Bảo Hiểm Nhóm 1
Để phát triển thị trường bảo hiểm, vấn đề cốt lõi là thể chế phải rõ ràng,
không chỉ ở văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến kinh doanh bảo hiểm mà
còn ở các văn bản liên quan, sự ứng xử của cơ quan quản lý nhà nước. Chính
phủ đã ban hành Nghị định 45 và 46 liên quan đến vấn đề này, sắp tới Bộ Tài
chính sẽ tiếp tục ban hành các thông tư hướng dẫn.
1.3. NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM.
1.3.1. Trên con đường phát triển.
Kể từ năm 1993, thời điểm Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường bảo hiểm
cho đến hết năm 2006, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có một bước tiến rất dài.
Từ chỗ chỉ có duy nhất Bảo Việt, đến nay, trên thị trường Việt Nam đã có
hơn 30 doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động ở tất cả các lĩnh vực bao gồm
bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm.
Đây là một sự phát triển vượt bậc.
Tuy nhiên, với chính sách mở cửa khác nhau nên thị trường bảo hiểm
Việt Nam được phân chia khá chênh lệch. Ở lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, do
Việt Nam chưa mở cửa nên các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước chiếm đến
95% thị phần, trong khi các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài chiếm đến
62,5% thị phần bảo hiểm nhân thọ.
Với hơn 800 sản phẩm các loại, nguồn thu chủ yếu của ngành là từ phí
bảo hiểm. Mức tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm của ngành từ 1993 đến 2004
là 38%/năm. Đóng góp của doanh thu phí bảo hiểm vào GDP cũng có tăng
trưởng đáng kể. Từ 0,37% năm 1993 tăng lên 2,13% vào cuối năm 2006. Tổng
số tiền bồi thường bảo hiểm cho các tổ chức kinh tế và dân cư từ năm 2000 -
2005 đạt trên 12.300 tỉ đồng.
Dù có tăng trưởng cao, nhưng tỉ lệ đóng góp phí bảo hiểm vào GDP của
Việt Nam như vậy là khá nhỏ nếu so sánh với các nước trong khu vực.
Một vấn đề khác cần quan tâm là cho dù thị trường phát triển nhanh
nhưng không cân xứng giữa các công ty, giữa các thành phần kinh tế. Mức độ
tập trung thị trường cao nhất là trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, có hiện tượng
độc quyền nhóm trong một số doanh nghiệp bảo hiểm chuyên sâu các ngành dầu
khí, xăng dầu, bưu chính viễn thông. Qui mô vốn của các doanh nghiệp bảo
Trang 5
Bảo Hiểm Nhóm 1
hiểm trong nước hạn chế. Phương thức cạnh tranh vẫn chủ yếu là giảm phí và
khai thác thị trường thông qua các mối quan hệ.
Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, vừa bảo vệ nền kinh tế trước những rủi ro
thiên tai, tai nạn, sự cố bất ngờ, vừa là kênh thu hút nguồn vốn trung và dài hạn
đầu tư trở lại để phát triển kinh tế.
Các doanh nghiệp bảo hiểm ngoài việc kinh doanh bảo hiểm còn được
phép đầu tư từ vốn chủ sở hữu và quỹ dự phòng nghiệp vụ vào các lĩnh vực: trái
phiếu, cổ phiếu, liên doanh, bất động sản và cho vay. Chính vì vậy, hoạt động
kinh doanh bảo hiểm mang tính đặc thù, có nhạy cảm cao và thuộc loại kinh
doanh có điều kiện. Việc cấp phép hoạt động cho một doanh nghiệp bảo hiểm
trong nước hoặc nước ngoài hoạt động tại thị trường bảo hiểm Việt Nam phải
luôn coi trọng kiểm soát năng lực tài chính, mức độ an toàn về tài chính và năng
lực chuyên môn. Tuy vậy, quá trình mở cửa của thị trường bảo hiểm không vì
thế mà phải kiểm soát chặt chẽ khắt khe. Ngược lại, thời gian qua, thị trường bảo
hiểm Việt Nam được đánh giá là có tốc độ hội nhập nhanh, tăng trưởng cao.
Thị trường bảo hiểm có lộ trình mở cửa nhanh: 16/30 doanh nghiệp có
vốn nước ngoài trong đó 9/22 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và 7/8 doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ. Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài tại Việt
Nam góp phần gián tiếp phát triển FDI, cung cấp thêm nhiều sản phẩm bảo hiểm
mới tăng sự lựa chọn cho khách hàng và tăng doanh thu bảo hiểm toàn thị
trường. Thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện có 30 doanh nghiệp bảo hiểm và
tám doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động tạo ra ba phân đoạn thị trường:
Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ và môi giới bảo hiểm, vừa hợp
tác vừa cạnh tranh gay gắt với nhau để phát triển.
Số lượng sản phẩm bảo hiểm ngày càng tăng, có hơn 700 sản phẩm bảo
hiểm phi nhân thọ, hơn 100 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ để khách hàng lựa
chọn, phát triển nhanh kênh phân phối sản phẩm (tám công ty môi giới, 100
nghìn đại lý bảo hiểm nhân thọ, 50 nghìn đại lý bảo hiểm phi nhân thọ) tuyên
truyền giới thiệu doanh nghiệp bảo hiểm và sản phẩm bảo hiểm, đưa sản phẩm
bảo hiểm đến tận tay người tiêu dùng.
Trang 6
Bảo Hiểm Nhóm 1
Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm được nâng lên rõ rệt:
90% số doanh nghiệp bảo hiểm có vốn chủ sở hữu cao gấp nhiều lần vốn pháp
định. Các quỹ dự phòng nghiệp vụ, tổng tài sản và đầu tư vào nền kinh tế tăng
nhanh, luôn bảo đảm khả năng thanh toán của các doanh nghiệp bảo hiểm.
Tạo ra được một số sản phẩm bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm bắt buộc
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm bắt buộc người kinh doanh vận
tải thủy nội địa, bảo hiểm bắt buộc cháy nổ, bảo hiểm bắt buộc người Việt Nam
du lịch lữ hành quốc tế, bảo hiểm bắt buộc xây dựng lắp đặt, bảo hiểm bắt buộc
người sử dụng lao động trong hợp đồng xây dựng, bảo hiểm bắt buộc một số
ngành nghề đặc thù của ngành bảo hiểm.
Theo cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam, doanh nghiệp bảo
hiểm của nước ngoài được phép cung cấp vào Việt Nam các dịch vụ bảo hiểm
cho doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài và người nước ngoài tại Việt
Nam. Ngoài ra, họ còn được cung cấp dịch vụ tái bảo hiểm, vận tải quốc tế, môi
giới bảo hiểm, tư vấn, tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường cho thị
trường bảo hiểm Việt Nam. Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài
không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc cho đến ngày 1-1-2008,
thì bãi bỏ hạn chế này.
Theo cam kết nêu trên có thể hiểu các doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh
và bảo hiểm nhân thọ không bị hạn chế được đối xử quốc gia (doanh nghiệp bảo
hiểm Việt Nam được làm gì thì họ được làm cái đó. Doanh nghiệp bảo hiểm
100% vốn nước ngoài chỉ bị hạn chế sản phẩm bảo hiểm bắt buộc đến 1-1-2008,
nhưng thực tế doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hưởng lợi không nhiều vì mới
có sản phẩm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, sản phẩm
bảo hiểm bắt buộc người kinh doanh vận tải hành khách và hàng dễ cháy dễ nổ
trên đường thủy nội địa. Các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc khác như cháy nổ,
người Việt Nam du lịch lữ hành quốc tế, xây dựng - lắp đặt, người sử dụng lao
động trong hợp đồng xây dựng, công trình dầu khí, công trình dễ gây nguy hiểm
đến an ninh cộng đồng và môi trường đang chuẩn bị dự thảo và ban hành, nếu có
thực hiện sẽ vào nửa cuối năm 2007.
Trang 7
Bảo Hiểm Nhóm 1
Ðiều đáng lo ngại nhất là, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không
cần thành lập doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam cũng có thể vươn cánh tay
của mình vào khai thác thị trường bảo hiểm Việt Nam theo cam kết WTO.
Ðể nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập và hợp tác của doanh nghiệp
bảo hiểm, các doanh nghiệp trong nước cần tăng cường trang bị và ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản lý hợp đồng bảo hiểm, khách hàng tham gia bảo
hiểm, rủi ro và đối tượng được bảo hiểm, giám định giải quyết bồi thường và
nhất là tiến tới thương mại điện tử bán hàng qua mạng. Phát triển nhiều sản
phẩm mới ngoài những sản phẩm bảo hiểm truyền thống cần tập trung phát triển
sản phẩm bảo hiểm chăm sóc sức khỏe, y tế chất lượng cao, bảo hiểm trách
nhiệm (trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm đối với sản phẩm, trách nhiệm
pháp lý ) và các sản phẩm phục vụ phát triển nông thôn. Các doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ cần tăng thêm sản phẩm liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí và chăm
sóc y tế.
Phát triển kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm qua đại lý và môi giới bảo
hiểm cùng với tinh giảm biên chế cán bộ bảo hiểm khai thác trực tiếp. Ðào tạo
phát triển nguồn nhân lực, có chế độ chính sách hợp lý để giữ được đội ngũ cán
bộ bảo hiểm chuyên nghiệp. Tạo ra nhiều dịch vụ gia tăng ngoài việc được bảo
hiểm như được khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế và bác sĩ nổi tiếng theo giá ưu
đãi, được sửa chữa xe (không thuộc trách nhiệm bồi thường của bảo hiểm) tại cơ
sở uy tín và được giảm giá
Làm được như vậy, doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam
sẽ chứng minh rằng, việc mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt
Nam sẽ được phục vụ tốt hơn, bảo đảm quyền lợi tốt hơn so với mua bảo hiểm
của hãng bảo hiểm không có mặt tại Việt Nam. Ðiều này sẽ hướng sự lựa chọn
của khách hàng tới các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam.
1.3.2. Hoạt động đầu tư còn nhiều hạn chế.
Đến cuối năm 2006, tổng đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm trở lại
nền kinh tế là 34.400 tỉ đồng, chiếm 4,07% GDP và cũng có tốc độ tăng đáng kể
nếu so với năm 2001, con số này chỉ là 1,06% GDP.
Trang 8
Bảo Hiểm Nhóm 1
Đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm là trái phiếu chính phủ,
tiền gửi ngân hàng. Phần còn lại là góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán và
đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất kinh doanh và phục vụ
đời sống.
Tổ chức hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm chưa thể hiện
tính chuyên nghiệp. Hiện nay, mới chỉ có 3 doanh nghiệp bảo hiểm thành lập
công ty quản lý quỹ và 2 doanh nghiệp bảo hiểm được niêm yết trên thị trường
chứng khoán. Điều này làm giảm khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp
bảo hiểm.
Các doanh nghiệp bảo hiểm hiện vẫn chưa thể cho vay vốn trực tiếp hoặc
mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực bất động sản, cổ phiếu vì thiếu vắng các quy
định cụ thể từ các cơ quan chức năng. Do vậy, hiệu quả đầu tư của các doanh
nghiệp bảo hiểm vẫn chưa cao.
1.3.3. Mục tiêu phấn đấu – con đường còn dài.
Mục tiêu đến năm 2010, con đường còn dài, Có lẽ do chiến lược được lập
khi thị trường bảo hiểm đang ở thời điểm hoàng kim, với mức tăng trưởng gần
50% một năm, mọi người đang rất lạc quan nên đã đưa ra mục tiêu “Tổng doanh
thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm; trong đó, bảo hiểm phi nhân
thọ tăng khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm. Tỷ
trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5% năm 2005 và
4,2% năm 2010, tổng dự phòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng
khoảng 12 lần; tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế tăng khoảng 14 lần so với năm
2002”.
Tuy nhiên, ngay sau đó, ngành bảo hiểm (nhất là bảo hiểm nhân thọ) bắt
đầu rơi vào trạng thái bão hòa, khi mà ba năm gần đây, tốc độ tăng số thu phí
bảo hiểm đã chậm lại, với mức bình quân hàng năm chỉ là 16%. Điều này dẫn
đến kết quả là cuối năm 2006, doanh thu bảo hiểm chỉ bằng 2,13% GDP, tổng
đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm trở lại nền kinh tế là 34.400 tỉ đồng, bằng
4,07% GDP.
Như vậy, kế hoạch đến năm 2005 đã không đạt. Để đạt được mục tiêu
đến năm 2010, hàng năm, tốc độ tăng trưởng số thu phí của ngành bảo hiểm Việt
Trang 9
Bảo Hiểm Nhóm 1
Nam phải đạt bình quân 41% và tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế
phải đạt bình quân 42%. Nếu duy trì được tốc độ tăng trưởng 24% năm thì đến
năm 2010, doanh thu bảo hiểm sẽ bằng 3,3% GDP.
1.4. BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP.
1.4.1. Những bất cập mà doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam
đang gặp.
Ngành bảo hiểm là ngành kinh doanh đặc thù có chu trình tính chi phí
ngược, tức thu trước chi phí sau. Bộ Tài chính cũng đã ban hành chế độ hạch
toán kế toán riêng cho DN này và đã có nhiều sự thay đổi, nhưng với bối cảnh
hội nhập hiện nay thì những thay đổi đó chưa đáp ứng được nhu cầu. Đặc biệt, là
những vấn đề liên quan tới doanh nghiệp nước ngoài như: báo cáo kế toán,
thưởng thu phí, thưởng không khiếu nại hay giảm phí cho những đối tượng
nhiều năm tham gia bảo hiểm…
Ở nước ngoài khi bảo hiểm vài năm mà không có tổn thất thì người ta
thường nghĩ tới thưởng cho những doanh nghiệp này, vì họ tạo ra lợi ích, nên họ
được phép thưởng. Còn ở Việt Nam hiện nay, theo Thông tư số 155
Thách thức lớn nhất hiện nay chính là công nghệ thông tin. Bởi để phát
triển mạnh lĩnh vực bảo hiểm, chúng ta cần phải có một hệ thống công nghệ
thông tin hoàn chỉnh phục vụ cho quá trình khai thác và quản lý nội địa.
Nếu có hệ thống công nghệ thông tin hiện đại và hoàn chỉnh, nó sẽ hỗ trợ
được rất nhiều cho các DN về mặt thời gian, độ chính xác trong việc tra cứu
khách hàng, đối tượng bảo hiểm hay công tác hạch toán kế toán, đặc biệt là khâu
bồi thường: các DN không phải đối chiếu, tìm giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy
thông báo tai nạn, giấy đăng kiểm gì cả, mà chỉ cần bật máy ra là có hết. Còn
nếu làm thủ công thì mất hàng giờ để soi từng chữ, trong khi máy tính chỉ mất 2-
3 phút. Do đó, công nghệ thông tin vẫn là thách thức lớn nhất đối với hoạt động
dịch vụ bảo hiểm hiện nay.
1.4.2. Môi trường kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam hiện nay.
Có thể nói, môi trường kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam có tiềm năng rất
lớn và rất nhiều khoản chưa khai thác được, như: toàn bộ thị trường nông
nghiệp, nông thôn, thị trường tư nhân… nhà ở và tài sản cá nhân cũng chưa
Trang 10
Bảo Hiểm Nhóm 1
được khai thác hết. Đặc biệt là, toàn bộ công trình của các tổ chức, cơ quan
chính quyền địa phương hoạt động bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước đều
chưa được khai thác vì chưa có ngân sách cấp để tham gia bảo hiểm, nên khi xảy
ra tổn thất vẫn phải sử dụng ngân sách để giải quyết những thiệt hại. Ngoài ra,
hàng năm chúng ta thu hút một lượng vốn lớn từ ODA, FDI và vốn đầu tư toàn
xã hội… Như vậy, đầu tư càng phát triển thì nhu cầu bảo hiểm càng cao.
Tuy tiềm năng lớn nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt. Trên thực tế, không
phải đơn thuần 27 DN đang kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ cạnh tranh với
nhau mà là 350 chi nhánh của các DN bảo hiểm (hoạt động như những công ty
con) cạnh tranh với nhau. Chẳng hạn: Các chi nhánh bảo hiểm ở Hà Tây cũ hay
Bắc Ninh vươn vào Hà Nội khai thác và ngược lại. Vì nó họat động theo hệ
thống công ty mẹ, công ty con, tức là tổng công ty ở Hà Nội thì tôi quan hệ cả
với các chi nhánh ở các tỉnh nên phạm vi hoạt động khá rộng.
1.4.3. Giải pháp.
Mục tiêu trước mắt đối với ngành bảo hiểm Việt Nam là rất nặng nề. Việc
duy trì được tốc độ tăng trưởng lên đến 40% một năm là điều khó khăn, tuy
nhiên để nâng cao hơn nữa so với tốc độ tăng trưởng trong ba năm qua là điều có
thể thực hiện được.
Để làm được việc này, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nên tập
trung vào các giải pháp phù hợp nhằm tăng doanh thu và nâng cao hiệu quả đầu
tư như sau:
Tiếp tục đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển
mạng lưới đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp và mở rộng mạng lưới. Hiện nay các
công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong nước hoạt động tốt hơn các đối thủ cạnh
tranh nước ngoài một phần nhờ sự bảo hộ của Chính phủ, một phần dựa vào
mạng lưới khách hàng đã được xây dựng từ trước. Các công ty bảo hiểm Việt
Nam cần nâng cao năng lực cạnh tranh, khai thác thị trường và các mối quan hệ
nhằm duy trì và phát triển mạng lưới khách hàng truyền thống. Đây là một yếu
tố quan trọng hỗ trợ các công ty bảo hiểm có thêm nguồn lực để thực hiện các kế
hoạch và chiến lược kinh doanh dài hạn để cạnh tranh với các đối thủ nước
ngoài có tiềm lực.
Trang 11
Bảo Hiểm Nhóm 1
Thành lập các tổ chức đầu tư độc lập với hoạt động khai thác để có thể
thực hiện đầu tư chuyên nghiệp và hiệu quả từ phí bảo hiểm.
Liên doanh, liên kết với các tổ chức tài chính để có thể có khả năng mạnh
hơn với áp lực cạnh tranh khi các công ty bảo hiểm nước ngoài gia nhập thị
trường theo lộ trình cam kết của Việt Nam với WTO
Giảm sự bảo hộ của Nhà nước đối với các doanh nghiệp bảo hiểm bằng
cách đưa các doanh nghiệp bảo hiểm lên sàn để vừa gia tăng giá trị cho doanh
nghiệp, vừa dễ huy động vốn, gia tăng khả năng tài chính trong hoạt động
Mười năm năm qua, ngành bảo hiểm đã có những đóng góp nhất định vào
sự phát triển của hệ thống tài chính nói riêng và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
nói chung. Thị trường bảo hiểm Việt Nam là một kênh quan trọng trên thị trường
vốn, thể hiện tất cả các vai trò trên thị trường tài chính. Đó là đảm bảo sự ổn
định thông qua việc tập trung và phân tán rủi ro, tăng cường ổn định tài chính
trong hộ gia đình và doanh nghiệp, huy động vốn dài hạn và đầu tư dài hạn,
giảm áp lực đối với ngân sách nhà nước thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội.
Tuy vẫn còn những hạn chế nhất định trong việc đóng góp một cách chủ
động vào phát triển tài chính, nhưng những hạn chế này sẽ nhanh chóng được gỡ
bỏ. Với mục tiêu chiến lược phát triển phù hợp và trên cơ sở điều kiện kinh tế -
xã hội thuận lợi, ngành bảo hiểm Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò trong
nền kinh tế.
Trang 12
Bảo Hiểm Nhóm 1
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA CÁC
CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM
2.1. DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM VIỆT NAM PHÁT TRIỂN
THEO CHIỀU SÂU.
2.1.1. Những yếu tố tác động đến thị trường bảo hiểm.
Năm 2009, cơn bão suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng tới nền kinh tế -
xã hội Việt Nam. Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh bị giảm sút về đầu ra tiêu thụ
sản phẩm ở thị trường trong nước và xuất khẩu nước ngoài bị thu hẹp. Không ít
doanh nghiệp đã phải cắt giảm sản xuất kinh doanh, cắt giảm lao động hoặc cố
gắng duy trì lực lượng lao động nhưng không đủ ngày công hàng tháng. Tình
hình này ảnh hưởng nhiều tới khả năng tài chính đóng phí bảo hiểm để tham gia
bảo hiểm cho tài sản, trách nhiệm, gián đoạn kinh doanh và bảo hiểm cho người
lao động.
Các ngành nghề gặp khó khăn trong khi có giá trị tài sản lớn và đóng phí
bảo hiểm nhiều bao gồm: các cơ sở đóng tàu, kinh doanh vận tải biển và thủy
nội địa, hàng không, than khoáng sản, dầu khí, thép, xi măng. Những khó khăn
này đã tác động đến tốc độ tăng trưởng của thị trường bảo hiểm.
Tuy nhiên có thể nhận thấy qua kết quả quý I năm 2009 là một số DNBH
thị phần lớn đã củng cố để phát triển, không coi trọng tăng trưởng doanh thu
bằng mọi giá mà đi vào chiều sâu, đó là hiệu quả - tăng trưởng bền vững và củng
cố để phát triển khi nền kinh tế toàn cầu hồi phục.
Những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến thị
trường bảo hiểm Việt Nam. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho tốc
độ tăng trưởng kinh tế của tất cả các nước trên thế giới bị chững lại, suy thoái và
nhiều nước trước đây có tốc độ tăng trưởng khá thì nay đã phải điều chỉnh tốc độ
tăng trưởng giảm đi, trong đó có Việt Nam. Đây là vấn đề mấu chốt nhất có ảnh
Trang 13
Bảo Hiểm Nhóm 1
hưởng rất lớn đến thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm Việt
Nam nói riêng.
Những tháng cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã
bùng phát mạnh mẽ, buộc công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG rơi vào nguy
cơ mất khả năng thanh toán trầm trọng. Công ty bảo hiểm nhân thọ Ya-ma-mo-
to của Nhật Bản không được cứu nguy cho nên đã phải nộp đơn xin phá sản vào
ngày 10-10-2008. Ủy ban Giám sát Bảo hiểm và trợ cấp nghề nghiệp của châu
Âu thì vẫn đang sát sao theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình thị trường,
2.1.2. Tốc độ tăng trưởng của thị trường bảo hiểm chậm lại.
Đối với các DN bảo hiểm PNT, nhìn chung các nghiệp vụ bảo hiểm có
doanh thu lớn chiếm tỉ trọng cao có tốc độ tăng trưởng chậm lại so với cùng kì
2008. Các doanh nghiệp bảo hiểm có doanh thu cao chiếm thị phần lớn đã có tốc
độ tăng trưởng âm so với cùng kì như Bảo Việt, Bảo Minh, PJICO. Điều này
phần nào phản ánh khó khăn của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ giai đoạn đầu
năm 2009.
Ở mảng bảo hiểm nhân thọ, các DN đã nỗ lực tuyên truyền, giải thích, trợ
giúp khách hàng để tiếp tục duy trì hợp đồng bảo hiểm. Đặc biệt các doanh
nghiệp đưa ra nhiều sản phẩm bảo hiểm với số tiền bảo hiểm tích lũy lớn, bảo
tức cao mức độ bảo vệ rủi ro cho người tham gia bảo hiểm tốt hơn nên đã tiếp
tục khai thác được nhiều hợp đồng bảo hiểm, tạo ra được doanh thu 2.514 tỉ
đồng tăng 7% so với năm 2008. Đây là 1 kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh
khó khăn chung của đất nước và thế giới. Rõ ràng sự chuyển hướng về sản phẩm
có lớp bảo vệ cao và đa dạng đang tạo ra một hướng đi tích cực đối với thị
trường BHNT Việt Nam trong hoàn cảnh khó khăn chung của nền kinh tế đang
tác động tới hoạt động chi tiêu của các hộ gia đình.
Thứ nhất, vốn đầu tư xã hội, vốn FDI và vốn ODA đang có dấu hiệu
chững lại. Số dự án FDI đăng ký mới trong tháng 10-2008 là 68 dự án, với tổng
số vốn là 2,02 tỉ USD, thấp hơn nhiều so với các tháng đầu năm. Khả năng giải
ngân vốn FDI và vốn ODA trong cả năm 2008 cũng chịu ảnh hưởng đáng kể của
cuộc khủng hoảng. Bên cạnh đó, do tình hình lạm phát diễn biến phức tạp nên đã
có hơn 1.600 dự án bị hoãn lại hoặc cắt bỏ. Nhiều dự án lớn, do khó khăn về
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét