Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
* Sự hình thành của Logistics
Logistics được coi là một nhánh trong nghệ thuật chiến đấu, đó chính là việc
vận chuyển và cung cấp lương thực, thực phẩm, trang thiết bị đúng lúc, đúng nơi
khi cần thiết cho lực lượng chiến đấu. Logistics đã giúp quân đội các nước tham
chiến gặt hái được những chiến thắng. Điển hình là cuộc chiến đấu của quân đội
Hoàng gia Pháp với Hải quân Anh ở thế kỷ XVII - XVIII. Mặc dù yếu thế hơn rất
nhiều so với Hải quân Anh nhưng nhờ sự nỗ lực lớn về công nghiệp và sự ứng biến
khéo léo trong Logistics, Pháp đã biến điểm yếu của mình thành sức mạnh và giành
được thắng lợi. Hay thất bại chiến lược của Đức trong cuộc tấn công bằng đường
biển vào Anh T7/1940, nguyên nhân chính là do thiếu "hậu cần" thích hợp. Ngược
lại, cuộc đổ bộ thành công của quân đồng minh vào vùng Normandie T6/1944 chính
là nhờ một phần lớn vào sự nỗ lực của khâu chuẩn bị hậu cần và quy mô của các
phương tiện hậu cần được triển khai.
Ngày nay thuật ngữ "Logistics" đã được phát triển mở rộng và được hiểu với
nghĩa là quản lý (management). Nó diễn tả toàn bộ quá trình vận động của nguyên
vật liệu và sản phẩm đi vào - qua và đi ra khỏi doanh nghiệp tới khâu phân phối tới
tay người tiêu dùng.
* Sự phát triển của Logistics
Theo Jacques Colin - giáo sư về khoa học quản lý tại trường đại học Aix -
Marseille II, giám đốc trung tâm nghiên cứu về vận tải và Logistics thì sự ra đời và
phát triển của Logistics trải qua các thời kỳ sau:
5
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
- Giai đoạn những năm 50 và 60 của thế kỷ XX:
Đây là giai đoạn thử nghiệm, các chuyên gia Logistics trong quân đội đã phục
viên thử áp dụng các kỹ năng Logistics của mình để giải quyết các vấn đề gặp phải
trong doanh nghiệp. Giai đoạn thử nghiệm này được bắt đầu từ việc nghiên cứu các
tác nghiệp và những kỹ thuật tối ưu hoá ứng dụng để giải quyết những vấn đề trong
chuyên chở và kho hàng
- Giai đoạn những năm 70 của thế kỷ XX:
Đây là thời kỳ khởi động Logistics trong doanh nghiệp. Trong thời kỳ này,
Logistics trước hết là nghiên cứu việc tối ưu hoá các bộ phận tách biệt (quản lý kho
bãi, quản lý hàng tồn kho, luân chuyển giao hàng ) và hợp lý hoá cơ cấu của doanh
nghiệp. Nghiên cứu hiệu quả của việc giảm các chi phí hoạt động và người lao động.
chuyển dần những hoạt động này sang cho những người chuyên chở và cung cấp dịch
vụ. Sự tìm kiếm tính liên tục trong vận hành doanh nghiệp là đặc điểm chính của
Logistics sản xuất ở thời kỳ này.
- Giai đoạn những năm 80 đến 90 của thế kỷ XX:
Giai đoạn này là giai đoạn phát triển của Logistics. Đây là giai đoạn Logistics
hướng vào việc phối hợp các bộ phận chịu trách nhiệm lưu chuyển các luồng hàng
trong doanh nghiệp, xoá bỏ sự ngăn cách giữa các bộ phận đó. Mối quan tâm của
những người điều hành các luồng luân chuyển này tập trung vào khâu lưu thông hàng
hoá. Cụ thể tăng cường quản lý các chi phí trong lưu thông, giảm hàng lưu kho, đẩy
mạnh vận chuyển giữa các vùng sản xuất và phân phối. Dịch vụ Logistics đã làm ổn
định và đảm bảo tính liên tục của các luồng luân chuyển hàng hoá.
- Giai đoạn những năm 90 của thế kỷ XX đến nay:
Thời kỳ Logistics được phát triển cả bề sâu lẫn bề rộng, huy động toàn bộ các
nguồn lực bên trong của doanh nghiệp, nhất là các nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp
(nguồn lực của các đối tác) để xây dựng hệ thống Logistics phức tạp, đa chủ thể có
quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc qua lại lẫn nhau. Hệ thống này cho phép thực hiện
nhiều giao dịch dẫn đến sự hoà nhập của các chủ thể vào cùng một tiến trình hoạt
động của doanh nghiệp.
6
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
Theo uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and
Social Commission for Asia and Pacific - ESCAP) của Liên hiệp quốc thì quá trình
hình thành và phát triển của Logisstics lại chia làm các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: Phân phối vật chất
Vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX, người ta quan tâm đến việc quản lý có
hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm bảo hiệu quả việc giao hàng,
thành phẩm và bán thành phẩm cho khách hàng. Những hoạt động đó là: vận tải,
phân phối, bảo quản, định mức tồn kho, bao bì đóng gói, di chuyển nguyên liệu
Những hoạt động này gọi là phân phối vật chất hay Logistics đầu vào.
- Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics
Vào những năm 80 - 90 của thế kỷ XX, các công ty kết hợp chặt chẽ sự quản
lý của 2 mặt (đầu vào và đầu ra) để giảm tối đa chi phí cũng như tiết kiệm chi phí. Sự
kết hợp chặt chẽ giữa cung ứng nguyên liệu cho sản xuất với phân phối sản phẩm đến
tay người tiêu dùng đã đảm bảo tính liên tục và ổn định của các luồng vận chuyển.Sự
kết hợp đó được mô tả là hệ thống Logistics.
- Giai đoạn 3: Quản lý dây chuyền cung cấp
Giai đoạn này diễn ra từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay. Quản lý
dây chuyền cung cấp - đây là khái niệm có tính chiến lược về quản lý dãy nối tiếp các
hoạt động từ người cung ứng - đến người sản xuất - đến khách hàng cùng với dịch vụ
làm tăng thêm giá trị sản phẩm như cung ứng chứng từ liên quan, theo dõi, kiểm tra
Khái niệm này coi trọng đối tác, phát triển đối tác, kết hợp giữa doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh với người cung ứng, khách hàng cũng như những người liên quan
đến hệ thống quản lý (các công ty vận tải, lưu kho, những người cung cấp công nghệ
thông tin ). Như vậy Logistics được phát triển từ việc áp dụng các kỹ năng "tiếp
vận", "hậu cần" trong quân đội để giải quyết những vấn đề phát sinh của thực tế sản
xuất - kinh doanh và đến nay được hoàn thiện trở thành hệ thống quản lý mang lại
hiệu quả kinh tế cao.
1.3 Nguyên nhân ra đời và phát triển Logistics trong doanh nghiệp
7
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
Trong chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh thế giới lần thứ II, rất nhiều kỹ năng
của Logistics được biết đến nhưng lại bị lãng quên trong hoạt động kinh tế thời hậu
chiến vì lúc này, sự chú ý của các nhà quản trị Marketing đang hướng vào việc đáp
ứng những nhu cầu hàng hoá sau chiến tranh. Phải đến thời kỳ suy thoái kinh tế và
những năm 50 của thế kỷ XX thì họ mới bắt đầu nghiên cứu mạng lưới phân phối vật
chất. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1958 và việc thu hẹp lợi nhuận đã thúc đẩy
các các doanh nghiệp tìm kiếm các hệ thống kiểm soát chi phí để đạt hiệu quả hơn.
Và hầu như đồng thời rất nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng "phân phối vật chất" và
"Logistics" là những vấn đề chưa được nghiên cứu kỹ và chưa thực sự kết hợp với
nhau để kiểm soát và giảm tối đa chi phí. Qua nghiên cứu thực tế, các doanh nghiệp
đều cho rằng: Việc Logistics ra đời và phát triển trong doanh nghiệp là một yếu tố tất
yếu nếu doanh nghiệp muốn đạt được lợi nhuận cao nhất trong quá trình hoạt động,
sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân chính xuất phát từ các yếu tố sau:
* Thứ nhất, chi phí vận tải tăng nhanh
Các phương thức phân phối truyền thống ngày càng đắt đỏ hơn, dẫn đến cần
phải chú ý việc kiểm soát chặt chẽ những chi phí này vào những năm 70 của thế kỷ
XX, kiểm soát chi phí vận tải càng cần thiết hơn do giá nhiên liệu tăng vọt. Vận tải
lúc này không được coi là một nhân tố ổn định trong phương án kinh doanh của các
doanh nghiệp nữa. Như vậy thực tế đòi hỏi cần phải có nghệ thuật quản lý ở cấp độ
cao hơn để can thiệp vào những lĩnh vực liên quan đến vận tải cả trong lĩnh vực chính
sách cũng như quá trình thực hiện.
* Thứ hai, hiệu quả trong sản xuất đã đạt tới đỉnh cao
Trên thực tế, khi hiệu quả trong sản xuất đã đạt tới đỉnh cao rất khó tìm thêm
những biện pháp nhằm tiết kiệm hơn nữa những chi phí từ sản xuất, nói khác đi là chi
phí trong sản xuất đã được gạn lọc một cách tối đa. Vì vậy muốn tối ưu hoá quá trình
sản xuất vật chất, các doanh nghiệp phải tìm kiếm một giải pháp khác - "phân phối
vật chất" và "Logistics", lĩnh vực hầu như chưa được khai phá.
* Thứ ba, trong nhận thức của các doanh nghiệp đã có sự thay đổi cơ bản về
nguyên lý trữ hàng
8
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
Trước đây có thời kỳ các nhà bán lẻ nắm giữ khoảng một nửa lượng hàng
thành phẩm, nửa còn lại do các nhà bán buôn và sản xuất nắm giữ. Vào những năm
50 của thế kỷ XX, nhiều kỹ thuật kiểm soát hàng tồn kho đã được áp dụng, đặc biệt
trong kinh doanh hàng tạp hoá, đã làm giảm lượng hàng hóa trong kho, thay đổi tỷ lệ
nắm giữ hàng hoá của các nhà bán lẻ xuống còn 10% còn các nhà phân phối và sản
xuất nắm giữ 90%. Như vậy, nhận thức của các doanh nghiệp đã có sự thay đổi rất
lớn về nguyên lý trữ hàng. Hầu hết các doanh nghiệp đều nhận thức được tầm quan
trọng của công tác hậu cần trong doanh nghiệp.
* Thứ tư, các ngành hàng sản xuất gia tăng nhanh chóng
Đây là kết quả trực tiếp của nguyên lý Marketing cơ bản "cung cấp cho khách
hàng những sản phẩm mà họ yêu cầu". Một nhà buôn máy chữ không chỉ dự trữ loại
dùng cho văn phòng 2 màu đen trắng như trước mà còn phải có khả năng cung cấp
loại máy chữ màu có bàn phím phù hợp với nhu cầu của người mua. Điều này phản
ánh nhu cầu đa dạng và phức tạp của khách hàng, đòi hỏi nhà sản xuất phải tìm cách
để luôn hoàn thiện mình và hoàn thiện sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu và thị
hiếu của khách hàng.
* Thứ năm, công nghệ thông tin đã tạo nên sự thay đổi lớn trong sản xuất –
kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc quản lý cách thức thực hành Logistics đòi hỏi phải có một khối lượng lớn
chi tiết và dữ liệu. Ví dụ như: Vị trí của mỗi khách hàng; nhu cầu của từng đơn hàng;
vị trí nơi sản xuất; nhà kho và các trung tâm phân phối; chi phí vận tải từ kho đến
từng khách hàng; người chuyên chở săn sóc các dịch vụ mà họ cung cấp; vị trí của
các nhà cung cấp và lượng hàng tồn kho tại các kho, trung tâm phân phối Tất cả các
thông tin này làm cho việc phân tích thủ công không thể thực hiện được. Nhưng ngày
nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ mà đặc biệt là máy vi tính -
vị cứu tinh toán học, việc hiện thực hoá khái niệm phân phối và Logistics không còn
là vấn đề khó khăn nữa. Như vậy các thành tựu khoa học công nghệ đã góp phần rất
lớn trong việc tạo nên sự thay đổi vượt bậc trong sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp.
9
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
* Thứ sáu, yếu tố này cũng liên quan đến sự gia tăng của sử dụng máy vi tính
Như chúng ta đã biết máy tính có vai trò rất quan trọng. Hầu như tất cả các
phòng ban trong các doanh nghiệp đều được trang bị hệ thống mạng lưới vi tính rất
tiên tiến và hiện đại. Vi tính đi vào đời sống công sở như một sự thật hiển nhiên mà
ai cũng nhìn thấy. Mặc dù có thể có một số doanh nghiệp không dùng máy vi tính
nhưng các nhà cung cấp và các khách hàng của họ vẫn sử dụng. Điều này giúp cho
doanh nghiệp nhận thấy được một cách có hệ thống chất lượng của các dịch vụ mà họ
nhận được từ các nhà cung cấp. Dựa trên sự phân tích này, nhiều doanh nghiệp đã
xác định được nhà cung cấp nào thường xuyên cung cấp các dịch vụ dưới mức tiêu
chuẩn. Nhiều doanh nghiệp nhận thấy sự cần thiất phải nâng cấp hệ thống phân phối
của mình. Và khi các doanh nghiệp chuyển sang áp dụng hệ thống JIT (Just in time)
thì họ cũng đặt ra cho các nhà cung cấp một yêu cầu rất chính xác về vận chuyển
nguyên vật liệu hoặc giao hàng.
Trên đây là những nguyên nhân cơ bản thúc đẩy sự ra đời và phát triển
Logistics trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi xã hội
đã có sự biến đổi, muốn tối ưu hoá quá trình sản xuất vật chất, giờ đây không phải
chỉ chú trọng vào khâu sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo nhiều sản phẩm mà
phải biết kết hợp tất cả các yếu tố có liên quan như vận tải, kho bãi, cách lưu trữ
nguyên liệu, sản phẩm và quá trình thực hiện đơn hàng để tạo thành dòng chảy liên
tục, đạt được một dịch vụ khách hàng đảm bảo về mặt thời gian đồng thời tiết kiệm
được chi phí. Logistics đã ra đời và phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu trên.
2. Đặc điểm,vai trò và tác dụng của Logistics
2.1 Đặc điểm của Logistics
Qua các nghiên cứu khoa học về Logistics chúng ta có thể rút ra những đặc
điểm cơ bản sau đây:
2.1.1 Logistics có thể coi là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên các
khía cạnh chính, đó là logistics sinh tồn; logistics hoạt động và logistics hệ thống.
* Logistics sinh tồn có liên quan đến các nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Tại
bất kỳ thời điểm nào, trong bất cứ môi trường nào, Logistics sinh tồn cũng tương đối
10
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
ổn định và có thể dự đoán được. Con người có thể nhận thức được về nhu cầu như:
cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu Logistics sinh tồn là hoạt động cơ
bản của các xã hội sơ khai và là thành phần thiết yếu trong một xã hội công nghiệp
hoá. Logistics sinh tồn cung cấp nền tảng cho Logistics hoạt động.
* Logistics hoạt động mở rộng các nhu cầu cơ bản bằng cách liên kết các hệ
thống sản xuất các sản phẩm. Logistics liên kết các nguyên liệu thô doanh nghiệp cần
trong quá trình sản xuất, các dụng cụ sử dụng nguyên liệu đó trong quá trình sản xuất
và phân phối sản phẩm có được từ quá trình sản xuất đó. Khía cạnh này của Logistics
cũng tương đối ổn định và có thể dự đoán được. Nhưng Logistics hoạt động lại
không thể dự đoán được khi nào máy móc có sự cố, để sửa chữa thì cần cái gì và thời
gian sửa chữa như thế nào Như vậy Logistics hoạt động chỉ liên quan đến sự vận
động và lưu kho của nguyên liệu vào trong, qua và đi ra khỏi doanh nghiệp và là nền
tảng cho Logistics hệ thống.
* Logistics hệ thống liên kết các nguồn lực cần có trong việc giữ cho hệ
thống hoạt động. Những nguồn lực này bao gồm thiết bị, phụ tùng thay thế, nhân lực
và đào tạo, tài liệu kỹ thuật, các thiết bị kiểm tra, hỗ trợ và nhà xưởng Các yếu tố
này không thể thiếu và phải được kết hợp chặt chẽ nếu muốn duy trì sự hoạt động của
một hệ thống sản xuất hay lưu thông.
Logistics sinh tồn, Logistics hoạt động và Logistics hệ thống không tách rời
nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau, làm nền tảng cho nhau và tạo thành chuỗi dây
chuyền Logistics.
2.1.2 Logistics có chức năng hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp.
Logistics có chức năng hỗ trợ thể hiện ở chỗ nó tồn tại chỉ để cung cấp sự hỗ
trợ cho các bộ phận khác của doanh nghiệp. Logistics hỗ trợ quá trình sản xuất
(Logistics hoạt động), hỗ trợ cho sản phẩm sau khi được di chuyển quyền sở hữu từ
người sản xuất sang người tiêu dùng (Logistics hệ thống). Điều này không có nghĩa
là quá trình sản xuất không bao gồm các yếu tố của Logistics hệ thống hay hoạt động
hỗ trợ sau khi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm không bao gồm các yếu tố của
Logistics hoạt động. Trên thức tế các khía cạnh của Logistics được liên kết với nhau
11
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
và được sắp xếp tuần tự với nhau. Sự liên kết tự nhiên của Logistics cho thấy những
quan niệm cho rằng Logistics hoạt động độc lập với Logistics hệ thống là không
đúng. Do vậy chỉ có một loại Logistics với các yếu tố như vận tải, kho bãi, phụ tùng
thay thế, nhân sự và đào tạo nhân sự, tài liệu, thiết bị kiểm tra, hỗ trợ, nhà xưởng.
Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố Logistics nào với nhau hay tất cả các
yếu tố Logistics tuỳ theo cấp độ yêu cầu của doanh nghiệp mình.
Logistics còn hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp thể hiện: Sản xuất được
Logistics hỗ trợ thông qua quản lý sự di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào
doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp.
2.1.3 Logistics là một dịch vụ.
Logistics tồn tại để cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc cho khách hàng
của doanh nghiệp, dịch vụ, đối với cả doanh nghiệp hay khách hàng đều được cung
cấp thông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau, các yếu tố này là các bộ phận tạo
thành chuỗi Logistics.
Dịch vụ Logistics trong doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố về quản trị
nguyên vật liệu, lưu kho trong nhà máy và phân phối vật chất. Tuy nhiên trong hoạt
động của doanh nghiệp không phải chỉ dừng lại ở yêu cầu các yếu tố cơ bản mà dịch
vụ Logistics cung cấp trên đây mà có thể cần cung cấp thêm các dịch vụ khác của
Logistics.
Một doanh nghiệp trong điều kiện hoạt động bình thường sẽ đòi hỏi sự hỗ trợ
từ các yếu tố Logistics. Một yếu tố Logistics cụ thể được cung cấp từ một nhà chuyên
nghiệp chứ không phải từ trong doanh nghiệp. Nhưng trách nhiệm đối với chất lượng
của dịch vụ hỗ trợ này lại là trách nhiệm của Logistics trong doanh nghiệp.
2.1.4 Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận;
vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics.
Logistics là sự phát triển của dịch vụ vận tải giao nhận ở trình độ cao và hoàn
thiện. Qua các giai đoạn phát triển, Logistics đã làm cho khái niệm vận tải giao nhận
truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú thêm. Từ chỗ thay mặt khách hàng để
thực hiện các công việc đơn điệu, lẻ tẻ, tách biệt như: thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị
12
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
hàng, đóng gói, tái chế hàng, làm thủ tục thông quan cho tới cung cấp trọn gói một
dịch vụ vận chuyển từ kho đến kho (Door to Door) đúng nơi đúng lúc để phục vụ nhu
cầu khách hàng. Từ chỗ đóng vai trò là đại lý, người được uỷ thác trở thành một bên
chính (Pricipal) trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách
nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh đối với những hành vi của mình Không phải
như trước kia chỉ cần dăm ba xe tải, một vài kho chứa hàng là có thể triển khai
cung cấp dịch vụ vận tải giao nhận cho khách hàng. ngày nay, yêu cầu dịch vụ cung
cấp cho khách hàng đa dạng, phong phú, người cung cấp dịch vụ phải tổ chức quản lý
một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ
sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hoá trong kho, phân phối hàng hoá đúng nơi,
đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi, kiểm tra Rõ ràng dịch vụ vận tải
giao nhận không còn đơn thuần như trước mà được phát triển ở mức độ cao với đầy
tính phức tạp. Người vận tải giao nhận trở thành người cung cấp dịch vụ Logistics
(Logistics Service Provider)
2.1.5 Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức.
Trước đây, hàng hoá đi từ nước người bán đến nước người mua dưới hình
thức bán lẻ, phải qua tay nhiều người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác nhau,
vì vậy xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hoá rất lớn và người gửi hàng phải ký
nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau, trách nhiệm của mỗi người vận
tải theo đó chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà anh ta đảm nhiệm. Những
năm 60 - 70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảm bảo an
toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hoá, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và
phát triển vận tải đa phương thức. Vận tải đa phương thức ra đời, bây giờ người gửi
hàng chỉ cần ký hợp đồng vận tải với một người (Người kinh doanh vận tải đa
phương thức - Multmodal transport operator - MTO). MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ
chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hoá từ khi nhận hàng cho đến khi giao
hàng bằng một chứng từ duy nhất (Chứng từ vận tải đa phương thức - Multmodal
transport document) cho dù anh ta có thể không phải là người chuyên chở thực tế
(Actual Carrier). Hợp đồng chuyên chở như vậy có thể do người kinh doanh vận tải
13
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
đa phương thức đảm nhận, nhưng chủ hàng vẫn cần một người lên kế hoạch cung
ứng, mua hàng hoá, giám sát mọi sự di chuyển của hàng hoá để đảm bảo đúng loại
hàng, đến đúng địa điểm và đúng thời gian. Người giúp chủ hàng chính là người tổ
chức dịch vụ Logistics. Dịch vụ Logistics sẽ giúp chủ hàng tiết kiệm chi phí cũng
như thời gian, từ đó nâng cao hiệu quả trong kinh doanh.
Tóm lại, Logistics là sự phối hợp đồng bộ các hoạt động, là dịch vụ hỗ trợ các
hoạt động, là sự phát triển cao, hoàn thiện của dịch vụ giao nhận vận tải và là sự phát
triển khéo léo của dịch vụ vận tải đa phương thức. Đây chính là những đặc điểm cơ
bản của Logistics.
2.2 Vai trò của Logistics
2.2.1 Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế như cung cấp,
sản xuất, lưu thông phân phối; mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế.
Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc
mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, Logistics được các nhà quản
lý coi là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược
doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt
động của doanh nghiệp. Thế giới ngày nay được nhìn nhận như các nền kinh tế liên
kết, trong đó các doanh nghiệp mở rộng biên giới quốc gia và khái niệm quốc gia chỉ
là thứ 2 so với các hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ như thị trường tam giác bao
gồm ba khu vực địa lý: Nhật, Mỹ - Canada và EU. Trong thị trường tam giác này, các
công ty trở nên quan trọng hơn quốc gia vì quyền lực của họ đã vượt quá biên giới
quốc gia, quốc tịch của công ty bắt đầu mờ đi. Cụ thể như hoạt động của Toyota hiện
nay, mặc dù phần lớn cổ đông của Toyota là người Nhật và thị trường quan trọng
nhất của Toyota là Mỹ nhưng điều muốn nói ở đây là phần lớn xe Toyota được bán
tại Mỹ là xe được sản xuất tại nhà máy của Mỹ thuộc sở hữu của Toyota. Như vậy
quốc tịch của Toyota đã bị mờ đi, nhưng đối với thị trường Mỹ thì lại rõ ràng -
Toyota là nhà sản xuất một số loại xe ô tô và xe tải chất lượng cao.
Hay liên minh Châu Âu là một thị trường nội địa mở rộng, đặc biệt với sự ra
đời của đồng tiền chung Châu Âu, buộc các nhà sản xuất kinh doanh phải áp dụng
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét