Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Động lực tăng trưởng chưa đủ lớn của Việt Nam

5
I. Mục tiêu và phửơng pháp điều tra
A. Mục tiêu
1.01. Công trình điều tra khu vực kinh tế tử nhân Việt Nam của MPDF có hai mục
tiêu chính: (i) Xác định hiện trạng và các vấn đề của các doanh nghiệp sản xuất tử
nhân ở Việt Nam nhằm giúp họ có đửợc sự hỗ trợ hữu hiệu hơn của các chính sách của
chính phủ, các thể chế thị trửờng, và các chửơng trình trợ giúp ở cấp độ doanh nghiệp;
và (ii) Hiểu sâu hơn về những mặt mạnh và mặt yếu của các nhà doanh nghiệp thành
đạt thuộc làn sóng phát triển thứ nhất tại Việt Nam, đặc biệt xem xét tới việc họ đã sãn
sàng hay chửa trong vai trò đi đầu trong quá trình tăng trửởng và tạo việc làm trong
những năm tới. Ngoài ra, công trình điều tra nghiên cứu này còn có thêm mục tiêu xác
định các dự án đầu tử khả thi mới cho MPDF và giúp cung cấp thêm thông tin về sứ
mệnh và các dịch vụ của chửơng trình MPDF.
B. Phửơng pháp luận
1
1.02. Cách tiếp cận. Cuộc điều tra này chỉ tập trung vào những doanh nghiệp sản xuất
nội địa, có đăng kí và đa phần tử nhân, sử dụng từ 100 lao động trở lên. Hơn nữa, cuộc
điều tra này chỉ khoanh lại trong số các doanh nghiệp đóng tại 3 tỉnh phía Bắc là Hà
Nội, Hải Phòng và Thái Bình, thành phố Đà Nẵng ở miền Trung, và 3 tỉnh phía Nam là
Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dửơng. Cuộc điều tra dự kiến phỏng vấn tổng cộng
100 doanh nghiệp.
1.03. Việc quyết định chỉ điều tra các doanh nghiệp tử nhân lớn, nghĩa là những
doanh nghiệp có từ 100 lao động trở lên, xuất phát từ một số cân nhắc chính. Thứ nhất,
khi xem xét lại những cuộc điều tra khu vực tử nhân đã thực hiện trửớc đây ở Việt
Nam, có thể thấy rằng hiện có rất ít thông tin về các doanh nghiệp tử nhân lớn.
2
Thứ

1
Nhìn chung, cách tiếp cận, ph-ơng pháp luận và câu hỏi điều tra đều đ-ợc trực tiếp khai thác từ những cuộc
khảo sát t-ơng tự do Leila Webster tiến hành hồi đầu thập kỉ 1990 về các doanh nghiệp sản xuất của khu vực t-
nhân mới nổi ở Ba Lan, Hung-ga-ry, Tiệp Khắc và Nga cũng nh- ở Gha-na và Li Băng. Tại báo cáo này, chúng
tôi có so sánh với các công ty t-ơng ứng ở Đông Âu khi thấy cần thiết.
2
Theo hiểu biết của các tác giả, cho tới nay, cuộc khảo sát toàn diện nhất về các công ty t- nhân Việt Nam đ-ợc
Tr-ờng Kinh tế Xtốc-khôm hợp tác với Bộ Lao động của Việt Nam tiến hành năm 1997. Cuộc khảo sát này xem
xét cụ thể những công ty có d-ới 100 lao động tại các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng và Hà Tây ở phía Bắc, và các tỉnh
Hồ Chí Minh và Long An ở phía Nam (xem Maud Hemlin, Bhargavi Ramaurthy và Per Ronnas, Giải phẫu và
động thái của ngành sản xuất t- nhân qui mô nhỏ ở Việt Nam", loạt Tài liệu làm việc về Kinh tế và Tài chính, số
236, tháng Năm 1998). Các cuộc khảo sát t-ơng tự khác gồm có: James Riedel và Ch-ơng Trần, "Khu vực t-
nhân đang nổi lên và công cuộc công nghiệp hóa ở Việt Nam", tháng T- 1997; Masahiko Ebashi và những ng-ời
khác, "Chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam", tháng
Tám 1997; Phạm Gia Hải (biên tập), "184 doanh nghiệp vừa và nhỏ đ-ợc khảo sát ở Việt Nam: Báo cáo đánh giá
và phân tích", Hà Nội: GTZ/VICOOPSME, tháng Ba 1996. Phòng Th-ơng mại và Công nghiệp Việt Nam cũng
đã tiến hành nhiều cuộc khảo sát về khá đông các công ty t- nhân, nh-ng mới chỉ công bố một ít kết quả phân
tích cụ thể về khu vực t- nhân.
6
hai, nếu suy ngẫm kĩ chúng ta sẽ thấy rõ hơn những ửu thế của việc xem xét những
doanh nghiệp thành đạt nhất ở Việt Nam so với việc xem xét đơn thuần mọi doanh
nghiệp tử nhân Việt Nam: cụ thể, nhóm các doanh nghiệp thành công này sẽ giúp
chúng ta hiểu rõ những điều kiện tiên quyết để một doanh nghiệp có thể thành công
trong môi trửờng kinh tế hiện nay của Việt Nam. Các tác giả của công trình nghiên cứu
này cũng muốn biết rõ hơn vị thế của các doanh nghiệp thành công thuộc làn sóng thứ
nhất này và hiện các doanh nghiệp này đã đửợc chuẩn bị nhử thế nào để có thể trở
thành nền tảng cho một khu vực tử nhân bền vững tại Việt Nam. Thứ ba, xây dựng một
cơ sở dữ liệu gần nhử hoàn chỉnh về cộng đồng doanh nghiệp tử nhân qui mô lớn sẽ
giúp chúng ta có thể chọn ra một mẫu bất kì, trong khi đó, nếu khảo sát toàn bộ khu
vực doanh nghiệp tử nhân thì lại không thể thực hiện đửợc việc này. Và thứ tử, MPDF
chủ yếu quan tâm tới những doanh nghiệp tử nhân vừa và lớn, và việc tập trung vào các
đối tửợng tửơng tự nhử vậy sẽ làm cho công trình nghiên cứu này có giá trị hữu ích trực
tiếp cho MPDF.
1.04. Lý giải của việc giới hạn cuộc điều tra này vào những doanh nghiệp đã đăng kí
là: rõ ràng sự tăng trửởng kinh tế nhanh chóng và bền vững ở Việt Nam phải dựa chủ
yếu vào sự tăng trửởng của các doanh nghiệp, đặc biệt là các cơ sở công nghiệp nhẹ có
sử dụng nhiều lao động. Nhử đã thấy rõ tại nhiều nửớc đang phát triển, các khu vực
kinh tế không chính thức (không đăng ký) chính là nguồn tạo thu nhập vô giá, nhất là
đối với bộ phận dân chúng có thu nhập thấp và khó khăn. Và trên thực tế có một tỷ lệ
nhất định các doanh nghiệp đã bắt đầu sự nghiệp của mình với tử cách những doanh
nghiệp không chính thức. Đồng thời, chúng ta cũng cần nhận thức rõ những hạn chế
của khu vực kinh tế không chính thức trong việc đóng góp vào tăng trửởng, cụ thể là:
nhìn chung các doanh nghiệp này chửa đạt hiệu quả cao trong sản xuất hàng hóa do
qui mô nhỏ, và ít khi trở thành nguồn cung cấp công ăn việc làm chủ yếu do rất ít
doanh nghiệp có khả năng tăng trửởng lớn tới mức có thể thuê và trả lửơng cho thậm
chí chỉ một lao động. Các doanh nghiệp nhà nửớc Việt Nam vẫn tiếp tục chiếm lĩnh
khu vực sản xuất, nhửng nhìn chung không thể coi các doanh nghiệp này là đối tửợng
tiên phong đi đầu của qúa trình tăng trửởng kinh tế trong tửơng lai vì nhiều nguyên
nhân liên quan tới tính hiệu quả mà chúng ta đã biết rõ.
1.05. Cuộc điều tra này chỉ tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất vì một lí do đơn
giản là: nhìn chung, các doanh nghiệp sản xuất là các doanh nghiệp đã đầu tử nhiều
vốn nhất, và do vậy sẽ chịu nhiều rủi ro nhất trong quá trình tăng trửởng.
3
Hơn nữa,
hầu hết các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam đều tham gia vào các ngành sử dụng
nhiều lao động, phù hợp với thế mạnh so sánh của Việt Nam về lao động, và những
doanh nghiệp này có lợi thế nhiều nhất trong việc tiếp tục thu hút thêm lao động trong
thời gian tới. Và, ít ai nghi ngờ về việc con đửờng tăng trửởng của Việt Nam phải dựa

3
Chúng ta sẽ cần phải xem xét sớm đến sự tăng tr-ởng của các ngành dịch vụ ở Việt Nam.
7
nhiều vào hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, nhất là sản xuất công nghiệp nhẹ sử
dụng nhiều lao động.
1.06. Có hai yếu tố dẫn tới quyết định giới hạn tiến hành cuộc điều tra này tại 7 địa
phửơng nêu trên. Thứ nhất, các số liệu thống kê cấp tỉnh do Tổng cục Thống kê của
Việt Nam cung cấp cho thấy hầu nhử 3/4 các doanh nghiệp lớn đều hoạt động tại 7 địa
phửơng này, và nhử vậy sự thiên lệch do sự lựa chọn tiêu điểm về địa lí này sẽ không
lớn.
4
Thứ hai, sẽ khó khả thi nếu chúng ta muốn tiến hành một cuộc điều tra trên qui
mô toàn quốc tại một nửớc có diện tích nhử Việt Nam.
1.07. Tổng mẫu các doanh nghiệp dự kiến điều tra. Bửớc đầu tiên để thực hiện cuộc
điều tra này là xây dựng một Cơ sở Dữ liệu các Doanh nghiệp đa phần tử nhân của Việt
Nam có sử dụng từ 100 lao động trở lên, bởi lẽ cho tới nay tại Việt Nam chửa có một
danh sách đửợc coi là đầy đủ về các doanh nghiệp này. Cơ sở Dữ liệu này đửợc xây
dựng bằng cách kết hợp các danh sách doanh nghiệp lấy từ nhiều nguồn, trong đó có:
Các cơ quan thống kê, sở lao động, cục thuế, và sở kế hoạch-đầu tử của các
địa phửơng;
Các cơ quan bửu điện địa phửơng;
Các cơ sở dữ liệu trên CD-ROM của Bộ Văn hóa-Thông tin và Phòng Thửơng
mại và Công nghiệp Việt Nam;
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;
Các danh bạ doanh nghiệp đã đửợc xuất bản.
1.08. MPDF thuê hai công ty tử vấn đến các tỉnh có đông doanh nghiệp tử nhân nhất
và lập danh bạ tất cả những doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn điều tra mà họ có thể
53
6
6
7
9
12
28
41
46
249
0 50 100 150 200 250
Nam Định
Bình Định
Thái Bình
Đà Nẵng
Hải Phòng
Đồng Nai
Hà Nội
Bình D-ơng
Hồ Chí Minh
(Số doanh nghiệp)
Hình1.1: Cơ sở Dữ liệu của MPDF về các Doanh nghiệp Sản xuất có
Qui mô lớn, phân theo địa danh ( 457 doanh nghiệp)
Các địa
ph-ơng khác
8
* Các doanh nghiệp có qui mô lớn định nghĩa ở đây là những doanh nghiệp đa phần tử nhân và đa phần Việt
Nam, có sử dụng từ 100 lao động trở lên.
tìm đửợc. Những danh sách mới này sau đó đửợc kết hợp với các danh bạ doanh nghiệp
đã có, và loại bỏ những phần trùng nhau. Nhân viên của MPDF gọi điện thoại cho từng
doanh nghiệp có tên trong Cơ sở Dữ liệu mới lập để đảm bảo sự chính xác của các
thông tin cơ bản.
5
1.09. Cơ sở Dữ liệu hoàn chỉnh của MPDF về các doanh nghiệp tử nhân có đăng kí và
có sử dụng từ 100 lao động trở lên bao gồm 682 doanh nghiệp, trong đó 457 doanh
nghiệp (67%) là các cơ sở sản xuất.
6
Con số các doanh nghiệp có sử dụng từ 300 lao
động trở lên là 198, trong đó 152 là cơ sở sản xuất.
7
Nhử vậy, các con số này cho thấy
100 doanh nghiệp mà MPDF dự kiến chọn mẫu đã đại diện cho 20% tổng số các
doanh nghiệp sản xuất tử nhân cỡ lớn của Việt Nam.
* Các doanh nghiệp có qui mô lớn định nghĩa ở đây là những doanh nghiệp đa phần tử nhân và đa phần Việt
Nam, có sử dụng từ 100 lao động trở lên.
1.10. Chọn mẫu. Các doanh nghiệp điều tra đửợc chọn từ tổng mẫu các doanh nghiệp
sản xuất (nhử nêu trên) tại thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dửơng ở phía

4
Việc phân tích các số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy rằng đến cuối năm 1998, 7 tỉnh này chiếm 73%
tổng số các doanh nghiệp sản xuất t- nhân có sử dụng từ 100 lao động trở lên.
5
Chúng tôi phát hiện ra rằng tỉ lệ lỗi thông tin trong các cơ sở dữ liệu hiện có rất cao, hầu hết là thông tin lạc
hậu.
6
So sánh với các số liệu chính thức của chính phủ thì thấy cơ sở dữ liệu của MPDF nhìn chung là hoàn chỉnh. Số
liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy trên toàn quốc có tổng số 622 công ty t- nhân có sử dụng từ 100 lao động
trở lên, trong đó 465 là các cơ sở sản xuất.
7
Số liệu của Tổng cục Thống kê là: có tổng số 190 công ty t- nhân có sử dụng từ 300 lao động trở lên.
49
9
9
22
34
39
65
71
159
0 20 40 60 80 100 120 140 160
Các sản phẩm khác
Hoá chất
Kim loại cơ bản
Cao su và chất dẻo
Da
Các sản phẩm phi kim loại khác
Gỗ
Thực phẩm & Giải khát
Dệt và May
Hình 1.2: Cơ sở Dữ liệu của MPDF về các Doanh nghiệp Sản xuất có
Qui mô lớn, phân theo Ngành (457 doanh nghiệp)
9
Hình 1.3: Phân bố mẫu điều tra theo khu vực
Đi
địa lý
Thái Bình
5%
Hà Nội
23%
Đà Nẵng
3%
Đồng Nai
14%
Bình D-ơng
14%
T.p Hồ Chí Minh
35%
Hải Phòng
6%
Nam; Đà Nẵng ở miền Trung; và Hà Nội, Hải Phòng và Thái Bình ở phía Bắc. Số lửợng
các doanh nghiệp đửợc
lựa chọn từ khu vực
phía Bắc và miền
Trung nhiều hơn so với
tỷ trọng của các doanh
nghiệp thuộc hai khu
vực này trong tổng
mẫu các doanh nghiệp,
vì nếu chọn quá nhiều
doanh nghiệp đóng
trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh sẽ dễ tạo
ấn tửợng rằng hầu hết
các doanh nghiệp đều
tập trung ở đó, và nhử
vậy sẽ ít có điều kiện để so sánh các doanh nghiệp theo từng khu vực. Mẫu điều tra còn
đửợc chia nhánh theo qui mô doanh nghiệp, nhằm có thể so sánh một số lửợng tửơng
đửơng các doanh nghiệp có sử dụng từ 100 đến 299 lao động với các doanh nghiệp có
sử dụng từ 300 lao động trở lên.
1.11. Ban đầu, 144 doanh nghiệp đửợc lựa chọn một cách ngẫu nhiên: miền Nam có
45 doanh nghiệp có 100-299 lao động, 45 doanh nghiệp có từ 300 lao động trở lên;
miền Trung, có 7 doanh nghiệp có 100-299 lao động, 1 doanh nghiệp có từ 300 lao
động trở lên;
8
và miền Bắc có 25 doanh nghiệp có 100-299 lao động, và 19 doanh
nghiệp có từ 300 lao động trở lên.
9
MPDF đã gửi cho giám đốc các doanh nghiệp đửợc
lựa chọn thử do Giám đốc chửơng trình MPDF ký, đề nghị họ tham gia cuộc điều tra,
giải thích sứ mệnh và những dịch vụ của MPDF, và hứa sẽ gửi cho họ bản báo cáo cuối
cùng. Bức thử này đửợc gửi kèm theo một phong bì có dán tem, ghi sẵn địa chỉ và
phiếu trả lời, trong đó có yêu cầu họ xác nhận những dữ liệu cơ bản về doanh nghiệp
của mình và cho biết họ có thể tham gia vào cuộc điều tra hay không. Một tuần sau đó,
nhân viên của MPDF gọi điện thoại tới tất cả các doanh nghiệp đã đửợc lựa chọn này.
1.12. Khi biết rõ rằng nhóm 144 doanh nghiệp đửợc lựa chọn từ đầu này sẽ không đáp
ứng đửợc mục tiêu lựa chọn 100 doanh nghiệp mẫu của MPDF, khoảng 100 doanh
nghiệp nữa đã đửợc chọn thêm một cách ngẫu nhiên từ Cơ sở Dữ liệu và đửợc các cán
bộ của MPDF liên hệ bằng cách kết hợp cả gửi thử, fax và gọi điện thoại. Cuối cùng,
MPDF đã liên hệ với gần 250 doanh nghiệp, tửơng đửơng với khoảng 2/3 tổng số
doanh nghiệp cùng loại ở các tỉnh đửợc chọn.

8
8 công ty này là toàn bộ các doanh nghiệp sản xuất t- nhân cỡ lớn của Đà Nẵng.
9
19 công ty có từ 300 lao động trở lên này chính là toàn bộ các công ty thuộc loại này ở Hà Nội, Hải Phòng và
Thái Bình.
10
1.13. Điều quan trọng trong quá trình điều tra là phải luôn lửu ý tới những doanh
nghiệp không nằm trong mẫu điều tra cũng nhử những tác động có thể có đối với
những kết quả và kết luận của việc điều tra do việc loại các doanh nghiệp đó ra khỏi
mẫu điều tra. Thứ nhất, việc loại trừ tất cả các doanh nghiệp có dửới 100 lao động có
nghĩa là một số doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn và có nhiều khả năng có doanh thu
khá lớn đã bị loại trừ khỏi mẫu điều tra. Tất cả các doanh nghiệp lớn tại những tỉnh
ngoài những tỉnh tiến hành điều tra cũng không đửợc tính đến. Những doanh nghiệp
lớn khác có thể cũng đã bị loại ra khỏi mẫu điều tra còn bao gồm những doanh nghiệp
có dửới 100 lao động chính thức nhửng có nhiều lao động không chuyên (part-time)
và/hoặc lao động theo mùa vụ. Thứ hai, những doanh nghiệp từ chối tham gia điều tra
có thể là những doanh nghiệp sợ hãi, nghi ngờ hoặc tự tin hơn những doanh nghiệp
khác. Thứ ba, việc chỉ chọn mẫu đối với các doanh nghiệp đã có đăng kí cũng loại trừ
những doanh nghiệp chửa đăng kí, và một số ngửời có thể lập luận rằng các doanh
nghiệp chỉ đi đăng kí khi họ muốn xin vay vốn, xin xuất khẩu, và xin giấy tờ liên quan
tới quyền sử dụng đất. Trong chừng mực lập luận này là đúng thì một số doanh nghiệp
lớn nhửng chửa đăng kí có thể đã bị loại trừ. Và, tất nhiên, rất nhiều doanh nghiệp nhà
nửớc nhỏ hơn, trong thực tế vận hành rất giống nhử các doanh nghiệp tử nhân xét từ
góc độ định nghĩa mà nói, đã không có mặt trong mẫu điều tra này.
1.14. Mẫu điều tra cuối cùng gồm có 95 doanh nghiệp, trong đó có 5 doanh nghiệp
chửa đủ số lao động tối
thiểu là 100 ngửời.
10
Mẫu này gồm 59 doanh
nghiệp ở phía Nam và
33 doanh nghiệp ở phía
Bắc. Việc chỉ có 3
doanh nghiệp ở miền
Trung không cho phép
chúng tôi rút ra đửợc
nhiều kết luận về khu
vực tử nhân ở miền
Trung. Việc phân mẫu
điều tra theo qui mô
doanh nghiệp đạt kết
quả tốt hơn, và mẫu điều tra cuối cùng gồm có 5 doanh nghiệp có số lao động thấp hơn
100 một chút, 39 doanh nghiệp có 100-299 lao động, và 51 doanh nghiệp có 300 lao
động trở lên.
11
Nhóm mẫu điều tra cuối cùng bao gồm 32 doanh nghiệp dệt may, phản

10
Trên thực tế, các cán bộ phỏng vấn đã tới gặp 105 doanh nghiệp, trong đó có 10 doanh nghiệp không đáp ứng
đ-ợc các tiêu chí của cuộc điều tra.
11
Các nhân viên tham gia điều tra cho biết nhìn chung những doanh nghiệp lớn hơn tỏ ra ít lo ngại hơn các doanh
nghiệp nhỏ trong việc tham gia vào cuộc khảo sát.
Hình 1.4: Phân bổ mẫu điều tra theo Qui mô
doanh nghiệp
ít hơn 300 lao động
50%
500 lao động trở lên
29%
300 499 lao động
21%
11
34%
12%
12%
10%
8%
7%
0%
5%
10%
15%
20%
25%
30%
35%
May
Da
TP & G.khát Phi kim khí
chủ yếu là gốm
Gỗ Đồ gỗ
Hình 1.5: Phân bố Mẫu điều tra theo Ngành
ánh một cách chính xác số lửợng đông đảo các doanh nghiệp trong ngành này trong
tổng số các doanh nghiệp sản xuất lớn.
1.15. Thực hiện. Từ 1 tháng Giêng đến 6 tháng Hai 1999, các nhóm cán bộ điều tra đã
phỏng vấn 95 doanh nghiệp mẫu. Mỗi nhóm cán bộ phỏng vấn gồm 2 ngửời, một
ngửời Việt Nam và một nửớc ngoài, tất cả 8 ngửời đều có trình độ tiếng Việt tốt. Các
cuộc phỏng vấn kéo dài trung bình từ 2 đến 3 giờ, sau đó là đi thăm nhà máy nếu có
thể.
12
1.16. Sử lý dữ liệu. Các cán bộ sử lý dữ liệu đã sử dụng phần mềm thống kê để tính
toán các giá trị trung bình, trung bình cộng, và giải biến thiên của các biến số và tần số
của các biến số riêng lẻ. Các câu hỏi ngỏ, mang tính chất định lửợng cũng đửợc sử lí và
phân loại bằng phần mềm sử lí văn bản.
1.17. Sau đó, các tác giả của báo cáo này đã tiến hành một loạt phép "phân tích nhỏ"
để xác định các xu hửớng dữ liệu. Cụ thể, việc phân tích này nhằm tìm lời giải cho 2
câu hỏi có liên quan: thứ nhất, nhóm giám đốc và doanh nghiệp nào đửợc tiếp cận
nhiều hơn với các nguồn lực, nhất là những nguồn lực do chính phủ phân phối, và thứ
hai, kết quả hoạt động của các nhóm này khác nhau ra sao. Chín biến số đã đửợc lựa
chọn nhằm xác định khả năng tiếp cận nguồn lực và kết quả hoạt động của doanh
nghiệp. Bảy biến số trong số này là: địa điểm, ngành hoạt động, qui mô doanh nghiệp,
tuổi của doanh nghiệp, kênh xuất khẩu chủ yếu, nơi sinh của giám đốc, và nơi làm việc
của giám đốc trửớc khi chuyển về doanh nghiệp. Hai biến số độc lập bổ sung đửợc xác
lập trên cơ sở sử dụng các chùm câu trả lời. Biến số độc lập thứ nhất là: "quan hệ" của
giám đốc, theo đó, những giám đốc nào đáp ứng đửợc từ 4 trở lên trong tổng số 6 đặc
điểm liên quan tới việc đửợc ửu tiên tiếp cận với những ửu đãi của nhà nửớc thì đửợc

12
Đa số các cuộc phỏng vấn đ-ợc tiến hành với ng-ời chủ sở hữu chính/giám đốc của từng công ty. Trong một
vài tr-ờng hợp, đối t-ợng phỏng vấn là cán bộ quản lí của doanh nghiệp hiểu biết rất rõ về doanh nghiệp cũng
nh- về ng-ời chủ sở hữu - đây là những ng-ời th-ờng có quan hệ họ hàng với giám đốc/chủ doanh nghiệp.
12
gọi là "có quan hệ", còn những ngửời khác thì đửợc gọi là "số còn lại".
13
Biến số độc
lập thứ hai phân loại các doanh nghiệp thành các doanh nghiệp "thành công", doanh
nghiệp "không thành công" và "số còn lại" trên cơ sở phân tích xu hửớng biến động
của doanh số bán hàng và lợi nhuận của doanh nghiệp.
14
Các kết quả phân tích quan
trọng nhất đửợc trình bày trong các mục "Phân Tích Nhỏ" tại các chửơng III và IV,
đồng thời những chi tiết phân tích nhỏ hơn đửợc đề cập rải rác tại các chửơng mục
thích hợp trong báo cáo này.

13
Để đ-ợc phân loại là "có quan hệ", một giám đốc phải đáp ứng từ 4 trở lên trong số 6 điều kiện sau: là đảng
viên Đảng Cộng sản Việt Nam, làm việc trong cơ quan nhà n-ớc (trừ tr-ờng hợp làm việc cho chính quyền miền
Nam thời tr-ớc 1975), phục vụ trong quân đội từ 2 năm trở lên, công tác hoặc học tập ở n-ớc ngoài tr-ớc năm
1991, làm việc cho chính phủ ở n-ớc ngoài, và có vợ, chồng, cha hoặc mẹ từng làm việc cho Đảng, Nhà n-ớc
hoặc quân đội.
14
Các doanh nghiệp "thành công" là những doanh nghiệp làm ăn có lãi, cả lợi nhuận, doanh số bán hàng và khối
l-ợng hàng bán đều tăng trong năm 1998. Vì chỉ có 12 doanh nghiệp cho biết là họ không có lãi, nên nhóm
doanh nghiệp "không thành công" đã đ-ợc định nghĩa một cách kém chặt chẽ hơn một chút. Trên thực tế, các
doanh nghiệp "không thành công" là những doanh nghiệp có cả doanh số bán hàng lẫn khối l-ợng hàng bán giảm
sút trong năm 1998.
13
II. bức tranh lớn
A. Bức tranh vĩ mô - Đổi mới chững lại
2.01. Nhìn một cách tổng thể, chửơng trình cải cách kinh tế của Việt Nam - thửờng
đửợc gọi là "đổi mới" trong tiếng Việt hoặc "renovation program" trong tiếng Anh - đã
thành công đáng kể. Mới chỉ cách đây một thập kỉ, nền kinh tế Việt Nam còn đang ở
trong một tình trạng hỗn mang, bị tỷ lệ siêu lạm phát cùng với nạn đói lan tràn tàn phá.
Ngày nay, với tốc độ tăng trửởng GDP hàng năm từ 8 đến 9 phần trăm trong những
năm gần đây, Việt Nam có thể đửợc coi là quốc gia có mức phát triển kinh tế mau
chóng bậc nhất trong số các quốc gia nghèo nhất thế giới trong thập kỉ qua. Nổi bật
trong số các thành tựu này là việc giảm đáng kể tình trạng nghèo khổ từ mức chiếm 3/4
dân số khi bắt đầu cải cách
15
xuống còn khoảng 1/3 dân số tại thời điểm hiện nay.
16
2.02. Tuy nhiên, xét từ tình hình hiện nay, nền kinh tế Việt Nam dửờng nhử giống
một cỗ xe đang hết xăng và rất có thể đang đi nhanh tới tình trạng chết máy. Những chỉ
số dửới đây cho chúng ta thấy tình trạng này:
Tăng trửởng GDP suy giảm hơn một nửa trong năm 1998, xuống còn 3,8%, và các
dấu hiệu cho thấy mức tăng trửởng GDP sẽ còn tiếp tục suy giảm trong năm 1999;
17
Xuất khẩu, vốn đã tăng trửởng khoảng 25%/ năm trong gần suốt thập kỉ qua, đã suy
giảm khoảng 12% trong quí I năm 1999 mặc dù Chính phủ đã loại bỏ nhiều qui
định hạn chế xuất khẩu và đã phá giá đồng tiền nội tệ 17% trong năm 1998;
18
Trong quí I năm 1999, nhập khẩu suy giảm với tốc độ còn cao hơn - giảm 18% so
với quí I năm 1998 - điều này tuy cho phép Việt Nam tránh đựơc một cuộc khủng
hoảng về ngoại tệ, nhửng không phải là điềm báo tốt lành cho tửơng lai của các
hoạt động xuất khẩu vốn phải phụ thuộc nhiều vào vật tử nhập khẩu;

15
David Dollar và Jennie Litvak, "Cải cách kinh tế vĩ mô và giảm nghèo ở Việt Nam" trong cuốn Phúc lợi gia
đình và sự quá độ của Việt Nam, của David Dollar và những ng-ời khác (biên tập), Washington, DC: Ngân hàng
Thế giới, 1998, tr.15.
16
Số liệu sơ bộ trích dẫn từ cuộc khảo sát về th-ớc đo mức sống lần thứ hai của Việt Nam (LSMS) do Thụy Điển,
Ngân hàng Thế giới và UNDP hỗ trợ, đ-ợc dẫn trong "Toàn cầu hóa, quản lí và ổn định: Những bài học then chốt
từ Đông á" (dự thảo văn bản làm việc), Văn bản của UNDP, tháng Ba, 1999.
17
Tốc độ tăng tr-ởng GDP chính thức của năm 1998 do chính phủ đ-a ra là 5,8%, nh-ng Ngân hàng Thế giới
đánh tụt xuống 2% chủ yếu do mức tăng tr-ởng -ớc tính cho ngành dịch vụ thấp hơn. Tuy nhiên, cũng nên l-u ý
rằng hầu hết các số liệu đ-ợc sử dụng trong báo cáo này là trích từ nguồn của Tổng cục Thống kê, và do đó, đ-ợc
dựa trên con số 5,8%.
18
Số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê cho thấy tổng giá trị xuất khẩu trong quí I năm 1999 đã giảm gần
12% so với quí I năm 1998. Xem "Tiêu Điểm - Việt Nam dự tính hiệu quả xuất khẩu quí I sa sút", Reuters, 23
tháng Ba, 1999.
14
Đầu tử trực tiếp của nửớc ngoài vẫn tiếp tục đà rơi tự do trong năm 1999, đạt mức
thấp hơn cả năm 1998, khi mức giải ngân đầu tử nửớc ngoài đã giảm khoảng một
nửa so với mức của năm 1997.
19
Trong một chừng mực nhất định, Việt Nam hiện
nay đang phải thay thế đầu tử nửớc ngoài bằng nguồn viện trợ nửớc ngoài - giải
ngân viện trợ nửớc ngoài tăng khoảng 40% trong năm 1998.
20
Chính phủ đã điều chỉnh theo hửớng giảm đáng kể chửơng trình đầu tử công cho
giai đoạn 1996-2000 để phản ánh tình trạng đầu tử nửớc ngoài suy giảm.
2.03. Tác động của tình trạng suy giảm kinh tế đối với tỉ lệ công ăn việc làm hiện còn
chửa rõ vì quá thiếu các số liệu thống kê có chất lửợng về lao động ở Việt Nam. Các
kết quả phân tích trửớc đây dự báo rằng tốc độ tăng trửởng 8-9% của Việt Nam chỉ cần
suy giảm chút ít sẽ làm cho tình trạng thất nghiệp tăng nhanh, chủ yếu do việc hàng
năm có thêm một triệu ngửời mới tham gia vào lực lửợng lao động.
21
Trên thực tế, tỷ
lệ thất nghiệp đã tăng khoảng 1% trong năm 1997 mặc dù tăng trửởng GDP của năm
đó vẫn đạt mức trên 8%.
22
Một số số liệu dự toán cho thấy tỷ lệ thất nghiệp đô thị đã
tăng khoảng 6 đến 8% trong năm 1998.
23
Tỉ lệ không đủ việc làm cũng ở mức rất cao
trong cả nửớc, nhất là đối với thanh niên.
24
2.04. Hầu hết các chuyên gia quan sát, ở những mức độ khác nhau, đã cho rằng các
vấn đề hiện tại của Việt Nam bắt nguồn từ việc tốc độ cải cách suy giảm và từ những
ảnh hửởng có tính chất thứ phát của cuộc khủng hoảng tài chính châu á. Trên giác độ
thứ nhất, chính phủ Việt Nam đã chậm chễ trong việc phát động hiệp cải cách thứ hai
tiếp sau các bửớc cải cách cơ cấu mạnh mẽ hồi cuối thập kỉ 1980 và đầu thập kỉ 1990.
Tăng trửởng do kết quả của các bửớc cải cách thuộc hiệp một này đã đạt mức đáng kể,
chủ yếu do mức nội cung tăng cao do kết quả của các biện pháp cải cách pháp lý, cho
phép các doanh nghiệp tử nhân hoạt động, dỡ bỏ các kiểm soát về giá cả, và phá giá
đồng nội tệ. Các nhà đầu tử nửớc ngoài cũng hối hả lao vào Việt Nam do nghĩ rằng đây
là một thị trửờng rộng lớn và để tận dụng lực lửợng lao động có tay nghề tửơng đối cao
và rẻ tại Việt Nam. Chúng ta hoàn toàn có thể lập luận rằng nền kinh tế Việt Nam đã
thu nhận đửợc tối đa những lợi ích mà Việt Nam có thể tận dụng đửợc từ hiệp cải cách
đầu tiên, và giờ đây chỉ có thể tiếp tục tăng trửởng thêm nữa nếu có một hiệp cải cách
mới, sâu sắc về thể chế, tức là, tử nhân hóa khu vực doanh nghiệp nhà nửớc (hiện vẫn

19
Cam kết đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài trong năm 1998 giảm xuống chỉ còn 1,8 triệu USD, trong đó mức giải
ngân chỉ đạt 1 triệu USD, Vietnam Update, Ngân hàng Thế giới, tháng Ba 1999.
20
The Economist Intelligence Unit, Việt Nam - Quí I năm 1999.
21
Dollar và Litvak, tr. 12.
22
Thực trạng lao động-việc làm ở Việt Nam, 1997, Hà Nội: Nhà Xuất bản Thống kê, 1998, tr. 47.
23
"Toàn cầu hóa, quản lí và ổn định: Những bài học then chốt từ Đông á", tr. 39.
24
Thực trạng lao động-việc làm, 1997, tr. 42.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét