LuËn v¨n tèt nghiÖp
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1. Bản chất của hoạt động xuất khẩu lao động.
1.1 Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là một lực lượng bao gồm toàn bộ lao động trong xã hội, không
phân biệt về trình độ, tay nghề, Nam nữ, tuổi tác.
Hoặc nguồn nhân lực còn được hiểu là một bộ phận của dân số, bao gồm những
người có việc làm và những người thất nghiệp.
1.1.2 Khái niệm nguồn lao động.
Nguồn lao động là một bộ phận của dân cư, bao gồm những người đang ở trong độ
tuổi lao động, không kể mất khả năng lao động, và bao gồm những người ngoài độ
tuổi lao động
(1)
.
1.1.3 Khái niệm nhân lực.
Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, nó bao gồm cả thể lực và trí lực.
1.1.4 Khái niệm lao động.
Lao động là hoạt động có chủ đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những
những vật thể tự nhiên phù hợp với lợi ích của mình. Lao động còn là sự vận động của
sức lao động trong quá trình tạo ra của cải, vật chất và tinh thần, là quá trình kết hợp
giữa sức lao động và tư liệu sản xuất.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
6
1.1.5 Khái niệm sức lao động.
Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình lao động
tạo ra của cải, vật chất, tinh thần cho xã hội.
1.1.6 Khái niệm việc làm.
Việc làm là một hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc
tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho những người trong cùng hộ gia đình.
1.1.7 Khái niệm xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động: (Export of Labour), được hiểu như là công việc đưa người lao
động từ nước sở tại đi lao động tại nước có nhu cầu thuê mướn lao động.
Lao động xuất khẩu: (Labour Export), là bản thân người lao động, có những độ tuổi
khác nhau, sức khỏe và kỹ năng lao động khác nhau, đáp ứng được những yêu cầu của
nước nhập khẩu lao động.
Như trên đã đề cập, việc các nước đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo
nghĩa rộng tức là tham gia vào quá trình di dân quốc tế và nó phải tuân theo hoặc là
Hiệp định giữa hai quốc gia, hoặc là phải tuân theo Công ước quốc tế, hoặc thông lệ
quốc tế, tùy theo từng trường hợp khác nhau mà nó nằm ở trong giới hạn nào.
Như vậy, việc di chuyển lao động trong phạm vi toàn cầu bản thân nó cũng có
những biến dạng khác nhau. Nó vừa mang ý nghĩa xuất khẩu lao động, vừa mang ý
nghĩa của di chuyển lao động. Do đó, đã phát sinh ra vấn đề sau:
1.1.8 Khái niệm thị trường.
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ.
1.1.9 Khái niệm thị trường lao động.
(1)
Trên, dưới độ tuổi lao động (từ 16 – 55 đối với Nữ, 16 – 60 đối với Nam).
LuËn v¨n tèt nghiÖp
7
Thị trường lao động là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường trong nền
kinh tế thị trường phát triển. Ở đó diễn ra quá trình thoả thuận, trao đổi, thuê mướn
lao động giữa hai bên, bên sử dụng và bên cho thuê lao động.
1.1.10 Khái niệm thị trường lao động trong nước.
Thị trường lao động trong nước là một loại thị trường, trong đó mọi lao động đều
có thể tự do di chuyển từ nơi này đến nơi khác, nhưng trong phạm vi biên giới của
một quốc gia.
l.1.11 Khái niệm thị trường lao động quốc tế.
Thị trường lao động quốc tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường thế
giới, trong đó lao động từ nước này có thể di chuyển từ nước này sang nước khác
thông qua Hiệp định, các Thoả thuận giữa hai hay nhiều quốc gia trên thế giới.
1.2 Sự hình thành và phát triển của thị trường hàng hoá sức lao động quốc tế.
Do sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển kinh tế – xã hội, cũng như
sự phân bố không đồng đều về tài nguyên, dân cư, khoa học công nghệ giữa các vùng,
khu vực và giữa các quốc gia, dẫn đến không một quốc gia nào lại có thể có đầy đủ,
đồng bộ các yếu tố cần thiết cho sản xuất và phát triển kinh tế.
Để giải quyết tình trạng bất cân đối trên, tất yếu sẽ dẫn đến việc các quốc gia phải
tìm kiếm và sử dụng những nguồn lực từ bên ngoài để bù đắp một phần thiếu hụt các
yếu tố cần thiết cho sản xuất và phát triển kinh tế của đất nước mình.
Thông hường, các nước xuất khẩu lao động đều là những quốc gia kém hoặc đang
phát triển, dân số đông, thiếu việc làm ở trong nước hoặc có thu nhập thấp, không đủ
để đảm bảo cho cuộc sống của gia đình và cho chính bản thân người lao động. Nhằm
khắc phục tình trạng khó khăn này, buộc các nước trên phải tìm kiếm việc làm cho
người lao động của nước mình từ bên ngoài. Trong khi đó, ở những nước có nền kinh
tế phát triển thường lại có ít dân, thậm chí có những nước đông dân nhưng vẫn không
LuËn v¨n tèt nghiÖp
8
đủ nhân lực để đáp ứng nhu cầu sản xuất do nhiều nguyên nhân: Công việc nặng
nhọc, nguy hiểm và độc hại… nên không hấp dẫn họ, dẫn tới thiếu hụt lao động cho
sản xuất. Để có thể duy trì và phát triển sản xuất, bắt buộc các nước này phải đi thuê
lao động từ các nước kém phát triển hơn, có nhiều lao động dôi dư và đang có khả
năng cung ứng lao động làm thuê.
Vậy là đã xuất hiện nhu cầu trao đổi giữa một bên là những quốc gia có nguồn lao
động dôi dư với một bên là các nước có nhiều việc làm, cần thiết phải có đủ số lượng
lao động để sản xuất. Do đó vô hình chung đã làm xuất hiện (Cung – Cầu): Cung, đại
diện cho bên có nguồn lao động, còn Cầu đại diện cho bên các nước có nhiều việc
làm, đi thuê lao động. Điều này cũng đồng nghĩa với việc đã hình thành lên một loại
thị trường, đó là thị trường hàng hoá lao động quốc tế.
Khi lao động được hai bên mang ra thoả thuận, trao đổi, thuê mướn, lúc này sức lao
động trở thành một loại hàng hoá như những loại hàng hoá hữu hình bình thường
khác. Như vậy, sức lao động cũng là một loại hàng hoá khi nó được đem ra trao đổi,
mua bán, thuê mướn và khi đã là một loại hàng hoá thì hàng hoá sức lao động cũng
phải tuân theo những quy luật khách quan của thị trường: Quy luật cung – cầu, quy
luật giá cả, quy luật cạnh tranh… như những loại hàng hoá hữu hình khác.
Như đã phân tích ở trên, cho thấy: Để có thể hình thành thị trường lao động xuất
khẩu trước hết phải xuất phát từ những nhu cầu trao đổi hoặc thuê mướn lao động
giữa bên cho thuê lao động và bên đi thuê lao động. Thực chất, khi xuất hiện nhu cầu
trao đổi, thuê mướn lao động giữa quốc gia này với quốc gia khác, là đã hình thành
lên hai yếu tố cơ bản của thị trường, đó là cung và cầu về lao động. Như vậy là thị
trường hàng hoá sức lao động quốc tế đã được hình thành từ đây.
Trong điều kiện hội nhập phát triển đời sống kinh tế như hiện nay, quan hệ cung –
cầu không còn bị bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, biên giới của một nước chỉ còn
ý nghĩa hành chính, còn quan hệ này ngày càng diễn ra trên phạm vi quốc tế, mà trong
đó bên Cung đóng vai trò là bên xuất khẩu và Cầu sẽ đại diện cho bên nhập khẩu lao động.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
9
1.3 Sự cần thiết khách quan và vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát
triển kinh tế – xã hội của Việt Nam.
1.3.1 Sự cần thiết khách quan phát triển hoạt động xuất khẩu lao động.
Thực tế cho thấy, nước ta là một quốc gia đông dân khoảng hơn 80 triệu người.
Theo số liệu thống kê năm 1998 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, nước ta có
khoảng 40 triệu người đang ở độ tuổi lao động, hàng năm tăng thêm 1,1 triệu lao động
và hiện nay là 1,2 triệu lao động/năm, chiếm 3% trong tổng số lực lượng lao động.
Riêng lao động kỹ thuật cao chúng ta có khoảng 5 triệu chiếm khoảng 12,5%, trong
đó lao động có trình độ Đại học, Cao đẳng là 23% khoảng 1.150.000 người. Bên cạnh
đó, hiện có khoảng 9,4 triệu lao động thiếu việc làm, chiếm 23,5% lực lượng lao
động. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực đô thị đã giảm
liên tục từ 10% năm 1991 xuống còn 5,88% năm 1996 nhưng đến năm 1998 tỷ lệ này
lại nhích lên 6,85%
(1)
và lại tiếp tục giảm nhẹ xuống còn 6,28% vào năm 2001. Tỷ lệ
sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn cũng có xu hướng tăng lên từ 72,1%
năm 1996 lên 74,4% vào năm 2001.
Với tình trạng tốc độ phát triển nguồn lao động nêu trên, mâu thuẫn giữa lao động
và việc làm ngày càng trở nên gay gắt đối với nền kinh tế. Nếu không giải quyết một
cách hài hoà và có những bước đi thích hợp giữa mục tiêu kinh tế và xã hội sẽ dẫn tới
mất ổn định nghiêm trọng về mặt xã hội. Cùng với hướng giải quyết việc làm trong
nước là chính, xuất khẩu lao động là một định hướng chiến lược tích cực quan trọng,
lâu dài, cần phải được phát triển lên một tầm cao mới, phù hợp với vai trò của nó. Đó
cũng là xu hướng chung mà nhiều nước xuất khẩu lao động đã quan tâm phát triển từ
nhiều thập kỷ trước đây.
Để giải quyết được vấn đề này, xuất khẩu lao động đã trở thành một lĩnh vực cứu
cánh cho bài toán giải quyết việc làm không những của Việt Nam mà còn đối với cả
LuËn v¨n tèt nghiÖp
10
hầu hết các nước xuất khẩu lao động trong khu vực và trên thế giới, vì đây là lĩnh vực
đạt được liền lúc cả hai mục tiêu kinh tế – xã hội: vừa đảm bảo mục tiêu giải quyết
công ăn việc làm, vừa tạo nguồn thu ngoại tệ mạnh để phát triển kinh tế xã hội trong
nước.
1.3.2 Vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển Kinh tế – Xã hội của
Việt Nam.
Với tư cách là một lĩnh vực hoạt động kinh tế, cần phải được xem xét, đánh giá các
mặt hiệu quả tích cực mà xuất khẩu lao động đã mang lại. Một khi nhận thức đúng
đắn về hiệu quả của xuất khẩu lao động, cùng với việc vạch ra các chỉ tiêu, xác định
nó là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá hiện trạng và chỉ ra các phương hướng cũng
như các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đưa lao động đi làm việc có
thời hạn ở nước ngoài.
Thông thường, hiệu quả nói chung, thường được biểu hiện qua hiệu số giữa kết quả
đạt được và chi phí. Tuy nhiên, trong nền kinh tế xã hội, mỗi kết quả thường có đồng
thời cả hai mặt đó là mặt kinh tế và mặt xã hội. Hiệu quả kinh tế được tính theo công
thức trên, còn hiệu quả xã hội lại được hiểu như những kết quả tích cực so với mục
tiêu. Khi đánh giá về vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế, xã
hội của Việt Nam trong những năm trước đây và hiện tại, không một ai có thể phủ
nhận những gì mà xuất khẩu lao động Việt Nam đã đóng góp. Xuất khẩu lao động
không những vừa đạt được mục tiêu về kinh tế, mà còn đạt được cả mục tiêu về xã
hội.
Về mục tiêu Kinh tế.
Trong khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế chưa lâu, kinh tế nước ta còn gặp vô vàn
những khó khăn, mọi nguồn lực còn eo hẹp, thì việc hàng năm chúng ta đưa hàng vạn
lao động ra nước ngoài làm việc, đã mang về cho đất nước hàng tỷ USD/năm từ hoạt
(1)
Do tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực năm 1997.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
11
động xuất khẩu lao động. Đây quả là một số tiền không nhỏ đối với những quốc gia
đang phát triển như chúng ta.
Về mục tiêu xã hội.
Mặc dù còn có những hạn chế nhất định so với tiềm năng, song xuất khẩu lao động
Việt Nam trong những năm qua, bước đầu đã đạt được những thành công nhất định về
mục tiêu kinh tế - xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Trước hàng loạt những khó khăn và gánh nặng thất nghiệp và thu nhập của người
lao động trong nước, cùng với các biện pháp tìm kiếm và tạo công ăn, việc làm trong
nước là chủ yếu thì xuất khẩu lao động đã trở thành một trong những ngành kinh tế
quan trọng, góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập cho hàng vạn lao động mỗi
năm, đồng thời làm giảm sức ép về việc làm và tạo sự ổn định xã hội ở trong nước…
1.4 Quy trình xuất khẩu lao động.
Trong mỗi một giai đoạn, xuất khẩu lao động đều có một quy trình xuất khẩu riêng,
phù hợp với tính chất của từng giai đoạn. Trong thời kỳ đầu (1980 – 1990), quy trình
xuất khẩu lao động được thực hiện chủ yếu trêu cơ sở Hiệp Định được ký kết giữa hai
Chính phủ, thoả thuận ngành với ngành. Cơ chế xuất khẩu lao động dựa trên mô hình
nhà nước trực tiếp ký kết và tổ chức thực hiện đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài, các doanh nghiệp không trực tiếp tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng, đồng
thời các công đoạn cũng ít phức tạp hơn… Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay quy
trình xuất khẩu lao động Việt Nam đã có nhiều thay đổi, các doanh nghiệp phải tự vận
động tìm kiếm và xúc tiến xuất khẩu lao động. Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong
việc đàm phán cấp cao chứ không đóng vai trò chủ đạo như trước kia. Do vậy, xuất
khẩu lao động Việt Nam hiện tại chủ yếu được thực hiện theo các bước sau đây:
Về phía Nhà nước.
Nhà nước chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc hướng
dẫn, tư vấn và đưa hợp tác lao động vào các chương trình làm việc, đàm phán cấp cao
LuËn v¨n tèt nghiÖp
12
giữa hai chính phủ với các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới có khả năng
tiếp nhận lao động Việt Nam.
Về phía doanh nghiệp xuất khẩu lao động.
- Chủ động tìm kiếm thị trường.
- Đàm phán ký thoả thuận (hợp đồng).
- Tuyển chọn lao động.
- Đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động.
+ Ngoại ngữ, kỷ luật lao động.
+ Phong tục, tập quán nước đến.
+ Nội dung hợp đồng.
+ Quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động.
- Tổ chức khám tuyển.
- Đưa lao động đi.
- Quản lý lao động ở nước ngoài.
- Tiếp nhận lao động trở về và thanh lý hợp đồng.
- Tái xuất (nếu pháp luật của nước tiếp nhận cho phép và doanh nghiệp đó yêu
cầu).
Sơ đồ Quy trình xuất khẩu lao động Việt Nam trong giai đọan hiện nay:
xem Phụ lục số (1).
1.5 Kinh nghiệm xuất khẩu lao động ở một số quốc gia trên thế giới.
1.5.1 Tình hình xuất khẩu lao động trên thế giới.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập nền kinh tế, sự cạnh tranh ngày càng trở nên
khốc liệt, hàng loạt các nước thuộc Châu Á có lao động xuất khẩu, từ nhiều thập kỷ
trở lại đây đều đưa ra những chính sách phát triển và ít nhiều đã tạo dựng được nền
tảng vững chắc và thành công bước đầu, đặc biệt là các nước xuất khẩu lao động:
Banglades, Ấn Độ, Pakistan, Srilanka, Indonesia, Philippin, Thailand, Trung Quốc….
LuËn v¨n tèt nghiÖp
13
hàng năm nhờ vào giá nhân công thấp, các nước xuất khẩu lao động Châu Á tìm mọi
cơ hội để cạnh tranh với chính các nước cùng xuất khẩu lao động trong khu vực cũng
như các nước khác trên thế giới và kết quả là hàng năm có hàng triệu lao động từ các
nước này được đưa đi làm việc ở nước ngoài và đem về cho đất nước mình một lượng
ngoại tệ khổng lồ. Trong những năm 80, Việt Nam ta có khoảng gần 300.000 lao
động làm việc tại các nước Đông Âu, Liên xô, Iraq và một số nước thuộc Châu Phi
khác. Trong những năm gần đây, lao động Việt Nam đưa đi ngày một tăng và tương
đối ổn định, trung bình khoảng 30.630 lao động/năm
(1)
.
Các nước phát triển: Anh, Pháp, Canada, Đức… cũng không đứng ngoài cuộc,
phần lớn họ đưa lao động ra nước ngoài làm việc chủ yếu là các chuyên gia để thu
ngoại tệ cho đất nước, đồng thời mỗi năm họ cũng vẫn tiếp nhận hàng vạn lao động từ
các nước khác đến làm việc.
1.5.2 Kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á về xuất khẩu lao động.
Cơ chế quản lý và chính sách xuất khẩu lao động đã được quy định rất rõ ràng
trong bộ luật lao động năm1973 đối với Philppin và 1985 đối với Thái Lan. Bộ luật
này đã tạo cơ sở cho việc xúc tiến mạnh mẽ xuất khẩu lao động dư thừa cho tới khi
nền kinh tế trong nước có thể tự đáp ứng hết số người đến tuổi lao động.
Để thực hiện được các mục tiêu đó, Chính phủ Philippin và Thai Lan đã có những
biện pháp quản lý đặc biệt và đã gặt hái được những thành công quan trọng trong
những năm qua.
1.5.2.1 Philippin:
Thành lập 3 cơ quan chuyên trách, độc lập thuộc Bộ Lao động và việc làm:
- Ban phát triển việc làm ngoài nước: chịu trách nhiệm quản lý mọi hoạt động về
tuyển mộ và bố trí lao động trên đất liền.
(1)
Số liệu được tính bình quân từ năm 1996 đến tháng 10 năm 2003
.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
14
- Hội đồng thuỷ thủ quốc gia: chịu trách nhiệm về quản lý mọi hoạt động của các
doanh nghiệp tuyển mộ thuỷ thủ đi làm việc trên biển.
- Văn phòng dịch vụ việc làm: chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi các tổ chức
tuyển dụng đã được cấp giấy phép trong việc bố trí việc làm ngoài nước cho đến khi
kết thúc hợp đồng.
Chính phủ Philippin thực hiện quản lý các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân
bằng một cơ quan quản lý duy nhất là Cục Quản lý việc làm ngoài nước. Cơ quan này
chịu trách nhiệm về phát triển thị trường và cấp giấy phép, giám sát các doanh nghiệp
đã được cấp giấy phép. Hỗ trợ người lao động trước khi đi lao động ở nước ngoài, tại
nơi làm việc và sau khi lao động về nước.
Nhằm thực hiện tốt các nhiện vụ trên, Chính phủ Philippin đã quy định tất cả việc
thuê mướn, tuyển dụng lao động Philippin phải thông qua Cục Quản lý việc làm ngoài
nước hoặc công ty tuyển mộ được cấp phép, phải tổ chức đào tạo và huấn luyện cho
người lao động trước khi đi. Cho phép xuất khẩu cả những lao động có trình độ đặc
biệt, thành lập các quỹ lao động, quảng cáo và tổ chức đăng ký nguồn
(1)
nhưng phải
nói rõ nguồn và không được thu lệ phí của người lao động đến tuyển. Chính phủ
Philippin cũng quy định: Đối với các doanh nghiệp muốn được cấp giấy phép xuất
khẩu lao động phải có giấy phép đăng ký kinh doanh, đồng thời phải có khả năng về
tài chính, có tài sản thế chấp từ 12.500USD trở lên, phải nộp một khoản tiền đặt cọc
5000USD, phải nộp một khoản tiền bảo lãnh là 7.500USD và lệ phí xin cấp giấy phép
300USD cùng với đơn xin cấp giấy phép. Giấy phép có giá trị trong vòng 24 tháng kể
từ ngày cấp và có thể gia hạn bằng với thời gian giá trị giấy phép. Giấy phép phải
được tuân thủ theo các điều kiện sau:
- Không được phép chuyển nhượng, giấy phép được cấp cho loại lao động nào thì
chỉ được phép tuyển loại lao động đó. Những thay đổi về nhân sự, trụ sở giao dịch,
phải báo cáo và được sự chấp thuận của Cục Việc làm ngoài nước.
Chính phủ Philippin cũng đã có những quy định hết sức chặt chẽ trong việc đảm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét