vốn, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ các nguồn khác
nhau. Với mỗi một loại vốn cụ thể thì chi phí vốn chính là chi phí trả cho
nguồn vốn huy động. Nó được tính bằng số lợi nhuận cần phải đạt được
trên nguồn vốn huy động để giữ không làm thay đổi số lợi nhuận dành cho
chủ sở hữu. Với mỗi nguồn huy động khác nhau lại có cách tính chi phí
riêng. Vì vậy, trên thực tế, người ta phân loại chi phí vốn theo những nguồn
cụ thể. Thông thường, khi tính toán chi phí vốn, doanh nghiệp thường phần
chia vốn thành vốn chủ sở hữu và nợ vay.
- Chi phí nợ vay.
Chi phí nợ vay là chi phí trả cho nguồn vay nợ của doanh nghiệp. Nó
được phân ra thành chi phí nợ trước thuế và chi phí nợ sau thuế. Chi phí nợ
trước thuế (K
d
) được tính toán trên cơ sở lãi suất nợ vay. Lãi suất này được
ấn định trong hợp đồng tiền vay. Trên thực tế khoản chi phí nợ vay trước
thuế còn bao gồm cả các chi phí khác ngoài lãi tiền vay như chi phí làm hồ
sơ xin vay, chi phí đi lại Những khoản chi phí này đôi khi là rất lớn. Tuy
nhiên về cơ bản, người ta vẫn hiểu chi phí nợ vay trước thuế là lãi tiền vay
trả cho chủ nợ. Chi phí nợ sau thuế K
d
(1-T) được sử dụng để tính chi phí
trung bình của vốn. Nó được xác định bằng chi phí nợ trước thuế K
d
trừ đi
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét