§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định được các tham số thống kê của các tính trạng cơ bản về sinh
sản của lợn Móng Cái tổng hợp.
- Xác định được giá trị giống về tính trạng số con sơ sinh sống/ổ của
lợn Móng Cái tổng hợp.
- Xác định được mối tương quan di truyền giữa các lứa đẻ của lợn
Móng Cái tổng hợp
- Ước tính hiệu quả chọn lọc ở các thế hệ sau. Từ đó giúp cho quá trình
chọn lọc tính trạng số con sơ sinh sống/ổ nhanh và chính xác.
5
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LỢN MÓNG CÁI
Các giống vật nuôi địa phương đã được hình thành từ lâu đời trong
hoàn cảnh các nền sản xuất kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi với các tập
quán canh tác khác nhau của các vùng sinh thái Nông nghiệp khác nhau. Đặc
điểm chung của các giống địa phương thường là có hướng sản xuất kiêm dụng
vì vậy tầm vóc nhỏ, năng suất thấp. Tuy nhiên ưu điểm lớn nhất của các giống
địa phương là phù hợp với điều kiện sản xuất chăn nuôi, tận dụng điều kiện
thiên nhiên cũng như sản phẩm phụ của cây trồng, thích ứng với môi trường
khí hậu nóng ẩm, khả năng chống chịu bệnh tật cao.
Trước đây Móng Cái và Ỉ là 2 giống lợn chính được nuôi và phát triển
rộng rãi trong ngành chăn nuôi của miền Bắc và miền Trung nước ta.
Do đặc điểm sinh thái tốt nên từ những năm 1960 - 1970 lợn Móng Cái
lan nhanh ra khắp đồng bằng Bắc Bộ dẫn đến diện tích lợn Ỉ ngày càng thu
hẹp dần. Từ năm 1975 lợn Móng Cái được lan nhanh ra các tỉnh miền Bắc,
miền Trung và miền Nam.
2.1.1. Nguồn gốc lợn Móng Cái
Lợn Móng Cái là giống lợn phổ biến nhất của Việt Nam, có nguồn gốc
từ huyện Hà Cối, nay thuộc huyện Đầm Hà và Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
hiện nay được nuôi ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và một số tỉnh phía
Đông Bắc nước ta (Nguyễn Văn Đức, 2007).
2.1.2. Đặc điểm sinh học của lợn Móng Cái
Lợn Móng Cái thuộc lớp động vật có vú Maminalia, bộ guốc chẵn
Artiodactyla, thuộc họ Sllidae, chủng Sus, thuộc loài Sus domesticus (Nguyễn
Văn Đức 2007).
6
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
Lợn Móng Cái có ngoại hình đặc trưng: lông da có màu đen vá trắng.
Lưng và mông có dải đen hình yên ngựa (đây là đặc điểm ngoại hình nổi bật
nhất), da mỏng mịn, lông thưa và thô. Đầu to, đen, có đốm trắng ở giữa trán
hình tam giác hoặc hình thoi. Tai đen, nhỏ và nhọn. Miệng nhỏ dài, trắng, có
nếp nhăn to và ngắn ở miệng.
Giữa vai và cổ có một vành trắng cắt ngang kéo dài đến bụng và bốn
chân. Cổ to, ngắn. Ngực nở và sâu. Lưng dài hơi võng, bụng xệ nhưng tương
đối gọn so với lợn Ỉ, mông rộng và xuôi.
Bốn chân trắng, tương đối cao, thẳng, móng xoè.
Nhìn chung, lợn Móng Cái có khả năng sinh sản tốt hơn lợn Ỉ (đẻ 10 - 16
con/lứa), có từ 12 - 16 vú, tuổi phối lần đầu tiên có hiệu quả nhất từ 6 - 8 tháng,
số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ cao, trung bình từ 9 đến 11 con.
Khối lượng sơ sinh thấp: 0,5 - 0,6 kg và khối lượng cai sữa lúc 45 - 50 ngày:
5 - 6 kg/con. Số lứa đẻ khá cao, trung bình từ 1,9 - 2,1 lứa/năm. Lợn Móng
Cái có khả năng sinh sản kéo dài, cho 10 - 15 lứa/nái. Khả năng tăng khối
lượng 327g/ngày, lợn thịt có tốc độ tăng trọng 390 - 420g/ngày. Khả năng tiêu
tốn thức ăn 5,0 - 5,5 kg thức ăn/kg tăng trọng, tỉ lệ thịt nạc thấp 35 - 39%, độ
dày mỡ lưng cao.
Hiện nay, lợn Móng Cái chủ yếu được sử dụng làm nái nền lai với lợn
đực ngoại sản xuất lợn lai F1 nuôi thịt hoặc dùng làm nái trong các công thức
lai phức tạp.
2.2. MỘT SỐ TÍNH TRẠNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
Sinh sản là một trong những thuộc tính trọng yếu của sinh vật trong đó
có gia súc, đó là đặc trưng quan trọng bậc nhất để duy trì nòi giống và đảm
bảo cho sự tiến hoá của con vật. Ở gia súc nói chung và lợn nói riêng thì sinh
sản là một chức năng quan trọng mang ý nghĩa tái sản xuất phục vụ đời sống
con người. Chính vì vậy sinh sản là một trong những tính trạng được người
7
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
chăn nuôi hết sức chú ý, với mục đích làm sao trong thời gian ngắn nhất gia
súc sinh sản được nhiều nhất, đàn con sinh ra có sức sống cao nhất nhằm thu
lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là các tính
trạng số lượng. Tính trạng số lượng là những tính trạng mà sự sai khác nhau
giữa các cá thể, là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác nhau về
chủng loại và như C.Darwin đã chỉ rõ: sự sai khác nhau này chính là nguồn
vật liệu trong chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo.
Tính trạng số lượng còn được gọi là tính trạng đo lường vì sự nghiên
cứu của chúng phụ thuộc vào đo lường chứ không phải là đếm. Tuy nhiên có
những tính trạng mà giá trị của chúng có được bằng cách đếm như: số lượng
lợn con đẻ ra trong một lứa, vẫn được coi là tính trạng số lượng, đó là
những tính trạng số lượng đặc biệt.
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái thực tế người ta thường dùng
các chỉ tiêu sinh sản sau:
- Tuổi phối giống lần đầu
- Tuổi đẻ lứa đầu
- Khoảng cách giữa các lứa đẻ
- Số con sơ sinh sống/ổ
- Khối lượng sơ sinh
- Số con cai sữa
- Khối lượng cai sữa
2.2.1. Tuổi phối giống lần đầu
Tuổi phối giống lần đầu là số ngày tính từ khi lợn cái đó được sinh ra
cho đến ngày được phối giống lần đầu tiên. Đơn vị tính là ngày. Thông
thường ta chọn lợn nái phối lần đầu vào chu kì động dục lần thứ hai hoặc lần
thứ ba, tuổi phối lần đầu sớm hay muộn đều ảnh hưởng tới tuổi đẻ lứa đầu.
8
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
2.2.2. Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lứa đầu là số ngày tính từ khi lợn cái đó được sinh ra cho đến
ngày lợn cái đẻ lứa đầu tiên. Đơn vị tính là ngày. Đây cũng chính là tuổi phối
giống có kết quả cộng với thời gian mang thai.
Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi phối giống lần
đầu, kết quả phối giống, thời gian mang thai và từng giống lợn khác nhau. Đối
với lợn nái nội tuổi đẻ lứa đầu thướng sớm hơn so với lợn ngoại do tuổi thành
thục về tính dục ngắn hơn.
2.2.3. Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là khoảng thời gian hình thành một chu kì
sinh sản. Bao gồm: thời gian chửa, thời gian nuôi con, thời gian chờ động dục
lại sau cai sữa và phối giống. Nói cách khác, khoảng cách lứa đẻ là số ngày
tính từ ngày đẻ lứa này đến ngày đẻ lứa tiếp theo. Đơn vị tính là ngày.
Nếu thời gian nuôi con và thời gian chờ động dục lại sau cai sữa ngắn
thì rút ngắn khoảng cách giữa các lứa đẻ, từ đó tăng số lứa đẻ/nái/năm. Như
vậy hiệu quả sử dụng lợn nái càng cao.
2.2.4. Số con sơ sinh sống/ổ
Đây là chỉ tiêu kinh tế, kĩ thuật rất quan trọng, nó nói lên khả năng đẻ
nhiều hay ít con của giống, nói lên kĩ thuật chăm sóc lợn nái có chửa và kĩ
thuật thụ tinh của dẫn tinh viên. Trong công tác giống lợn, tính trạng số lượng
được quan tâm nhất là số con sơ sinh sống/ổ đối với loại tính trạng sinh sản.
Vì vậy tính trạng này được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu
nhiều nhất vì đó là thành phần chính của hiệu quả kinh tế trong ngành chăn
nuôi lợn. Vì là tính trạng số lượng nên do nhiều kiểu gen điều khiển, mỗi gen
đóng góp một mức độ nhất định vào cấu thành năng suất. Giá trị kiểu hình
9
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
của tính trạng này có sự phân bố liên tục và chịu tác động nhiều bởi yếu tố
ngoại cảnh (Falconer,1993).
Lợn là loài động vật đa thai, nên tính trạng số con sơ sinh sống/ổ được
dùng làm chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái.
Số con sơ sinh sống/ổ là tổng số lợn con còn sống trong vòng 24 giờ kể
từ khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng của lứa đó. Đơn vị tính là con. Theo
quan điểm về hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn nái, năng suất sinh sản của
đàn lợn nái giống được xác định bởi chỉ tiêu số con cai sữa/ổ và số lợn con cai
sữa/nái/năm. Để có số con cai sữa/ổ và số lợn con cai sữa/nái/năm lớn thì số
con sơ sinh sống/ổ phải cao. Ngoài ra, tính trạng khối lượng cai sữa toàn ổ
cũng đóng góp đáng kể vào hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái. Khối
lượng cai sữa toàn ổ càng cao, hiệu quả kinh tế càng lớn. Muốn có khối lượng
cai sữa toàn ổ cao, số con sơ sinh sống/ổ phải lớn. Như vậy tính trạng số con
sơ sinh sống/ổ là tính trạng năng suất sinh sản quan trọng nhất góp phần vào
viếc quyết định số con cai sữa/ổ và số lợn con cai sữa/nái/năm.
2.2.5. Khối lượng sơ sinh/con
Khối lượng sơ sinh là khối lượng của một lợn con đẻ ra còn sống được
cân lúc lợn con chưa bú sữa đầu. Đơn vị tính là kg. Chỉ tiêu này nói lên khả
năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và
phòng bệnh cho lợn nái chửa ở một số cơ sở chăn nuôi.
2.2.6. Số con cai sữa/ổ
Số con cai sữa/ổ là số lợn con do chính nái đó nuôi còn sống cho đến
khi cai sữa mẹ (45 - 50 ngày với lợn Móng Cái). Đơn vị tính là con. Chỉ tiêu
này đánh giá khả năng nuôi con của lợn nái, kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng
đàn lợn con của cơ sở chăn nuôi. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra…
10
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
2.2.7. Khối lượng cai sữa
Khối lượng cai sữa là số khối lượng của lợn con được tính từ lúc sinh
cho đến khi cai sữa. Đơn vị tính là kg.
2.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH TRẠNG SINH SẢN
2.3.1. Yếu tố di truyền
Giống là quần thể vật nuôi đủ lớn trong cùng 1 loài, có một nguồn gốc
chung, có một số đặc điểm chung về hình thái và ngoại hình, sinh lí và năng
suất sinh vật học, khả năng chống chịu bệnh, đồng thời có thể truyền đạt các
đặc điểm đó cho đời sau (Nguyễn Văn Thiện, 1995). Tất cả các chức năng
trong cơ thể động vật đều chịu sự điều khiển của yếu tố di truyền để đạt đến
mức lớn hơn hay bé đi. Đồng thời các tính trạng sinh sản đều chịu ảnh hưởng
trực tiếp của yếu tố di truyền. Với giống khác nhau thì yếu tố di truyền cũng
ảnh hưởng đến các tính trạng sinh sản là khác nhau.
Để phân tích đặc tính di truyền của quần thể phải phân chia giá trị kiểu
hình thành các phần khác nhau tuỳ theo tính chất của chúng. Giá trị đo lường
được của tính trạng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình của cá thể đó.
Sự phân chia đầu tiên của giá trị kiểu hình là sự phân chia nó thành các
thành phần có thể bị ảnh hưởng của kiểu gen và môi trường. Quan hệ trên biểu
thị như sau:
P = G + E
Trong đó: P là giá trị kiểu hình, G là giá trị kiểu gen và E là sai lệch môi trường.
Giá trị G có thể phân thành giá trị cộng gộp của các gen (A), giá trị trội
của các gen (D) và giá trị át gen (I). Giá trị E gồm hai thành phần là sai lệch
môi trường chung (Eg) và sai lệch môi trường đặc biệt hay sai lệch môi
trường riêng (Es).
Tóm lại, khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai lôcut trở
lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị bằng:
P = A + D + I + Eg + Es
11
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
2.3.2. Yếu tố ngoại cảnh
Ngoài yếu tố di truyền, yếu tố ngoại cảnh cũng gây ảnh hưởng lớn đến
các tính trạng sinh sản.
Ảnh hưởng của năm đẻ: năm đẻ ảnh hưởng rõ rệt đến các tính trạng
năng suất sinh sản. Năm đẻ ảnh hưởng rõ rệt nhất đến các tính trạng như số con sơ
sinh sống/ổ, khối lượng sơ sinh/con, số con cai sữa/ổ, khối lượng cai sữa/ổ.
Ảnh hưởng của lứa đẻ: yếu tố lứa đẻ có ảnh hưởng rất lớn đến tính
trạng số con/ổ. Nhiều nghiên cứu đã đưa ra kết luận số con/lứa tăng dần từ lứa
đẻ thứ 1 đến lứa thứ 4 - 5 sau đó giảm dần đến lứa thứ 8 - 9. Một số nghiên
cứu cho rằng khi tuổi thụ thai lần đầu tăng thì số con ở lứa đầu tiên cũng tăng.
Lợn nái đẻ lứa thứ nhất có số con/lứa ít hơn nái đẻ từ lứa thứ hai trở đi, điều
này có thể do tỉ lệ rụng trứng tăng lên từ lứa thứ hai.
Ảnh hưởng của mùa vụ: Ở Việt Nam, do điều kiện thời tiết thay đổi
theo mùa nên ảnh hưởng đến khối lượng của lợn con. Ví dụ lợn con đẻ vào
mùa đông có khối lượng sơ sinh và cai sữa cao hơn các mùa khác trong năm.
Ảnh hưởng của đực phối: Vị trí ô chuồng nuôi lợn đực, thời điểm phối
giống và phương thức phối giống thích hợp là nguyên nhân làm tăng khả năng
sinh sản của lợn nái. Nếu vị trí ô chuồng lợn đực được bố trí xen kẽ với các ô
lợn nái hậu bị thì sẽ kích thích tuổi thành thục về tính sớm hơn và làm tăng tỉ
lệ thụ thai. Tuy nhiên việc lạm dụng lợn đực cũng làm giảm khả năng sinh sản
của lợn nái. Vì vậy, vị trí ô chuồng lợn đực và thời gian nghỉ ngơi một cách
hợp lí là biện pháp để nâng cao số con sơ sinh sống/ổ.
Bên cạnh một số nhân tố cố định đó, năng suất sinh sản của lợn còn
chịu những yếu tố khác như: dinh dưỡng, chuồng trại, bệnh tật và ngoại cảnh
xã hội…
Ảnh hưởng của nhân tố dinh dưỡng: thức ăn là nguồn cung cấp dinh
dưỡng, năng lượng cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể, nó đóng vai trò
quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Lợn nái
12
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
sau cai sữa có thể động dục bình thường hay động dục chậm đều phụ thuộc
vào chế độ dinh dưỡng trong thời kì nuôi con. Nhiều nghiên cứu đã kết luận
rằng với khẩu phần ăn hạn chế trong thời kì mang thai và ăn tự do trong thời
kì nuôi con thì lợn nái sẽ cho năng suất tốt hơn. Cần chú ý dinh dưỡng đối với
lợn nái ở 3 tuần đầu và 3 tuần cuối, vì 3 tuần cuối khối lượng thai tăng lên rất
nhanh nên cần nhiều dinh dưỡng. Tuy nhiên nếu tăng hàm lượng năng lượng
và prôtêin trong khẩu phần ăn của lợn nái sẽ làm cho lợn nái chóng béo, ảnh
hưởng xấu đến năng suất sinh sản.
Ảnh hưởng của nhân tố chuồng trại và ngoại cảnh xã hội: phương thức
chăn nuôi không phù hợp, điều kiện chăn nuôi không đảm bảo, chuồng trại
không sạch sẽ, quy mô đàn quá lớn, trình độ chuyên môn không được nâng
cao, phương thức chăn nuôi yếu kém,… tất cả đều ảnh hưởng đến năng suất
sinh sản của lợn nái.
Ảnh hưởng của yếu tố bệnh tật: bệnh sẽ làm giảm khả năng sinh sản của
lợn nái: mất khả năng thụ thai, số con sơ sinh sống/ổ ít, số con sơ sinh chết
tăng Ở vùng có độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh
phát triển. Nếu hệ thống chuồng trại không đảm bảo, công tác phòng bệnh và
kiểm tra chưa tốt thì bệnh dịch sẽ lây lan và làm mất khả năng sinh sản của
lợn nái. Và điều này ảnh hưởng rõ rệt nhất với quy mô lớn - trong chăn nuôi
công nghiệp.
2.4. GIÁ TRỊ GIỐNG
Giá trị giống của một cá thể là một đại lượng biểu thị khả năng truyền
đạt các gen từ bố mẹ cho đời con. Vì các gen quy định tính trạng số lượng rất
nhiều, do đó người ta không thể biết được một cách thật chính xác giá trị
giống của một cá thể nào đó. Trong thực tế, người ta chỉ có thể xác định được
giá trị gần đúng của chúng từ các nguồn thông tin khác nhau và được gọi là
giá trị giống ước lượng hay giá trị giống dự đoán.
13
§å ¸n tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng - KN 901
Giá trị giống được Galconer D.S định nghĩa như sau: “Giá trị giống của
một con vật chính là năng suất trung bình của các con cái của nó. Nếu một
con vật được phối ngẫu nhiên với nhiều con khác trong quần thể thì giá trị
giống của nó được tính bằng hai lần mức chênh lệch của nhóm con của nó so
với giá trị trung bình của quần thể. Sở dĩ phải nhân lên gấp đôi vì nó chỉ đóng
góp một nửa số gen cho thế hệ con cái. Giá trị giống có thể được thể hiện
bằng giá trị tuyệt đối, nhưng thông thường được thể hiện bằng mức độ chênh
lệch so với trung bình quần thể. Chính vì thế chúng ta không thể nói về giá trị
giống của một con giống mà không nói đến quần thể cụ thể của nó”.
Giá trị giống của từng giống được thể hiện bởi kiểu gen thông qua kiểu
hình với sự tác động của môi trường.Vì thế, giá trị giống của 1 con vật là
thước đo cân bằng về khả năng di truyền từ vốn gen của bố mẹ cho đời sau.
Chọn lọc qua đánh giá giá trị giống sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Qua đánh giá giá trị giống về tính trạng sinh sản sẽ xác định được những
cá thể ưu tú để chọn, giữ lại, bổ sung vào đàn hạt nhân ở thế hệ sau. Nhờ đó
con giống luôn luôn được cải thiện chất lượng và tăng năng suất qua từng thế hệ.
2.4.1. Nguồn thông tin trong ước lượng giá trị giống
Giá trị giống của một con vật là thước đo về khả năng truyền lại vốn
gen của nó cho đời sau. Chúng ta chưa biết chính xác con vật đó mang gen gì
và mang bao nhiêu gen, vì vậy không đánh giá đúng giá trị giống của nó, mà
chỉ xác định được giá trị giống ước lượng thông qua một số nguồn thông tin:
Năng suất của bản thân cá thể con vật về tính trạng đó hoặc các tính trạng
khác. Nếu một tính trạng được xác định đo được nhiều lần, số liệu thu được
của cá thể đó có thể bao hàm nhiều số đo lặp lại đối với tính trạng đó như: số
con/ổ, khối lượng con/ổ,…
Năng suất của anh chị em thân thuộc của con vật về tính trạng đó hoặc
các tính trạng khác. Năng suất của các cá thể đời sau của con vật về tính trạng
đó hoặc các tính trạng khác. Năng suất của tổ tiên con vật.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét