Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014
Nguồn gốc của cây chè
5
Quốc, Ấn Độ và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn )
đã kết luận cây chè cổ Việt Nam tổng hợp các catesin đơn giản nhiều hơn cây
chè Vân Nam, các chất catesin phức tạp ở cây chè Vân Nam nhiều hơn ở cây
chè Việt Nam.
Qua 2 quan điểm trên, của Trang Văn Phương về cây chè Việt Nam nằm
trong vùng ngoại vi vùng ngun sản của cây chè thề giới và của Djemukhatze.
Theo các tư liệu Trung Quốccây chè cổ ở Vân Nam là ở vùng dân tộc
Xípxoangpảnnả. Cách đây hơn 100 năm Lefevre Pontalis, một nhà thám hiểm
Pháp (1882) đã tiến hành một cuộc khảo sát về sản xuất và bn bán chè giữ
sơng Đà và sơng Mê Kơng ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội qua chợ
Bờ (Hồ Bình), Mộc Châu, Thuận Châu, Lai Châu, Mường Tè rồi sang Trung
Quốc đến Xiêng Hùng và Ipang ở vùng Xípoangpânnả.
Ơng viết:” … 12 ngày vận chuyển trên lưng lừa từ Ipang đến Lai Châu và 5
ngày từ Lai Châu đền Hà Nội bằng thuyền, đó làcon đường từ Ipang đến Hà
Nội. Ipang được nối liền bằng nhiều con đường với các trung tâm của tỉnh Vân
Nam như Phổ Nhĩ , Mạn Hảo, TaLan qua các huyện của dân tộc Lu, 1 bộ phận
Xípxoongpảnnả nằm ở biên giới phía Nam của Vân Nam:” hàng ngày tơi gặp
những đồn thồ lớn 100-200 con lừa chất đầy muối gạo khi đi và nặng chĩu chè
khi về…”.
Những cây chè cổ ở miền núi phía Bắc Việt Nam do Viện sĩ Djemukhatze và
những cây chè đại cổ thụ ở vùng Xípxoongpảnnả có phải là những cây chè dại
hay là cây chè do con người trồng trọtlâu đời để lại đây là vấn đề cần phải làm
sáng tỏ. Những vùng chè nào có trước, vùng nào có sau, đâu là trung tâm hay
cùng một trung tâm. Khi mà chưa có ranh giới của con người đặt ra, còn phải
xem xét căn cứ lịch sử, xã hội, văn hố, thương mại. Đó là những vấn đề lớn và
lâu dài còn phải giải quyết của các nhà khoa học về chè trên thế giới
Vấn đề trước mắt của các nhà khoa học kĩ thuật Việt Nam là những cây chè
giống Ipang (1923) hay Suối Giàng (1980), Pousang (1923) đã gieo trồng ở Phú
Hộ hiện nay sinh trưởng ra sao, có thích hợp với các vùng chè trung du hay các
vùng chè ở miền Bắc, miền Nam khơng? Và những gen nào của chè Ipang,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Pousang và suối giàng có thể lợi dụng trong chủng chè Việt Nam để nâng cao
chất lượng và tính chống chịu của tập đồn giống chèmới làm cho giống chè
Việt Nam trở nên phong phú.
1.1.2 Phân loại cây chè.
Các giống chè trồng ở Đơng Dương(từ 8
0
đến 23
0
vĩ Bắc) được nhà thực vật
học Pierre người Pháp xác định là Thea Chinensis, nhưng lồi này có nhiều biến
dị nên còn được phân thành 5 thứ, mà vẫn còn chưa bao gồm hết được các vùng
chè rừng mọc tự nhiên ở Lào và miền núi Bắc Kì.
Các thứ chè đó có tên như sau: Thea Chinesis Sims, varietasbohea, viridis,
pubescens, cantonensis và assamia. Cách phân loại này khơng được chấp nhận
trong thực tiễn và đã thay thế bằng cách phân loại củaCohen Stuart một nhà thực
vật học Hà Lan (1918) và Dupasquier một nhà nơng học Pháp đã hoạt động trên
20 năm về lĩnh vực chè ở Đơng Dương (1923)
Tên cây chè đã trải qua trnh luận đến 20 tên và có những tên chủ yếu sau:
1807 J.Sims Thea sinensis Sims
1822 H.F.Link Camellia thea link
1854 W.Griffinv Camellia Theafera Giff
1874 D.Bradis Camellia Thea Brandis
1874 W.T.T.Dyer Camellia Theifere Dyer
1908 G.Watt Camellia Thea (Link) Brandis
1919 C.P.Conhen Stuart Camellia Theifere Dyer
1933 C.R.Harler Thea sinensis Sims
Cuối cùng tên thống nhất hiện nay là Camellia sinensis (L)O.Kuntze củầnh
bác học Đức, xếp trong loại thực vật sau:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Ngành Ngọc Lan (hạt kín) Angiospermae
Lớp Ngọc Lan (2 lá mầm) Đicotylêona
Bộ chè Theales
Họ chè Theacea
Chi chè Camellia
Loại chè Sinensis
1.2 Tình hình sản suất, tiêu thụ chè trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới.
a. Tình hình sản suất chè trên thế giới
Chè là một loại sản phẩm đồ uống có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế
caođược dùng rất phổ biến và lâu đời trên thế giới. Ngồi ra trong chè còn chứa
2,5%- 5,0% cafein rất cần dùng trong lĩnh vực y tế, chiết xuất cafein từ các loại
chè xấu cho hiệu quả kinh tế cao. Trong cơng nghiệp thực phẩm người ta có thể
chiết suất các hợp chất màu từ chè đẻ làm phẩm màu thực phẩm, khơng những
khơng độc hại mà còn giữ cho thực phẩm lâu bị hỏng. Từ hạt chè có thể chế biến
dầu ăn tương tự như dầu ơ lưu hoặc dầu lạc, vì trong hạt chè có chứa trung bình
từ 24%- 25% dầu. Sau khi chiết xuất dầu thì khơ dầu hạt chè còn chứa12%- 14%
saponin, có thể dùng trong cơng nghiệp mĩ phẩm, cơng nghiệp thuốc trừ sâu,
cơng nghiệp vật liệu xây dựng v.v.
Do tác dụng ích lợi có tính tồn diện của chè nên các quốc gia có lợi thế về
mặt địa lí đã và đang đầu tư để tăng diện tích trồng chè. Tăng năng suất cây chè,
tăng chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và đa dạng hố các mặt hàng về chè để
tạo ra sức cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế.
Trong ba mươi năm qua từ 1963 đến 1995, tổng diện tích chè trên thế giới
tăng 95%. Năm 1971 đạt 1,4 triệu ha, năm 1979 tăng lên 2,1 triệu ha, năm 1987
đạt 2,6 triệu ha… Hiện nay trên thế giới có 58 quốc gia trồng và chế biến cây
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
chè, trong đó những nước có diện tích lớn như: Trung Quốc 1.115300 ha, Ấn Độ
421.900 ha, Xrilanca 187.300 ha, Inđơnêxia 128.500 ha, Kênia 112.500 ha, Thổ
Nhĩ Kì 76.600 ha (Số liệu năm 1977)[16]. Về tổng sản lượng chè đã tăng 156%
(hơn 2,5 lần), từ 1,01 triệu tấn năm 1963 lên đến 2,59 triệu tấn năm 1995. Trong
đó theo thống kê cứ sau mỗi chu kì 20 năm tổng sản lượng chè thế giới tăng [25]
Năm 1950: 613,6 ngàn tấn
Năm 1970: 1.196,1 ngàn tấn
Năm 1990: 2.522,0 ngàn tấn
Về tốc độ sản suất chè thì năm 1993, các nước châu Á sản xuất 81% tổng sản
lượng chè trên thế giới. Trong đó riêng 4 nước đã đạt 67% là: Ấn Độ 29%,
Trung Quốc 23%, Xrilanca 8,5%, Inđơnêxia 6,5%. Các nước châu Phi sản xuất
12% tổng sản lượng chè thế giới. Trong đó riêng Kênia chiếm 62% sản lượng
chè tồn châu Phi và chiếm 8% tổng sản lượng chè thế giới. Kênia là nước có
tốc độ phát triển chè cao nhất. Kênia bắt đầu trồng chè từ những năm 1920 của
thế kỉ này, đặc biệt là từ những năm 1950 thì có sự phát triển mạnh nên trong
vòng 40 năm đã đưa tổng diện tích chè từ 8000 ha lên đến 100.000 ha và tổng
sản lượng lên đến trên 200.2000 tấn chè khơ mỗi năm.
Từ 1980 đến 1994 bình qn mỗi năm, sản lượng chè thế giới tăng 2,55%.
Tổng sản lượng chè thế giới năm 1995 đạt 2,59 triệu tấn, so với năm 1994 tăng
2% (48.000 tấn). Trong đó riêng Kênia tăng 17% đạt 244.500 tấn, Inđơnêxia
tăng 16% đạt 150.000 tấn, Ấn Độ tăng 1% đạt 753.000 tấn, Xrilanca tăng 2%
đạt 246.000 tấn, Dimbab tăng 17% đạt 16.000 tấn.
Năng suất chè thế giới trong thời gian qua có xu hướng tăng nhanh, đó là kết
quả của các cơng trình ngiên cứu về giống, về quy trình canh tác, về phân
bón v.v.Từ năm 1963 đến1965 năng xuất chè cả thế giới bình qn tăng 35%
trên một ha. Năm 1993 năng xuất bình qn chè thế giới đạt 1014 kg chè
khơ/ha. Trong đó một số nước đã đạt được như sau [25]:
Ấn Độ: 1784 kg chè khơ/ha
Trung Quốc: 512 kg chè khơ/ha
Kênia: 2014 kg chè khơ/ha
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Inđơnêxia: 1077 kg chè khơ/ha
Malavuy: 2111 kg chè khơ/ha
Về cơng nghệ chế biến thì hiện nay hai loại chè chủ yếu được chế biến từ búp
chè tươi là chè xanh và chè đen. Trong đó chè đen chiếm tới75% tổng sản lượng
chè thế giới, ngồi ra còn có những loại chè lên men bán phần như chè ơ long ,
pao chung, chè đỏ, chè vàng, chè thiết quan âm v.v.
Chè đen hiện nay được chế biến chủ yếu theo hai cơng nghệ chính là
Orthodox và C.T.C (Crushing- Tearing- Curling). Trong đó tỷ lệ chè C.T.C ngày
một nhiều lên cụ thể: năm 1975 chiếm 37,98% so với tổng sản lượng chè đen
thế giới, năm 1980 chiếm 39,93%, năm 1985 chiếm 43,69%, năm 1990 chiếm
58,55%[25].
Bên cạnh những loại chè truyền thống ở dạng rời (chè đen, chè xanh, chè ơ
long, chè pao chung, chè thiết quan âm v.v.), đã xuất hiện các dạng chè loại mới
như chè túi nhúng, chè hồ tan, chè uống liền, chè dược thảo. Các sản phẩm
khác có chè trong thành phần như: Bánh chè, kẹo chè, thạch chè, kem chè, mì
sợi chè v.v. Các sản phẩm này phù hợp với nhu cầu tiêu dùng và phong cách
sống hiện đại, khả năng cạnh tranh của chè với các loại nước uống giải khát
khác tăng lên. Trên cơ sở đó nền khinh ttế chè thế giới có điều kiện được cải
thiện và phát triển hơi nữa.
b. Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới.
Nhu cầu dùng chè của con người trên thế giới ngày càng nhiều, hơn một nửa
số dân trên thế giưói có nhu cầu uống chè. Theo thống kê của uỷ ban chè quốc tế
(International Tea Committee- I.T.C), hiện nay có trên hai mươi nước xuất khẩu
chè và trên sáu mươi nước nhập khẩu chè. Lượng chè tiêu dùng bình qn một
người trong một năm của thế giới khoảng 0,5 kg chè khơ (tăng10% so với năm
1985). Trong thời kì 1988 đến 1994 nhập khẩu chè của các nước trên thế giới
dao động trong phạm vi 1,0 – 1,1 triệu tấn /năm. Những nước châu Âu, châu Mĩ
khơng sản xuất chè nhưng có nhu cầu dùng chè cao nhất như : Anh 4,4 kg chè
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
khơ/người/năm, Ireland 3,6 kg, Canađa 0,75 kg, Mĩ 0,35 kg, Australia 2,7 kg,
Xrilanca 1,45 kg, Ấn Độ 0,52 kg, Trung Quốc 0,3 kg, Việt Nam 0,274 kg [25].
Nhu cầu dùng chè của Nhật Bản hàng năm có xu hướng tăng tăng lên mặc dù là
nước sản xuất chè, nhưng mỗi năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 6000 tấn chè
xanh (chủ yếu của Trung Quốc và Việt Nam), 20.000 tấn ơ long và pao chung
(từ Trung Quốc và Đài Loan) và 13.000 tấn chè đen (hàng năm Nhật Bản sản
xuất khoảng 92.100 tấn chè xanh- số liệu 1993). Ở Pakistan mặc dù tiền bị mất
giá 7% và thuế nhập khẩu chè 10%. Nhưng khối lượng nhập khẩu chè trong 9
tháng đầu năm 1995 đã đạt 97.700 tấn tăng 10% so với cùng kìi năm 1994.
Các nước Liên Xơ, các nước thuộc khu vưc Trung Cận Đơng đều tăng nhập
khẩu chè. Dự kiến đến năm 2000 nhu cầu về chè của các nước Trung Cận Đơng
là 345.000 tấn. Trong đó Ai Cập 103.000 tấn, Irắc 50.000 tấn, Iran 50.000 tấn.
Nhu cầu dùng chè của con người trên thế giới khơng những ngày càng nhiều
về số lượng, đòi hỏi cao về chất lượng mà còn đa dạng hố mặt hàng. Nếu như
trước đây các nước châu Á, châu Âu, châu Mĩ ưu dùng chè đen, một số nước
châu Âu và châu Á ưa dùng chè xanh và các dạng chè lên men bán phần thì
ngày nay nhiều nước trên thế giới thích dùng các loại chè khác nhau như: chè
túi nhúng, chè hồ tan, chè có hàm lượng cafein thấp, chè hữu cơ, chè dược
thảo, chè uống liền…[25].
- Chè túi nhúng (chè túi lọc): Xuất hiện lần đầu năm 1904 nhưng đến năm
1970 mới được thương mại hố và trong vòng hai mươi năm qua đã tăng
từ 20% lên đến 90% thị phần tiêu thụ chè. Có thể coi chè túi nhúng là
bước ngoặt trong q trình cơng nghiệp chế biến chè. Chè túi nhúng
được ưa chuộng ở các nước phương Tây.
- Chè hồ tan: Mặc dù được sáng chế từ hơn một trăm năm nay nhưng
mãi gần đây mới được sản suất và tiêu thụ nhiều. Hiện nay có 8 nước
sản xuất chè hồ tan đó là: Mĩ, Thuỵ Sĩ, Anh, Xrilanca, Ấn Độ, Kênia,
Nhật Bản và Trung Quốc. Năm 1992 đã sản xuất được tổng cộng
khoảng 3789 tấn. Chè hồ tan dặc biệt được phổ cập ở Mĩ, ở đó tiêu thụ
khoảng 85.000 tấn chè chè/năm thì chè hồ tan chiếm 33%.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
- Chè hương hoa: Trước đây chỉ có chè xanh ướp hương hoa (Hoa nhài,
sối, bưởi, sen…). Ngày nay người ta ướp hương hoa cả chè đen mà
thường dùng hương các loại trái cây như chanh,cam, qt, bưởi, đào,
táo, mơ, dâu tây… Chè hương hoa được ưa chuộng ở các nước châu Âu
nhất là ở Đức từ những năm 1980.
- Chè có hàm lượng cafein thấp: Là đòi hỏi mới của một số người dùng
chè, lần đầu tiên xuất hiện ở Mĩ từ đầu những năm 1983, ở Anh 1988.
Để tạo ra cho chè có hàm lượng cafein dưới 2% như ở Trung Quốc và
Nhật Bản, sử lí bằng dung mơi, trần chè tươi bằng nước nóng…
- Chè hữu cơ (chè sạch): Là chè được chế biến từ búp chè hái ở các
nương chè hồn tồn khơng bón phân hố học, khơng phun thuốc trừ
sâu, khơng phun thuốc trừ cỏ… Loại chè này xuất hiện lần đầu tiên ở thị
trường nước Anh vào mùa thu năm 1989 và được bán với nhãn hiệu “
Natureland” do cơng ty dược thảo và gia vị Lon Don tổ chức chế biến từ
chè ở đồn điền Luponde nằm ở độ cao 2150 trên núi Livingstonia của
Tanzania. Nhu cầu dùng chè hữu cơ tăng bình qn 25% mỗi năm và dự
dốn đến năm 2000 có thể chiếm tới 5% tổng nhu cầu dùng chè trên thế
giới (Giá bán chè hữu cơ gấp từ 2 – 4 lần chè thường).
- Chè dược thảo (chè thuốc, chè thảo mộc): là hỗn hợp chè xanh, chè đen
với một vài vị thuốc thảo mộc, có tác dụng phòng ngừa hoặc chữa trị
bệnh. Nhu cầu dùng chè dược thảo trên thế giới ngày một tăng. ỏ Mĩ
một vài năm gần đây tăng bình qn từ 10- 15%/ năm. Năm 1992 doanh
số bán chè dược thảo lên đến 116 triệu USD.
- Chè ưống liền: Là chè được pha sẵn đóng lon nhơm, hộp giấy hoặc chai
bán như nước giả khát thơng thường. Trong một vài năm gần đây chè
uống liền phát triển mạnh ở Mĩ, Nhật Bản, Đài Loan, Ở Mĩ năm 1994
tiêu thụ đến 3,75 tỷ USD chè, trong đó riêng chè uống liền đóng lon và
chai chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong các loại nước giải khát khơng cồn
36,3%, trong khi đó nước giả khát sođa 23,8 %, nước rau quả 14,5%,
cafe 10%…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
- Tóm lại nhu cầu dùng chè của con người trên tồn thế giới ngày càng
lớn, nhưng đòi hỏi chất lượng ngày càng cao, phải đa dạng hố sản
phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và phong cách sống hiện đại.
Cho nên các nhà nghiên cứu và sản xuất chè phải làm sao để cho chè có
sức cạnh tranh lớn với các loại nước uống khác, như vậy nền kinh tế chè
thế giới mới có điều kiện cải thiện và phát triển vững chắc hơn nữa.
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trong nước
a. Tình hình sản xuất chè trong nước:
Cây chè đã có ở Việt Nam từ rất lâu đời, Việt Nam là một trong những nước
vùng chè cổ xưa của thế giới [21], [59]. Uống chè đã trở thành tập qn lâu đời
của nhân dân Việt Nam nói riêng và của nhan dân thế giới nói chung. Bởi vậy
ngay sau khi đặt chân đến Thăng Long (năm 1882), ngưòi Pháp đã quan tâm dến
cây chè một sản phẩm q của vùng nhiệt đới Viễn Đơng. Trong ba năm G.
Baux đã khảo sát cây chè miền núi ở Bản Xang – Bắc kì (1885), rồi đến phái
đồn điều tra Pavie ( 1890- 1891) đã khảo sát nhiều lần vùng núi giữa sơng Đà
và sơng Mê Kơng. Năm 1890 nhà tư bản Pháp Paul Chaffanjon đã mở đồn điền
sản suất kinh doanh chè lần đầu tiên 60 ha ở Tình Cương – Phú Thọ (Chủ chè
Phú Thọ ngày nay), rồi Đức Phú- Quảng Nam 250 ha. Nhưng đến năm 1918
Chính phủ pháp mới thực sự quan tâm nghiên cứu và đầu tư khai thác cây chè
Việt Nam. Chính phủ Pháp đã thành lập một số cơ sở nghiên cứu về chè như:
Trại thí nghiệm chè Phú Hộ (Phú Thọ) năm 1918, Trại thí nghiệm trồng trọt chè
Plâycu năm 1927, Trại thí nghiệm chè Bảo Lộc (Lâm Đồng) năm 1931. Nhình
chung giai đoạn 1918-1940 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ, sản phẩm gồm hai
loại chè đen và chè xanh, trong đó chè đen là chủ yếu. Thị trường tiêu thụ là Mĩ
và châu Âu. Sau đó sự phát triển của cây chè Việt Nam bị ngừng trệ (1940-
1945) do Nhật Bản chiếm đóng ở Đơng Dương. Mặc dù có sự thoả thuận với
tồn quyền Pháp ở Đơng Dương và chính phủ Pháp, nhưng do mất ổn định về
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
chính trị nên giới kinh doanh chỉ hoạt động cầm chừng. Thời kì 1945- 1954 là
thời ì kháng chiến chống thực dân Pháp, do đó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự
phát triển và tiêu thụ chè ở Việt Nam. Từ năm 1955 đến nay cây chè được phát
triển khá mạnh ở vùng trung du, miền núi phía Bắc và cao ngun Lâm Đồng.
Diện tích chè từ chỗ chỉ có 10.500 ha (1955), đến nay đã có hơn 70.000 ha
(1998). Sản lượng chè khơ từ 5.200 tấn () 1955, đến nay đã có 49.580 tấn
(1998). Hiện nay chè được trơng ở ba mươi tỉnh thành trong cả nước, trong đó
giống chè trung du là chủ yếu chiếm 61%, Giống chè San chiếm 27%, còn các
loại chè giống mới khác chiếm 12% [8], [39].
Cả nước hiện nay có 76 cơ sở chế biến chè vối tổng cơng xuất 1046 tấn chè
tươi/ ngày. Trong đó Tổng Cơng ty chè Việt Nam quản lí 27 cơ sở với tổng cơng
xuất 542 tấn/ ngày. Các cơng ty chè địa phương có 49 cơ sỏ với tổng cơng suất
504 tấn/ ngày, laọi quuy mơ 13- 48 tấn/ ngày có 37 cơ sở, loại 6-10 tấn/ nagỳ có
39 cơ sở. Quy mơ chế biến cơng nghiệp 60-62%, còn lại là chế biến thủ cơng
hoặc bán cơ giới. Các loại sản phẩm chế biến ra thì chè đen chiếm 60-65%, chè
xanh 30-35%, các loại chè khác 5%. Ngồi ra chúng ta còn một Viện Nghiên
Cứu chè xây dựng năm 1988, nghiên cứu khép kín tồn diện về cây chè: Giống-
Kĩ thuật canh tác- Bảo vệ thực vật đến cơng nghệ chế biến ra sản phẩm cuối
cùng phục vụ cho ngành chè tồn quốc.
b. Tình hình tiêu thụ chè trong nước
Sản phẩm chè Việt Nam vừa đáp ứng nội tiêu vừa phục vụ xuất khẩu
Về thị trường nội tiêu
Chủ yếu là chè xanh như: Chè Hà Giang, chè Thái Ngun, chè Tun
Quang, chè Lâm Đồng… Các loại chè hương như chè Thanh Tâm, thanh hương,
Hồng đào, Ba đình, Hồn kiếm. Các loại chè ướp hoa tươi như: chè hoa nhài,
hoa sen, hoa sói… Chè đen ở dạng chè túi nhúng cũng được người Việt Nam ưa
dùng. Năm 1996 tổng lượng chè nội tiêu là 20.000 tấn- bình qn 0,274 kg chè/
người/ năm. trong đó ở thành thị 8960 tấn – bình qn 0,600 kg/ người/ năm, ở
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
nơng thơn 11.040 tấn – bình qn 0,184 kg/ người/ năm. Dự kiến năm 2000 tổng
sản lượng chè nội tiêu là 40.000 tấn – bình qn 0,494 kg/ người/ năm. Trong đó
ở thành thị 22.000 tấn, bình qn 0,286 kg/ người/ năm, ở nơng thơn 18.000 tấn
– bình qn 0,286 kg/ người/ năm.
Về thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu ở Việt Nam chủ yếu là các nước châu Á, châu Âu, châu
Mĩ. Trong đó thị trường chính là châu ÂU cà các nước thuộc vùng Trung Cận
Đơng. Theo số liệu “ Chương trình sản xuất kinh doanh 1996- 2010 của Tổng
Cơng ty chè Việt Nam”[8]. Năm 1996 tổng số chè xuất khẩu là 19.900 tấn thì
liên bang Nga là 1000 tấn, Anh 1500 tấn, Xinhgapo 100 tấn, Đài Loan 100 tấn,
Irắc 5000 tấn, Li Bi 1100 tấn, Iran 3500 tấn, Thổ Nhĩ Kì 3900 tấn … Dự kiến
năm 200 sẽ xuất khẩu 40.000 tấn trong đó Liên Bang Nga 5000 tấn, Ba Lan 100
tấn, Anh 2000 tấn, Đức 1000 tấn, Irắc 10.000 tấn, Li Bi 1000 tấn, Syri 1000 tấn,
Iran 4000 tấn, Nhật Bản 2000 tấn, Đài Loan 1000 tấn, Sinhgapo 1000 tấn, Mĩ
2000 tấn…
Các loại sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là chè đen, chiếm
60%-70%, chè xanh 25%-30%, các loại chè khác 5%-10%. Trong đó thị trường
châu Âu chủ yếu nhập khẩu chè đen. Chè xanh và các loại chè khác chủ yếu
xuất sang mĩ và các nước Châu Á như Pakistan, Sinhgapo, Nhật Bản, Đài Loan,
Trung Quốc…
c. Phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh của ngành chè Việt Nam
đến năm 2010
Sản xuất chè là ngành sản xuất truyền thống lâu đời của nhân dân Việt Nam.
Sản phẩm chè là một trong năm sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của nền nơng
nghiệp nước nhà. Sản xuất chè cho phép khai thác tốt nhất tiềm năng đất dốc,
nhất nlà vùng trung du miền núi phía Bắc, nơi các cây trồng khác có ít khả năng
cạnh tranh do tính thích nghi trội của cây chè trên nền đất chua, nghèo dinh
dưỡng. Do vậy trong thời gian vừa qua và những năm tới ngành chè Việt Nam
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét