Có nhiều tiêu thức để phân loại công ty chứng khoán, một tiêu thức
chủ yếu được sử dụng là phân loại theo loại hình kinh doanh. Theo đó, công
ty chứng khoán được chia thành 5 loại:
• Công ty môi giới: là công ty chứng khoán chỉ thực hiện việc
trung gian, mua bán chứng khoán cho khách hàng của họ trên
Sở giao dịch chứng khoán để hưởng hoa hồng.
• Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán: là công ty chứng
khoán hoạt động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để
hưởng phí hoặc chênh lệch giá.
• Công ty kinh doanh chứng khoán: là công ty chứng khoán chủ
yếu thực hiện nghiệp vụ tự doanh, tự bỏ vốn kinh doanh và tự
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
• Công ty trái phiếu: là công ty chứng khoán chuyên mua bán các
loại trái phiếu.
• Công ty chứng khoán phi tập trung: là công ty chứng khoán chủ
yếu mua bán chứng khoán trên thị trường OTC, đóng vai trò là
các nhà tạo lập thị trường.
Mỗi loại hình công ty chứng khoán có những đặc điểm, cơ cấu, nghiệp
vụ khác nhau, nhưng đều chung vai trò quan trọng là duy trì và thúc đẩy
hoạt động của thị trường chứng khoán.
1.1.2 Vai trò của công ty chứng khoán
Trên thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán có vai trò đặc biệt,
vừa là nhà đầu tư tham gia trực tiếp vào thị trường, vừa là cầu nối giữa nhà
phát hành và những nhà đầu tư khác, cung cấp những dịch vụ cần thiết phục
5
vụ hoạt động của thị trường. Sự có mặt của công ty chứng khoán là không
thể thiếu trên cả thị trường tập trung hay phi tập trung.
Dựa trên các hoạt động của mình, công ty chứng khoán có những vai
trò chính như sau:
1.1.2.1 Vai trò huy động vốn
Mục tiêu khi tham gia thị trường chứng khoán của các tổ chức phát
hành là huy động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán. Đó là vai trò
của công ty chứng khoán, với tư cách là trung gian tài chính, thông qua hoạt
động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán.
Vai trò huy động vốn, nói một cách đơn giản, là vai trò làm cầu nối,
đồng thời là kênh dẫn vốn chảy từ một hay một vài bộ phận của nền kinh tế
có dư thừa vốn (vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang
thiếu cần huy động vốn.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là
nguyên tắc trung gian, yêu cầu các nhà đầu tư và nhà phát hành phải giao
dịch chứng khoán thông qua các trung gian mua bán, là công ty chứng
khoán. Công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế
thông qua thị trường chứng khoán.
1.1.2.2 Vai trò cung cấp một cơ chế giá cả
Vai trò này của công ty chứng khoán thể hiện đối với cả nhà đầu tư và
thị trường chứng khoán.
Đối với nhà đầu tư, công ty chứng khoán cung cấp cơ chế giá cả nhằm
giúp nhà đầu tư có được sự đánh giá đúng thực tế và chính xác giá trị khoản
đầu tư của mình. Giá cổ phiếu và thông tin tài chính của các công ty được
niêm yết hàng ngày trên các báo tài chính, điều này giúp nhà đầu tư tiết kiệm
phần nào chi phí, thời gian và công sức tìm hiểu thông tin.
6
Đối với thị trường, công ty chứng khoán có sự can thiệp nhất định,
góp phần tạo lập giá cả, thông qua hình thức đấu giá. Trên thị trường sơ cấp,
công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên; vì
vậy giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá
của các công ty chứng khoán. Ngoài ra, công ty chứng khoán còn thể hiện
vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường. Theo quy định của các
nước, công ty chứng khoán bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao
dịch của mình để thực hiện vai trò bình ổn thị trường, mua vào khi thị trường
sụt giảm và bán ra khi thị trường phát triển nóng.
1.1.2.3 Vai trò cung cấp một cơ chế chuyển ra tiền mặt
Công ty chứng khoán đảm nhận chức năng chuyển đổi tiền mặt thành
chứng khoán có giá và ngược lại, giúp cho nhà đầu tư phải chịu ít thiệt hại
nhất khi tiến hành đầu tư. Điều này hạn chế rủi ro của việc giá trị khoản đầu
tư có thể bị giảm đi do các nhân tố tác động.
Ngoài ra, công ty chứng khoán còn góp phần làm tăng tính thanh
khoản của tài sản tài chính. Đây là một vai trò quan trọng của thị trường
chứng khoán mà công ty chứng khoán là người thực hiện, vì nó tạo ra cơ chế
giao dịch trên thị trường. Cả trên thị trường sơ cấp thông qua việc bảo lãnh
phát hành, lẫn trên thị trường thứ cấp thông qua cơ chế chuyển đổi tiền mặt,
những hoạt động của công ty chứng khoán đều làm tăng tính thanh khoản
cho các tài sản tài chính, làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư.
1.1.2.4 Thực hiện tư vấn đầu tư
Do công ty chứng khoán có sự chuyên sâu về trình độ, nghiệp vụ
chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, bộ máy tổ chức nên ngoài việc
thực hiện yêu cầu khách hàng, công ty còn tham gia vào các dịch vụ tư vấn
7
khác nhau, thông qua việc nghiên cứu thị trường, phân tích thông tin và cung
cấp những phân tích đó cho các nhà đầu tư, giúp họ có những quyết định
giao dịch chính xác hơn, đồng thời tiết kiệm thời gian, công sức cho nhà đầu
tư nếu họ phải tự phân tích thị trường.
1.1.2.5 Tạo ra các sản phẩm mới
Khi thực hiện các chức năng của mình, các công ty chứng khoán cũng
tạo ra sản phẩm. Trong mấy năm gần đây, chủng loại chứng khoán đã phát
triển với tốc độ rất nhanh do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đóng góp
không nhỏ của các công ty chứng khoán.
Ngoài cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu, các công ty
chứng khoán hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ trung ương và địa
phương, chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền
chọn (điều này ở Việt Nam chưa có) và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác
phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh tế.
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị
trường chứng khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu
tư, các nhà phát hành, đối với cơ quan quản lý thị trường và đối với thị
trường chứng khoán nói chung. Để đảm bảo vai trò này, cần có sự xác định
mô hình, tổ chức công ty để từ đó xác định các hình thức kinh doanh cũng
như biện pháp quản lý công ty chứng khoán phù hợp.
1.1.3 Mô hình, tổ chức của công ty chứng khoán
1.1.3.1 Mô hình công ty chứng khoán
Hoạt động của công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp so với
các doanh nghiệp sản xuất và thương mại thông thường, vì vậy việc xác định
8
mô hình tổ chức kinh doanh của công ty chứng khoán cũng có nhiều điểm
khác nhau. Tuy nhiên có thể khái quát mô hình tổ chức kinh doanh của công
ty chứng khoán theo hai nhóm: mô hình công ty chứng khoán đa năng, và
mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh.
a) Mô hình công ty chứng khoán đa năng
Theo mô hình này, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức
một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính. Theo đó, các ngân hàng thương
mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và
kinh doanh tiền tệ. Mô hình này được biểu hiện dưới hai hình thức:
• Mô hình đa năng một phần: còn được gọi là mô hình ngân hàng
kiểu Anh, theo đó các ngân hàng muốn kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con, hạch
toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh
tiền tệ.
• Mô hình đa năng hoàn toàn: còn được gọi là mô hình ngân hàng
kiểu Đức, theo đó các ngân hàng được phép trực tiếp kinh
doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tiền tệ và
các dịch vụ tài chính khác.
Ưu điểm của mô hình đa năng là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh
vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và
có khả năng chịu đựng những biến động của thị trường chứng khoán. Mặt
khác, ngân hàng sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh
doanh chứng khoán.
Tuy nhiên, mô hình cũng có những hạn chế không giải quyết được.
Khi kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, sự chuyên môn hoá sẽ không sâu.
9
Thị trường cổ phiếu khó phát triển vì các ngân hàng thường cho vay hơn là
bảo lãnh phát hành. Ngoài ra, hoạt động ngân hàng và hoạt động chứng
khoán khó tách bạch rõ ràng, trong điều kiện môi trường pháp luật chưa thoả
đáng dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường. Các nguồn vốn cũng không
có sự tách biệt cần thiết giữa tiền tiết kiệm dân cư và vốn đầu tư chứng
khoán, khiến cho các biến động trên thị trường chứng khoán sẽ tác động
mạnh tới tình hình kinh doanh của ngân hàng.
Do có những hạn chế trên, hiện nay phần lớn các công ty chứng khoán
trên thế giới đều áp dụng mô hình chuyên doanh, chỉ có Đức vẫn duy trì mô
hình đa năng cho tới nay.
b) Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh
Mô hình chuyên doanh chứng khoán được áp dụng phổ biến từ sau
khủng hoảng thị trường tài chính 1929-1933. Theo mô hình này, hoạt động
kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong
lĩnh vực chứng khoán thực hiện, các ngân hàng không được tham gia kinh
doanh chứng khoán.
Mô hình này khắc phục được những hạn chế của mô hình đa năng,
giảm rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng
khoán đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy
thị trường phát triển.
Tuy nhiên, do xu thế thành lập các tập đoàn tài chính khổng lồ, một số
thị trường vẫn cho phép các công ty kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ,
bảo hiểm, chứng khoán, nhưng được tổ chức thành công ty mẹ, công ty con,
hoạt động tương đối độc lập với nhau.
1.1.3.2 Tổ chức của công ty chứng khoán
10
Hiện nay, có ba loại hình tổ chức cơ bản của công ty chứng
khoán: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
a) Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu trở lên.
Có hai loại thành viên tham gia công ty hợp danh: thành viên hợp
danh và thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh tham gia vào quá trình ra
quyết định quản lý, chịu trách nhiệm vô hạn về những nghĩa vụ tài chính của
công ty bằng toàn bộ tài sản của mình. Thành viên góp vốn không tham gia
điều hành công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về những khoản nợ của
công ty trong giới hạn vốn góp của mình vào công ty.
Thông thường khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị giới
hạn trong số vốn mà các thành viên có thể đóng góp.
Công ty hợp danh không được phép phát hành bất cứ một loại chứng
khoán nào.
b) Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
Thành viên của công ty TNHH chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp chỉ trong phạm vi số vốn đã cam kết
góp vào doanh nghiệp. Điều này có thể gây tâm lý nhẹ nhàng hơn đối với
người đầu tư.
Công ty TNHH có phương thức huy động vốn đơn giản và linh hoạt
hơn so với công ty hợp danh; đồng thời vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũng
năng động hơn.
Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu.
c) Công ty cổ phần
11
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập, với chủ sở hữu là các cổ
đông. Những cổ đông này chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Giấy chứng nhận
cổ phiếu thể hiện quyền lợi của người sở hữu nó đối với tài sản của công ty.
Công ty vẫn tồn tại khi quyền sở hữu của công ty thay đổi.
Đại hội cổ đông có quyền bầu Hội đồng quản trị công ty. Hội đồng
này sẽ định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các
chức vị quản lý khác để điều hành công ty theo các sách lược kinh doanh đã
đề ra.
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái
phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán hiện hành.
Những ưu điểm của công ty cổ phần:
• Công ty tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ
đông hoặc cổ đông nghỉ hưu hay qua đời.
• Rủi ro mà chủ sở hữu công ty phải chịu được hạn chế trong
phần vốn góp đã đầu tư vào công ty.
• Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua
bán cổ phiếu.
• Đối với công ty chứng khoán, nếu tổ chức theo hình thức công
ty cổ phần và niêm yết tại Sở giao dịch thì coi như được quảng
cáo miễn phí.
• Hình thức tổ chức quản lý, chế độ báo cáo và công bố thông tin
của công ty cổ phần tốt hơn hai hình thức trên.
Do những ưu điểm của loại hình công ty TNHH và công ty cổ phần so
với công ty hợp danh, hiện nay các công ty chứng khoán được tổ chức chủ
yếu dưới hình thức công ty TNHH và công ty cổ phần. Tuy nhiên, dù tổ
12
chức dưới hình thức nào thì các công ty cũng có những hoạt động tiêu biểu
của một công ty chứng khoán.
1.1.4 Hoạt động của công ty chứng khoán
Hoạt động của công ty chứng khoán có thể phân ra hoạt động nghiệp
vụ và hoạt động tài chính.
1.1.4.1 Hoạt động nghiệp vụ
a) Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
* Khái niệm:
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng
khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính khách
hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến
khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư
bán chứng khoán và nhà đầu tư mua chứng khoán.
* Chức năng:
Hoạt động môi giới chứng khoán có các chức năng:
• Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
- Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư, cung cấp cho
khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư.
- Nối liền người bán và người mua, đem đến cho khách hàng tất cả
các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
• Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết,
khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức, giúp khách hàng có
những quyết định tỉnh táo.
13
• Đề xuất thời điểm mua bán chứng khoán như một sự tham khảo
hợp lý cho khách hàng.
Có thể nói môi giới chứng khoán là một hoạt động quan trọng không
thể thiếu trong một công ty chứng khoán, mà bản chất, vai trò, nghiệp vụ
của môi giới chứng khoán sẽ được đề cập chi tiết hơn trong phần sau.
b) Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua
bán chứng khoán cho chính mình, bằng chính nguồn vốn kinh doanh của
công ty nhằm phục vụ mục đích đầu tư kinh doanh thu lợi cho công ty và
gánh chịu mọi rủi ro từ việc đầu tư của mình.
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiện
trên các thị trường giao dịch tập trung hay phi tập trung. Trên thị trường giao
dịch tập trung, lệnh giao dịch của công ty chứng khoán được đưa vào hệ
thống và thực hiện tương tự như lệnh giao dịch của các khách hàng. Trên thị
trường OTC, các hoạt động này có thể được thực hiện trực tiếp giữa công ty
với đối tác hoặc thông qua một hệ thống mạng thông tin.
Tại một số thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá, hoạt động tự
doanh của công ty chứng khoán được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập
thị trường (ví dụ như ở Mỹ). Lúc này, công ty chứng khoán đóng vai trò là
nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một
loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để
hưởng chênh lệch giá.
Mục đích của hoạt động tự doanh là thu lợi nhuận cho chính công ty
thông qua giao dịch mua bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này
hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vì vậy trong quá trình hoạt
động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa khách hàng và bản thân công ty.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét