Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Điểm nhìn của Ngô Tất Tố trong tác phẩm " Tắt đèn"

5
lại đòi hỏi rất cao về mặt nghệ thuật biểu đạt, nghệ thuật xử lí ngơn từ nhằm mục
đích thẩm mĩ. Vì vậy, điểm nhìn nghệ thuật tuy tiềm ẩn trong văn bản nhưng cần
phải chú ý phân tích và điều này khơng còn là mới đối với các nhà phê bình,
nghiên cứu văn học. Tuy vậy, các khái niệm “điểm nhìn nghệ thuật”, “quan điểm
phản ánh” v.v. chưa phải lúc nào cũng được phân biệt rõ ràng như viện sĩ
M.Khrapchenko đã thừa nhận.
Trong thi pháp học, những quan niệm về điểm nhìn khác nhau với những
tên gọi khác nhau là lẽ tất nhiên. Cho nên, cần làm rõ các khái niệm điểm nhìn
với “cái nhìn”, “góc nhìn” (nghệ thuật), “thể” (hay diện), (T.todorov), “tiêu
điểm” và “tiêu cự” (G.Genette) v.v.
3. Điểm nhìn của văn bản
Do chỉ có ý nghĩa trong trường hợp có phản đề, một thủ pháp kết cấu bất
kỳ sẽ thành thủ pháp phân bịêt nghĩa riêng nếu như nó được kết nối vào sự đối
lập với một hệ thống tươg phản. Ở nơi nào mà tồn bộ văn bản được hàm chứa
và chỉ trong một bình diện, thì cái gọi là bình diện nói chung khơng cảm thấy
được. Chẳng hạn khơng thấy được nó trong những trần thuật sử thi. “Những
bước chuyển mau lẹ” (Pushkin) của các truyện lãng mạn chủ nghĩa chỉ có nghĩa
khi phối hợp với các đoạn trần thuật chậm rãi. Cũng như vậy “cái nhìn” sẽ trở
thành yếu tố nhận thấy được của cấu trúc nghệ thuật khi xuất hiện khả năng thay
đổi của nó trong phạm vi sự trần thuật (hoặc chiếu một văn bản trên một văn bản
khác với cách nhìn khác.
Khái niệm “điểm nhìn” tương tự như khái niệm góc nhìn trog hội hoạ và
điện ảnh.
Khái niệm “điểm nhìn nghệ thuật” thể hiện ra với tư cách là quan hệ của
hệ thống đối với chủ thể của mình (“hệ thốg” trong văn cảnh này có thể là hệ
thốg ngơn ngữ, hoặc ở những cấp độ khác cao hơn). Bằng khái niệm “chủ thể
của hệ thống” (hệ thống tư tưởng, phong cách…), chúng tơi nhằm nói đến cái ý
thức vốn có khả năng sinh ra cấu trúc đồng dạng và do đó có thể cải tạo lại được
trong khi tiếp nhận văn bản.
Hệ thống nghệ thuật được tạo nên như là sự phân tầng của các quan hệ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Chính khái niệm “có nghĩa” muốn nói đến sự tồn tại của một mối liên hệ tin tức,
tức là một sự kiện có tính khuynh hướng xác định. Do chỗ mơ hình nghệ thuật
trong hình thức chung nhất của nó tái tạo hình ảnh thé giới theo một ý thức nhất
định, tức là mơ hình hố quan hệ của cá nhân và thế giới (trường hợp cá biệt -
quan hệ của cá nhân nhận thức và thế giới được nhận thức) cho nên sự định
hướng sẽ mang tính chất chủ thể - khách thể.
Một yếu tố cấu trúc nghệ thuật tồn tại như một khả năng trong cấu trúc
ngơn ngữ, và rộng hơn, trong ý thức cấu trúc con người. Do vậy có thể mơ tả
lịch sử tiến triển nghệ thuật của nhân loại căn cứ theo một trong số những yếu tố
đó, chẳng hạn lịch sử ẩn dụ, lịch sử nhịp điụ hoặc lịch sử thể loại này hay
khác. Nếu chúng ta nắm được đầy đủ những mơ tả kiểu như vậy thì khi quy
chung về các chùm quan hệ, chúng ta có thể có được bức tranh phát triển của
nghệ thuật. Thế nhưng hiếm có yếu tố nào lại liên quan trực tiếp đến việc xây
dựng bức tranh thế giới như “điểm nhìn nghệ thuật”. Nó liên quan trực tiếp đến
các vấn đề trong những hệ thốg mơ hìh hố thứ cấp như vị thế của người sáng
tạo văn bản, vấn đề tính chân thực, vấn đề cá tính.
“Điểm nhìn” cấp cho văn bản sự định hướng nhất định về chủ thể của nó
(điều này đặc biệt rõ ràng trong lời nói trực tiếp). Nhưng mỗi văn bản lại thuộc
về một cấu trúc ngoại văn bản mà cấp độ trừu tượng hố cao nhất của nó có thể
xác định như “loại hình thế giới quan” “bức tranh thế giới” hoặc “mơ hìh văn
hố” (ranh giới rạch ròi giữa cái khái niệm đó trong trường hợp này khơng quan
trọng).
Nhưng ở mỗi một mơ hình văn học lại có sự định hướng của nó biểu hiện
trong một thang bậc nhất định những giá trị: chân thực và giả tạo, cao q và
thấp kém. Nếu hình dung “bức tranh thế giới” của một nền văn hố cụ thể như là
một văn bản nhất định ở cấp độ trừu tượng, thì tính định hướng này ở trog điểm
nhìn của văn bản ấy. Vậy là xuất hiện vấn đề về các quan hệ khả thể của điểm
nhìn văn bản văn hố và điểm nhìn của các văn bản cụ thể này hay khác (thuộc
cấp độ biểu hiện bằng ngơn ngữ hay những ký hiệu khác của cấp độ này, chẳng
hạn hình vẽ).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Ngồi ra, quan hệ “điểm nhìn - văn bản” ln ln là quan hệ “người sáng
tạo - sản phẩm sáng tạo”. Đối với văn bản văn học thì đây là vấn đề vị thế của
tác giả, của “nhân vật trữ tình”… Còn đối với mơ hình văn hố đây là hợp thể
của những vấn đề triết học tổng qt, liên quan đến sự ra đời của thế giới và tính
có ý thức của nó. Bởivì quan hệ giữa tính định hướng của văn bản văn hố và
những điểm nhìn của các văn bản cụ thể ở trong nó được xem như quan hệ của
tính chân thực hay giả mạo, nên ngay lập tức hiện ra hai quan hệ có tính
khẳnơng nghiệp: sự đồng nhất trọn vẹn và sự đối lập hồn tồn.
Vấn đề cái nhìn đưa đến cho văn bản u tố năng động: mỗi cái nhìn
trong văn bản đều có đạt đến tính chân lý và mong muốn khẳng định mình trong
cuộc đấu tranh với những cái nhìn đối lập. Nhưng nếu đưa chiến thắng này đến
việc thủ tiêu hệ thống đối lập, thì nó cũng thủ tiêu ln mình một cách nghệ
thuật. Với sự biến mất của chủ nghĩa lãng mạn thì sự luận chiến với nó cũng
chết về phương diện nghệ thuật. Do vậy khi đẩutanh với những hệ thống đối lập,
điểm nhìn khơng chỉ thủ tiêu mà còn phục hồi chúng, và nâng cao tính tích cực.
Vậy là cấu trúc “đa giọng điệu” phức tạp của những cái nhìn đã ra đời, làm cơ
sở cho nghệ thuật trần thuật hiện đại.
4. Người kể chuyện và các điểm nhìn
Mở đầu bài viết Tiểu thuyết như sự tìm tòi ra mắt lần đầu năm 1955, sau
được tập hợp trong Luận về tiểu thuyết (1964). Michel Butor đưa ra định nghĩa:
“Tiểu thuyết là một hình thức đặc biệt của trần thuật”.
Đến một tiểu luận khác, nhan đề Những tìm tòi về kỹ thuật tiểu thuyết
cũng in trong tập sách trên, ơng dành hẳn một mục để xác định “Khái niệm trần
thuật và vai trò tiểu thuyết trong tư duy hiện đại”. Theo ơng, “thế giới phần lớn
chỉ hiện ra với chúg ta qua sự trung gian của những điều người ta kể với ta về
nó: trò chuyện, bà học, sách báo v.v…”, đơn vị cơ bản của truyện kể ấy có thể
gọi là một “thơng báo” hay một “tin tức”… Nhưng sự hiểu biết của chúng ta về
thế giới thườg sai lệch vì tin tức tam sao thất bản và đủ thứ ngun nhân khác,
kể cả trí nhớ hạn hẹp của mỗi người, khiến nỗi “có biết bao nhiêu ảo ảnh giữa
chúng ta và thế giới, giữa chúng ta và những người khác, giữa chúng ta và bản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
thân chúng ta!”. Các ảo ảnh ấy chẳng bao giờ hết. Chẳng bao giờ có thể vạch ra
ranh giới dứt khốt giữa cái thực và cái tưởng tượng. Cách duy nhất để nói sự
thật, để đi tìm sự thật là “đối chiếu khơng mệt mỏi, một cách có phương pháp
những gì chúng ta thường kể với những gì chúng ta thấy, chúng ta nghe, với
những thơng tin chúng ta nhận được, nghĩa là làm việc trên truyện kể”, và “tiểu
thuyết là nơi tốt nhất cho một cơng việc như thế”.
Tiểu thuyết là một hình thức đặc biệt của truyện kể, điều đó cũng dễ thấy.
Trong tiểu thuyết có ai kể , kể về ai và kể cho ai, vì dù nói gì thì nói, con người
vẫn chiếm vị trí trung tâm của tiểu thuyết, và tiểu thuyết viết ra là để cho người
khác đọc; trên đai thế tạo thành cái thế tam giác; người kể chuyện - nhân vật -
độc giả. Nói đến người kể chuyện, là nói tới điểm nhìn được xác định trong hệ
đa phương, khơng gian, thời gian, tâm lý, tạo thành góc nhìn. Người kể chuyện
là ai, kể chuyện người khác hay kể chuyện chính bản thân mình, khoảng cách về
khơng gian từ nơi sự việc xảy ra đến chỗ đứng của người kể chuyện cũng như
độ lệch thời gian giữa lúc sự việc xảy ra và khi sự việc được kể lại vẫn thường
được các nhà tiểu thuyết quan tâm từ lâu.
Một dạng phổ biến của tiểu thuyết truyền thống là người kể chuyện giấu
mặt (người trần thuật), coi như đứng ở một vị trí nào đấy trong khơng gian, thời
gian,bao qt hết mọi diễn biến của câu chuyện đã xảy ra trọng vẹn và thuật lại
với chúng ta. Chuyện được kể ở ngơi thứ ba số ít. Dù nhân vật người kể chuyện
khơng xuất hiện, ta khơng biết tên tuổi, mặt mũi, tư cách ra sao, nhưng ngầm
hiểu trước sau vẫn một người ấy. Đó là loại tiểu thuyết một điểm nhìn.
Trong tiểu thuyết khơng thiếu gì những lúc các nhân vật đối thoại với
nhau, ngơn từ gián tiếp thay thế bằng ngơn từ trực tiếp, nhưng do cách viết sử
dụng đối thoại như “những lời trích dẫn” thơng qua khâu chọn lựa của nhà văn,
nên các đối thoại ấy thường thiếu tư cách độc lập như ta đã có dịp nói đến, và
khơng thốt ra được vùng ảnh hưởng của điểm nhìn duy nhất.
Một dạng phổ biến khác của tiểu thuyết trước kia là lối kể chuyện ở ngơi
thứ nhất với người kể chuyện xưng “tơi”. Câu chuyện gây cảm giác đáng tin cậy
hơn, vì người kể khơng phải ai đó xa lạ, đứng ở tận đâu đâu, trên cao, ngồi xa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
phóng tầm con mắt quan sát mọi chuyện mà hồ mình trực tiếp tham gia vào các
biến cố, nhất là khi người kể chuyện đóng vai nhân vật chính. Tuy nhiên, dù
nhân vật xưng “tơi” kể chuyện người khác hay kể chuyện mình thì tình hình
cũng chẳng cải thiện được bao nhiêu vì vẫn là loại tiểu thuyết một điểm nhìn.
Với loại tiểu thuyết nhiều điểm nhìn. Câu chuyện sẽ hiện ra sinh động với
nhiều bình diện, từ nhiều góc nhìn của nhiều chủ thể kể chuyện khác nhau, tuy
có hơi khó theo dõi một chút đối với những ai quen đọc loại tiểu thuyết cũ. Song
nói như thế hồn tồn khơng có nghĩa đem so sánh các tiểu thuyết ấy với hội hoạ
của trườg phái lập thể.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
CHƯƠNG II
TÁC GIẢ NGƠ TẤT TỐ VÀ TIỂU THUYẾT “TẮT ĐÈN”

1. Khái qt về tác giả
Mỗi nhà văn chúng ta đến với văn học, đến với cách mạng bằng một con
đường riêng. Ngơ Tất Tố thuộc thế hệ những nhà nho cuối mùa như Nguyễn
Trọng Thuật, Mai Đăng Đệ, Phạm Quế Lâm, Nguyễn Khắc Hiếu … Những
người đã từng chứng kiến cảnh chợ chiều của các nhà nho cũng như cảnh tiều
tuỵ sa sút của một nền Hán học đã hơn nghìn năm rực rỡ. Thật là kì lạ khi ta
thấy từ điểm xuất phát đó, nhà nho nghèo u nước Ngơ Tất Tố đã phấn đấu để
trở thành một nhà văn bạn đường của giai cấp cơng nhân trong thời kì Mặt trận
dân chủ và về sau một đảng viên cộng sản. Có thể nói trong q trình “đổi mới
tư duy”, Ngơ Tất Tố đã nêu một tấm gương sáng cho thế hệ của mình. Tất nhiên
q trình diễn biến tư tưởng của Ngơ Tất Tố có lúc đã in dấu vết của những tư
tưởng Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Hồ Thích, đã chịu ảnh hưởng của Lư
Thoa (Rou sseau), Mạnh - Đức - Tư - Cưu (Montes quieu) . Nhưng điều cần chú
ý là ơng đã thẳng thắn chỉ trích phong trào “Âu hố, vui vẻ trẻ trung cũng như
đã vạch mặt trái cái kiểu “đánh bại Tây” bịp bợm của Phạm Quỳnh, Nguyễn
Văn Vĩnh.
Trong khơng khí của thời kỳ mặt trận dân tộc, ơng đã tìm đọc tác phẩm
của Lỗ Tấn, Qúch Mạt Nhược, Gorki và cuối cùng ơng đã tìm đến những sách
báo của Đảng, của Chủ nghĩa Mác-Lênin - Trong những mơn đệ của Khổng
Mạnh, nhiều người ngơ ngác tụt lại phía sau nhưng Ngơ Tất Tố đã phấn đấu
vượt lên phía trước, đuổ kịp thế hệ trẻ và trở thành một trong những người tiến
bộ nhất của lớp nhà nho cuối mùa.
Ngơ Tất Tố sinh 1893 tại Từ Sơn, Bắc Ninh, nay là huyện Đơng Anh
ngoại thành Hà Nội. Ơng mất ngày 20-04-1954 tại n Thế Bắc Giang chỉ ít
tuần lễ trước khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi. Sự nghiệp văn
học của Ngơ Tất Tố khởi đầu bằng tác phẩm dịch Cẩm Hương Đình (1923) và
khép lại với vở chèo 10 cảnh Nữ chiến sĩ Bùi Thị Thác (1951). Ba mươi năm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
cầm bút miệt mài, say mê bằng tài năng và tâm huyết trên nhiều tư cách: Nhà
tiểu thuyết, phóng sự, nhà báo, nhà khảo cứu, dịch thuật… Ngơ Tất Tố đã kể lại
một sự nghiệp văn chương đồ sộ và đa dạng từ tiểu thuyết, phóng sự truyện ký
lịch sử đến khảo luận nghiên cứu, những cơng trình dịch thuật và hàng trăm bài
tiểu phẩm báo chí.
Điều đáng q hơn là Ngơ Tất Tố và sự nghiệp văn chương của ơng vẫn
sống mãi “sống khoẻ mạnh và sắc sảo trong văn học ta”. Như sinh thời nhà văn
Nguyễn Tn đánh giá về ơng. Vượt lên sự phơi pha vốn như một quy luật sàng
lọc tự nhiên, sòng phẳng và nghiêm ngặt của thời gian. Khối trước tác khổng lồ,
đa dạng của Ngơ Tất Tố càng ngày càng hiện hình lừng lững, càng lấp lánh vẻ
đẹp của một tài năng, một tấm lòng, một nhân cách lớn, và càng có giá trị tự
thân khẳng định vị trí đầy vinh dự của Ngơ Tất Tố trong dòng văn học hiện thực
phê phán Việt Nam cũng như vị trí xứng đáng của ơng trong nền văn học lịch sử
dân tộc.
Năm 1996 Ngơ Tất Tố vinh dự được là một trong số ít các nhà văn được
nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, Nhà xuất bản Văn học
cũng đã xuất bản tồn tập Ngơ Tất Tố, 5 tập trên 4000 trang in. Khơi trong
nguồn mạch hiện thực của đời sống, gắn với quỹ đạo nghệ thuật vị nhân sinh,
khơi sâu vào những tầng vỉa giá trị nhân văn sâu xa với ý thức, tấm lòng và tâm
huyết của một người cầm bút u nước tiến bộ ln tâm nguyện “phải hoạt
động, phải sơng pha, phải lặn lội ln ln với dân chúng”. Chính nhờ vậy khối
chước tác của Ngơ Tất Tố đã là khối tài sản vơ giá khẳng định một cách thuyết
phục sức sống của một tài năng lớn, một sự nghiệp lớn của nhà văn - nhà văn
hố Ngơ Tất Tố.
Là một nhà Nho nghèo, Ngơ Tất Tố đã từng phải chung chia cái nghèo,
cái đói của một gia đình triền miên phải lĩnh thêm ruộng làng để cày cấy và
thường xun phải oằn lưng chịu những gánh nợ lãi. Cái nghèo, cái đói đã ăn
vào, lặn vào thành máu, thành thịt của nhà văn. Lại cũng sinh ra và lớn lên ở
một vùng q nghèo giữa những cuộc đời khốn khổ ln bị cột chặt trong vòng
vây của đói khát, tù tùng, bóc lột, chà đạp, của những hủ tục qi dị, nặng nề…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
suốt cuộc đời kể cả khi phải cách xa làng q, lặn lội viết báo, viết văn kiếm
sống, Ngơ Tất Tố vẫn thiết tha gắn bó trái tim mình với những con người nghèo
khổ cần cù nhân ái vẫn rất gần gũi với cuộc sốg của ơng. Hồn cảnh đó, sợi dây
tình cảm đó khiến Ngơ Tất Tố dễ dàng cảm thơng sâu sắc và ln tìm mọi cách
sẻ chia, bênh vực đến cùng những con người “nhỏ bé”, “mờ xám” đang quằn
quại trong khổ đau, bất hạnh đồng thời cũng khiến ơng căm ghét và tố cáo đến
cùng bọn quan lại thống trị “một phần ngun nhân trong cảnh thống khổ của
dân chúng”. Cảm thơng, u tương và căm ghét, tố cáo - đó chính là tố chất cơ
bản, là linh hồn, là máu thịt của từng trang văn tạo nên giá trị hiện thực sâu sắc
và giá trị nhân văn sâu xa trong văn nghiệp của Ngơ Tất Tố. Cũng chính điều đó
lý giải vì sao Vũ Trọng Phụng đã đánh giá rất cao Ngơ Tất Tố. Theo Vũ Trọng
Phụng, Ngơ Tất Tố hơn bất cứ nhà văn nào cùng thời, là người có “đủ tư cách”,
“đủ thẩm quyền” để viết và đã là người viết ra thật cảm động những trang sách
“đáng khóc, đáng cười” về cảnh sống cơ cực ở thơn q và của người dân q
thời thực dân phong kiến.
Thơn q Việt Nam dưới ngòi bút của Ngơ Tất Tố khơng như bọn thực
dân bưng bít và một lũ nhà văn tư sản tơ điểm. Trong những luỹ tre xanh gầy và
gai góc kia, chiều chiều khói thổi cơm nhoi lên những mái tranh xám, tản ra
những cánh động lặng lẽ, khơng phải là những cảnh thơ mộng mà sự thật là
những người mẹ gần chết đói, con thơ nằm bên vẫn còn kéo dài vú ra nhay, là
những người cha ốm nhìn hấp hối trong những bếp đầu rau chỉ còn trolạnh và
những mảnh nồi vỡ, bao nhiêu áo cơm và hơi sức của bao nhiều người làm ăn
lấm lưỡi đều bị sưu cao thuế nặng lột hết, lột hết.
Và những nóc đình mái cong, ngói rêu có những cây gạo mọc vút lên hoa
đỏ rực trời, khơng phải chỉ có văng vẳng tiếng trống chèo và dập dìu bài Lưu
thuỷ về giêng, hai, ba, đình đám! Ở đây cả một bọn quan lại và cường hào cạnh
tranh nhau, tranh từng miếng phao câu, từng ngón tay xơi, cờ bạc, rượu chè, cơ
đầu, chia nhau chấm nút cấu xé ruộng đất và sưu thuế, cưỡi trên những sống
lưng gần ngã gục của nơng dân nơ dịch…
Ngòi bút rắn chắc của Ngơ Tất Tố đã khơng e dè đưa lên những sự thật
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
ấy. Người nơng dân giãy lên trên những dòng chữ của Ngơ Tất Tố, chưa ánh lên
sức đấu tranh, những sự thống khổ của họ đem phơi ra đã được một phần nào
thật, thật trên cái đen tối của chế độ tàn bạo và ruỗng nát lúc bấy giờ. Bên cạnh
đó, những sự đè nén, lừa bịp và ăn gian nói dối của bọn thực dân và lũ bồi bút
của chúng ngày càng tàn tệ, trâng tráo. Cuộc chiến tranh thứ 2 vừa nổ, Pháp ở
Đơng Dương liền quy ngay gối, mở cửa cho quan phiệt Nhật vào. Hai tầng áp
bức bóc lột và khủng bố lấy dân chúng. Văn hố trong tay hai bọn ăn cướp nọ
càng khốc hại. Chúng nó cố kéo con người trở lại với tất cả những gì là thối bộ,
dìm cho con người cắm đầu mê muội khơng thể nào cất nhìn lên, trơng về tương
lai. Cái mạnh, cái sắc của Ngơ Tất Tố là ở chỗ dám nhìn thẳng vào sự thật, căm
giận, chửi rủa và phá bỏ, Cái mạnh, ái sắc của Ngơ Tất Tố còn ở những chố đi
sâu vào những khía cạnh đen tối, sai trái của kẻ thù. Nhưng quằn quại gần hết
một đời người trong những thiếu thốn ê hề, tàn nhẫn của sự sống và khơng sớm
được trau dồi ý thức đấu tranh sáng suốt, tươi tắn, quyết liệt và đúng mực, sắt
đá, rộng rĩ, cái ý thức cách mạng và khoa học của cơng nhân nên trong một số
sáng tác ngắn và sơ thảo trong kháng chiến của Ngơ Tất Tố, nhân vật và sự sống
chưa được diễn tả đúng thực và còn nhiều chỗ lệch lạc, khơng tốt lên được cái
hướng đi lên của xã hội.
Tóm lại, “ở con người Ngơ Tất Tố là sự quy tụ, hồ hợp của nhiều con
người trong một con người: Nhà nho Ngơ Tất Tố với vốn kiến thức học vấn
un thâm về cổ học, nhà trí thức với khuynh hướng xã hội tiến bộ, nhà văn hiện
thực am hiểu và bênh vực quyền lợi người nơng dân, nhà báo năng động với
ngòi bút và giàu tính chiến đấu”. Nếu tách riêng trên mỗi lĩnh vực “Ngơ Tất Tố
là người viết sâu sắc và bộc lộ hết mình”, ơng “ln ln làm ta kinh ngạc vì
cách đặt vấn đề xã hội từ các tầng tiềm ẩn sâu xa của sự sống và của cả nền văn
hố và vì sự nhạy cảm, thức thời, cập hật của thời sự của hiện tại. Nhưng “tổng
hợp lại ơng càng lớn trong những tầng hiểu sâu xa về cuộc sống và con người,
về xã hội và thời cuộc, về tri thức và văn hố, về văn chươg và học thuật”.
Ba mươi tuổi Ngơ Tất Tố bước vào làng văn, làng báo và suốt 30 năm còn
lại của cuộc đời, ơng chân thành, miệt mài đem ngòi bút cống hiến cho sự
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
nghiệp cách mạng, cho nền văn hố dân tộc. Con đường ơng đi là con đường
thẳng từ khởi điểm nhà nho nghèo u nước, thường dân để đến với cách mạng,
đến với Đảng và trở thành nhà văn cách mạng. Ba mươi năm Ngơ Tất Tố hoạt
động văn học cũng là 30 năm của những biến động thăng trầm dữ dội trong đời
sống chính trị, xã hội và văn hố dân tộc. Nhưng Ngơ Tất Tố khơng hề chao đảo
nghiêng ngả. Ơng tự tin và quả quyết sống hết mình, viết hết mình trong nỗ lực
và mong mỏi: ngòi bút mình hữu ích cho xã hội, cho con người. Thức thời
nhưng khơng xu thời. Nghèo nhưng khơng hèn. Vượt trên mọi hư danh, cám dỗ.
Ngơ Tất Tố “đã biết đánh đổi cơm áo để lấy cái quyền viết theo chỉ thị của trái
tim mình”, trái tim chỉ thuộc về đất nước mà ơng hết lòng u thương, chỉ thuộc
về nhân dân mà ơng thiết tha gắn bó. Chính đó là cái lõi để tạo nên tài năng lớn,
đa dạng nơi ơng trong nhiều tư cách: Một cây bút tiểu thuyết, phóng sự xuất sắc,
một nhà báo “cự phách”, “có biệt tài”, một nhà khảo cứu, dịch thuật giàu tâm
huyết và bao trùm là tư cách một nhà văn hốl ớn. Chính đó cũg là cái lõi tạo
nên giá trị đặc sắc riêng trong di sản văn hố đồ sộ của Ngơ Tất Tố, là cơ sở
chắc chắn để khẳng định vị tri vững vàng của ơng trong nền văn học dân tộc.
2. Tiểu thuyết “Tắt đèn”
Ngơ Tất Tố là một nhà văn có nhiều thuận lợi để viết về nơng thơn, một
cái vốn Nho học vững chắc và một sự hiểu biết sâu sắc về nơng thơn và nơng
dân Việt Nam. “Tắt đèn” ngay từ lúc mới ra đời đã được dư luận hoan nghênh
nhiệt liệt. Vũ Trọng Phụng một nhà tiểu thuyết có tên tuổi lúc bấy giờ đã ca
ngợi: ““Tắt đèn” một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội, hồn tồn phụng sự dân
q, một áng văn có thể gọi là kiệt tác tòng lai chưa từng thấy mà lại của một tác
giả đã được cái may hơn nhiều nhà văn khác là đã được sống nhiều ở nơi thơn
q (…) đọc quyển “Tắt đèn” này, những độc giả khó tính cũng sẽ phải chịu
rằng óc quan sát của Ngơ Tất Tố về những cảnh làm ruộng, thu thuế, chè chén,
xơi thịt, ức hiếp, bán vợ đợ con của đám dân q quả là một thứ óc quan sát rất
tinh tường, rất chu đáo”. Các báo chí cách mạng ở Sài Gòn cũng cho rằng viết
về cuộc đời của nơng dân sau lũy tre xanh thì “Tắt đèn” của Ngơ Tất Tố “đã
thành cơng một cách vẻ vang hết sức”. Nhà văn đã mang đến một cách nhìn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét