nghiên cứu môi trường bổ sung về chất lượng nước, và cập nhật các số liệu
mới về kinh tế - xã hội năm 2004 để lập nên báo cáo ĐTM này.
5
CHƯƠNG 2
MÔ TẢ SƠ LƯỢC VỀ DỰ ÁN
2.1.TÊN DỰ ÁN
Dự án khai thác vàng khu Hố Gần, mỏ Bồng Miêu (sau đây gọi tắt là dự án Hố
Gần).
2.2. CHỦ DỰ ÁN
Tên công ty
Tên tiếng Việt:
Tên tiếng Anh:
Tên giao dịch:
Công ty Khai thác Vàng Bồng Miêu
Bong Mieu Gold Mining Co., Ltd.
BOGOMIN
Trụ sở mỏ: Xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh,
tỉnh Quảng Nam.
Văn phòng giao dịch: 113/2 Nguyễn Chí Thanh, Đà Nẵng.
Giấy phép thành lập Giấy phép Đầu tư số 140/GP ngày 05/3/1991
và Giấy phép điều chỉnh số 140/ĐCGP1 ngày
29 tháng 11 năm 1993
Số điện thoại: 0 511 826518
FAX: 0 511 824130
BOGOMIN là một công ty liên doanh, với các chủ đầu tư gồm:
Bên Việt Nam:
1-Công ty Phát triển Khoáng sản (MIDECO) thuộc Bộ Công nghiệp.
Địa chỉ: 183 Đường Trường Chinh, Hà Nội.
ĐT: 04-8528509 Fax: 04-7840209
Tỷ lệ góp vốn: 10%
2- Công ty Công nghiệp Miền Trung (thay thế cho Xí nghiệp Khai thác Vàng
Bồng Miêu), thuộc Sở Công nghiệp tỉnh Quảng Nam.
Địa chỉ: Xã Bình Phục, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
ĐT: 0510-665022/665023
Fax: 0510-665024
Tỷ lệ góp vốn: 10%.
Bên Nước ngoài:
6
Bong Mieu Holdings Limited.
Đăng ký tại : Bangkok, Thailand
Địa chỉ : 2507 Soi Labprao
Tỷ lệ góp vốn vào liên doanh: 80%
2.3. ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN DỰ ÁN
Khu Hố Gần nằm trong khu vực giấy phép đầu tư 140/GP của dự án mỏ vàng Bồng
Miêu ở địa bàn xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Khu
vực giấy phép đầu tư có diện tích là 30km2, được khống chế bởi các điểm góc
A,B,C,D với tọa độ:
Điểm góc X (UTM) Y(UTM)
A 220413.9500 1706845.4200
B 226489.4300 1706845.4200
C 226497.3800 1701706.1800
D 220413.9500 1701706.1800
Mỏ nằm cách thị xã Tam Kỳ 15 km về phía tây - nam và cách thành phố Đà Nẵng
khoảng 70 km về phía Đông - Nam. (xem hình 2.1 và 2.2)
Trung tâm khu vực hoạt động sản xuất của dự án nằm ở đồi Hố Gần, cách khu dân
cư gần nhất khoảng 2,0km.
2.4. MỤC TIÊU KINH TẾ XÃ HỘI VÀ Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ CỦA
DỰ ÁN
2.4.1 MỤC TIÊU KINH TẾ XÃ HỘI
Dự án đầu tư mỏ Bồng Miêu là dự án khai thác vàng quy mô công nghiệp và hiện
đại đầu tiên ở Việt Nam kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ra đời năm
1987. Dự án khai thác khu Hố Gần là bước đầu của toàn bộ dự án khai thác khu mỏ
Bồng Miêu. Dự án có những mục tiêu sau:
(1) Khai thác, tận dụng tài nguyên khoáng sản, góp phần xây dựng
khu/ngành công nghiệp khai thác chế bến vàng hiện đại ở khu vực
Miền trung và ở Việt Nam;
(2) Tăng thu ngân sách cho Nhà nước từ các loại thuế thu nhập cá nhân,
thu nhập doanh nghiệp và thuế tài nguyên.
(3) Tạo công ăn việc làm trực tiếp cho lao động phổ thông và có tay nghề
tại chỗ của địa phương và gián tiếp thông qua các hợp đồng dịch vụ.
Đa dạng hóa các ngành kinh tế trong khu vực dự án, v.v…
(4) Hạn chế và giảm thiểu các hoạt động khai thác vàng trái phép trong
khu vực. Điều này chắc chắn sẽ giúp ngăn chặn được tình trạng phá
hoại môi trường như hiện nay, và Nhà nước sẽ thu được thuế từ dự
7
án khai thác vàng ở Hố Gần và các khu khác trong khu mỏ Bồng
Miêu theo quy định của pháp luật.
(5) Sự thành công của dự án sẽ có tác động rất lớn đến thái độ của các
nhà đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam, đồng thời cũng làm cho các
nhà đầu tư nước ngoài có sự tin cậy an tâm về một môi trường đầu tư
an toàn, làm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư vào địa phương nói
riêng và cả nước nói chung…
8
Hình 2.1 Vị trí khu vực dự án
9
2.4.2. LỢI ÍCH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA DỰ ÁN
Căn cứ vào trữ lượng đã xác định được, hoạt động khai thác khu Hố Gần dự kiến sẽ
kéo dài trong 3 năm. Tuy nhiên việc tiếp tục thăm dò sẽ làm tăng trữ lượng và kéo
dài thời gian hoạt động của mỏ. Sản lượng vàng trong 3 năm đầu trung bình từ
14.000 đến 20.000 oz vàng/năm, vàng được xuất khẩu, đem lại nguồn thu cho ngân
sách từ các loại thuế, điều không có được từ hoạt động khai thác vàng thủ công trái
phép hiện nay.
Trong quá trình hoạt động dự án sẽ sử dụng khoảng 170 đến 220 lao động, trong đó
chỉ có khoảng từ 6 đến 8 người nước ngoài, còn lại là lao động địa phương hoặc lao
động Việt Nam có kỹ thuật cao tuyển từ các tỉnh khác, v.v. Dự án phát triển sẽ kéo
theo một lực lượng lao động khoảng 1.200 đến 1.580 người hoạt động trong các
ngành dịch vụ liên quan đến dự án. Đây sẽ là những động lực thúc đẩy quá trình
phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa trong vùng.
Khai thác vàng quy mô công nghiệp sẽ giảm thiểu và chặn đứng các hoạt động khai
thác vàng thủ công trái phép, giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường sinh thái
do hoạt động khai thác vàng trái phép gây ra, đưa lại hiệu quả kinh tế cao, sử dụng
hợp lý nguồn tài nguyên, và có trách nhiệm quản lý, bảo vệ và phục hồi môi trường.
2.5. NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG CỦA
DỰ ÁN HỐ GẦN
Các hoạt động chính của công ty Khai thác Vàng Bồng Miêu là tiến hành thăm dò,
khai thác vàng và các khoáng sản đi kèm tại khu mỏ vàng Bồng Miêu, xã Tam Lãnh
huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam. Sản phẩm cuối cùng là vàng doré. Sản phẩm sẽ
được xuất khẩu 100%.
Mỏ Bồng Miêu gồm các khu Núi Kẽm, Hố Ráy - Thác Trắng và Hố Gần (hình 2.1,
2.2). Mỏ Bồng Miêu được phát hiện và khai thác bởi người Chàm từ hàng trăm năm
về trước, được người Pháp khai thác từ năm 1895 đến 1942 và được công ty Khai
thác Vàng Bồng Miêu tiến hành thăm dò đánh giá lại từ năm 1991.
Khu Hố Gần nằm ở phía nam sông Vàng và phần phía tây của khu vực giấy phép
đầu tư Bồng Miêu, cách văn phòng Bồng Miêu 2km về phía nam (xem hình 2.2).
Khu Hố Gần nằm ở trung tâm nếp lồi Bồng Miêu. Tại đây phát triển các tập đá
phiến gơnai cắm thoải về tây, bị xuyên cắt bởi granit và pecmatit . Khoáng hóa vàng
phát triển trong các đời cà nát, cắm thoải, và đới dăm kết cà nát (hình 3.1, 3.1.1).
10
Trữ lượng có thể khai thác của khu Hố Gần dự kiến khoảng – 858.000 tấn quặng với
hàm lượng 2.42g/t vàng. Tổng trữ lượng vàng có thể khai thác ước khoảng 53.800
auxơ hoặc 1,67 tấn vàng (theo Báo cáo Nghiên cứu tiền khả thi mỏ Hố Gần, 2004)
Theo công suất thiết kế, sản lượng khai thác của nhà máy khoảng từ 100.000 đến
180.000 tấn quặng/năm. Sản phẩm thương mại của mỏ là vàng và bạc.
Song song với việc khai thác trữ lượng quặng đã được xác định, công ty sẽ tiến hành
thăm dò bổ sung các khu Hố Ráy - Thác Trắng và Núi Kẽm đã được thăm dò trước
đây và các khu có triển vọng khác trên toàn diện tích giấy phép đầu tư nhằm tăng trữ
lượng để kéo dài tuổi thọ của mỏ.
2.5.1. MẶT BẰNG XÂY DỰNG MỎ
Mặt bằng xây dựng mỏ khu Hố Gần được trình bày ở hình 2.2, gồm khu khai thác lộ
thiên, khu nhà máy và Văn phòng mỏ ở trên đồi Hố Gần, khu đập chứa thải ở thung
lũng suối Lò (Xã Kok Sáu), và các công trình xây dựng phụ trợ khác. Khi dự án đi
vào sản xuất sẽ phải xây dựng các con đường giao thông sau đây:
• Đường giao thông từ thôn 10, xã Tam Lãnh qua sông Vàng lên Hố Gần dài
khoảng 1,0 km. Sẽ phải xây dựng một ngầm tràn bằng bê tông qua sông. Dự
kiến con đường này mỗi ngày có dưới 50 lượt xe qua lại.
• Đường nội mỏ từ nhà máy đến khu khai thác, đến đập chứa thải và nhà làm
việc tại mỏ, dài 3,5 km.
11
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí mặt bằng tổng thể khu Hố Gần
12
2.5.2. CÔNG NGHỆ KHAI THÁC VÀ TUYỂN KHOÁNG
2.5.2.1. Lựa chọn phương pháp khai thác
Các tiêu chí sử dụng để đánh giá và lựa chọn phương pháp khai thác lộ thiên mỏHố
Gần là:
• Quy mô và hình thái thân quặng
• Hàm lượng khoáng hóa và sự phân bố kim loại
• Độ sâu của thân quặng
Căn cứ vào đặc điểm thân quặng nằm gần mặt hoặc lộ trên mặt, khu Hố Gần sẽ
được khai thác bằng phương pháp lộ thiên để bảo đảm khai thác quặng an toàn và
hiệu quả nhất. Phương pháp khai thác lộ thiên cho phép đạt sản lượng cao. Đây là
một phương pháp công nghệ hiện đang được ứng dụng tại Việt Nam.
Các moong khai thác sẽ được mở theo sườn đồi, từ độ cao 200 m ở đỉnh Hố Gần
đến 100m ở thung lũng Suối Lò (hình 2.5)
2.5.2.2 Khu chứa thải (TSF)
Khu chứa thải gồm một đập thải chính và ba đập phụ xây dựng ở thung lũng Suối
Lò. Đập chắn thải chính (đập số 1) sẽ được xây dựng tại một vị trí thu hẹp của thung
lũng ở độ cao 95m và các đập phụ sẽ được xây dựng ở độ cao 100m. Theo thiết kế
thì khu chứa thải là một khu giữ nước không bị rò rỉ, được xây dựng bằng một lớp
sét có độ thấm thấp. Dung dịch xử lý trong khu chứa thải ngấm qua lớp sét sẽ được
gom vào một cái mương nằm dưới đáy của đập thải rồi chảy vào một trũng thu nước
được xây thấp hơn so với đập thải chính, ở độ cao 85m.
Đập chứa thải của dây chuyền ngâm chiết (đập số 3) được xây dựng ở suối nhánh
phía đông của thung lũng Suối Lò, phía trên đập thải chính. Bề mặt khu chứa thải
ngâm chiết sẽ được lót lớp sét chống thấm để ngăn sự thấm nước thải xuống các
tầng nước ngầm.
Sẽ xây dựng hai đập ngăn nước, một ở nhánh suối phía đông (đập số 4) ở phía trên
đập chứa thải của dây chuyền ngâm chiết, và một ở nhánh suối phía tây (đập số 3)
của thung lũng Suối Lò ở phía trên đập chính. Các đập này dùng để chứa nước và
khi đầy nước sẽ chảy vào các kênh dẫn nước bao quanh khu chứa thải.
Để ngăn và tiêu nước từ sườn thung lũng suối Lò đổ xuống các khu chứa thải, sẽ
phải đào kênh tiêu nước bao quanh khu chứa thải.
Một trũng thu nước được đặt ở hạ nguồn đập thải chính và từ đây lượng nước thấm
ra từ thân đập sẽ được bơm ngược trở về khu đập chứa thải chính.
13
Chất thải từ quá trình tuyển trọng lực và tuyển nổi sẽ được thải bằng ống dẫn trọng
lực từ nhà máy ở độ cao 150m trực tiếp đến đập chứa thải chính. Chất thải từ quá
trình ngâm chiết chứa 85% chất rắn sẽ được bơm vào đập chứa thải của dây chuyền
ngâm chiết. Vị trí của đập chứa thải được trình bày ở hình 2.3 và 2.4
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét