Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam

Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
thành thu nhập không tương xứng với năng suất. Và là động lực thúc đẩy đổi
mới.
Tuy nhiên bên cạnh những tích cực đó, cạnh tranh cũng gây ra nhiều hạn
chế khó khăn.
1.1.3. Những hạn chế do cạnh tranh gây ra
Như chúng ta đã nhận thấy ở trên, cạnh tranh có rất nhiều tác động tích
cực đến kinh tế – xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các nước đều cố
gắng duy trì cơ chế cạnh tranh trong nền kinh tế. Có thể coi cạnh tranh là động
lực thúc đẩy tăng trưởng và tiến bộ kỹ thuật. Do vậy, cạnh tranh tạo điều kiện để
tăng trưởng, để có cuộc sống khá hơn.Mặt này chúng ta không thể phủ nhận và
không thể được loại bỏ. Nhưng mặt khác, cạnh tranh cũng gây ra nhiều tác động
tiêu cực. Cụ thể, có những tác động chính sau:
Cạnh tranh là cản trở mục tiêu công bằng xã hội . cạnh tranh là điều kiện
đem lại hiệu quả của họat động kinh tế. Mà nâng cao hiệu quả họat động kinh tế
là phương sách tốt nhất để giúp cải thiện cuộc sống. Nhưng không phải vì thế mà
không quan tâm đên xây dựng công bằng xã hội. Bởi vì, xét cho cùng sản xuất
nói chung, tăng trưởng nói riêng là nhằm mục đích tối vao phục vụ cuộc sống
con người theo hướng tốt đẹp hơn. Mọi sự tăng trưởng không chỉ cùng muc tiêu
phục vụ con người, sớm hay muộn cũng bị loại bỏ. Lịch sử của các cuộc chiến
tranh và diễn biến đàm phán vũ khí hạt nhân hiện nay là những ví dụ hùng hồn
chứng minh điều đó. Trong khi đó, cạnh tranh nmang bản chất là kẻ mạnh thắng
kẻ yếu, người may mắn thắng kẻ rủi ro, người thông minh thắng kẻ khờ khạo…
Cạnh tranh đối lập với sự hợp tác giúp đỡ, do vậy cơ chế cạnh tranh khong dung
hòa trong nó sự công bằng cho những kẻ có thế lực, điểm xuất phát và lợi thế
khác nhau. Chính vì thế ở các nước Tư Bản phát triển, Nhà nước một mặt
khuyến khích cạnh tranh để tìm kiếm hiệu quả, mặt khác, phải có một cơ chế trợ
cấp, từ thiện nào đó để giúp đỡ người thất nghiệp, người nghèo nhằm tránh xảy
5
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
ra xung đột gay gắt và mất ổn định xã hội do quá mất công bằng tạo ra. Bên cạnh
đó, luật pháp không bao giờ có thể đảm bảo không có kẽ hở cho cạnh tranh
không lành mạnh tồn tại. để có được lợi thế hơn trong cạnh tranh, các tổ chức
kinh doanh có tiềm lực tài chính mạnh có thể dùng đồng tiền đê làm sai lệch luật
pháp, lái luật pháp đi theo hướng có lợi cho mình, thậm chí tha hoá, vô hiêụ hoá
các cá nhân, tổ chức có ảnh hưởng đến quá trinhf lập pháp và hành pháp. Ngoài
ra các tổ chức kinh doanh có thể sẽ lợi dụng những kẽ hở của luật pháp để kinh
doanh. luật pháp Nhà nước chỉ được xây dựng đồng bộ, đầy đủ nhưng vẫn còn
những kẽ hở, Ở lĩnh vực nào thiếu luật hoặc luật chưa hoàn thiện thì ỏ đó xuất
hiện tình trạng tiêu cực hay “luật rừng”. Khi văn bản luật chồng chéo, không
đồng bộ thì các doanh nghiệp tìm kiếm cách thức tạo ra lợi nhuận, lợi thế nhằm
tháo gỡ khó khăn để doanh nghiệp vươn lên ( các thủ đoạn thường thấy nhất là
lợi dụng sơ hở trong luật thuế, hay trong nghiệp vụ ngân hàng và thế chấp, cho
vay, bảo hiểm…). Những thủ đoạn này dễ thấy nhất ở các quốc gia vừa mới
bứơc vào nền kinh tế thị trường với một hành lang pháp lý còn lỏng lẻo.
Cạnh tranh một tác nhân tác động đến sự phân hoá giàu nghèo tương đối
trong xã hội. Tuỳ thuộc vào năng lực quản lý, vào công nghệ và nhiều yếu tố
biến đổi khác, luôn có hiện tượng một số doanh nghiệp khá lên, một số doanh
nghiệp kém hơn, một số doanh nghiệp khác có nguy cơ phá sản thực sự. Có
nghĩa là sẽ có người mất điều kiện có thu nhập và có người thu nhập nhiều hơn.
Như vậy, cạnh tranh làm sâu sắc hơn sự khác biệt về thu nhập giữa những người,
những tầng lớp, những giới có năng lực, điều kiện và cơ hội khác nhau. Đôi khi
nó tạo a cả sự chênh lệch rất lớn giữa người mất hết và người được cả.
Cạnh tranh có thể dẫn đến độc quyền kinh doanh. Độc quyền trong kinh
doanh là việc một doanh nghiệp hay một tập đoàn kinh tế với những điều kiện
kinh tế, chính trị, xã hội nhất định khống chế thị trường sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ. Đó là ước mơ của hầu hết các doanh nghiệp. Tất cả các
doanh nghiệp đều ước muốn tồn tại và phát triển mà không phải đương đầu với
6
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
các đối thủ cạnh tranh khác. Độc quyền trong kinh doanh thường gây ra những
hậu quả tiêu cực đối với nên kinh tế quốc dân. Nó là nhân tố kìm hãm động lực
phát triển của nên kinh tế. Bởi lẽ, với thế độc quyền, người sản xuất không cần
quan tâm đến cải tiến kỹ thuật, công nghệ sản xuất và phương thức quản lý mà
vẫn thu được lợi nhuận đặc biệt cao. Độc quyền trong kinh doanh sẽ dẫn đến
hình thành giá cả độc quyền, giá cả lũng đoạn cao, làm ảnh hưỏng đến lợi ích
của người tiêu dùng. Độc quyền trong kinh doanh là yếu tố hạn chế tự do kinh
doanh và văn minh thương mại.
Cạnh tranh là một nguyên nhân làm tăng ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt
tài nguyên thiên nhiên. Cạnh tranh là động lực của đổi mới. Nó thúc đẩy những
thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất. Cùng với những ứng dụng này làm
cho các doanh nghiệp, các ngành phát triển rất nhanh cả về quy mô, phạm vi, tốc
độ và cơ cấu. Năng suất lao động ngày càng cao. Hàng loạt những ngành mới ra
đời. Điều này dẫn đến việc khai thác sử dụng tài nguyên với một khối lượng lớn
hơn trứơc đó rất nhiều lần, làm cho nguồn tài nguyên trở nên cạn kiệt. Cùng với
đó là lượng chất thải từ sản xuất và tiêu dùng ngày càng tăng lên, mứ độ ô nhiễm
môi trường càng trở nên trầm trọng. Trong khi cạnh tranh, các chủ thể kinh tế
thường vì lợi ích trước mắt mà khai thác sử dụng tài nguyên không hợp lý, thậm
chí khai thác bừa bãi. Bên cạnh đó, do chỉ tập trung vào những lợi ích phát triển
kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của mình trên thị trường,
các chủ thể kinh tế tìm mọi cách giảm chi phí, tăng lợi ích cho mình nên họ ít
quan tâm đến việc tăng cường xử lý chất thẩi để bảo vệ môi trường.
Mặc dù những hạn chế trên, nhữn những lợi ích to lớn mà nó mang lại,
cùng với những lý do khác, cạnh tranh trở thành tất yếu trong cơ chế thị trường
không những đối với từng doanh nghiệp, mà còn đối với từng ngành, từng quốc
gia, khu vực. Do đó vấn đề đặt ra đối với mỗi quốc gia là làm sao vừa duy trì cơ
chế cạnh tranh trong nền kinh tế, vừa nâng cao vị thế của mình trên thị trường
7
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
quốc tế trong thời đại kinh tế hội nhập hiện nay. Đồng thời có biện pháp khắc
phục được những tiêu cực của cạnh tranh.
1.1.4. Cạnh tranh – Tất yếu trong cơ chế thị trường
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là
năng lực phát triển của kinh tế thị trường. Trên góc độ doanh nghiệp, trong kinh
tế thị trường, cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp. Điều kiện duy
nhất duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường là doanh nghiệp đó phải
có những vị thế nhất định, chiếm lính những phần thị trường nhất định. Sự tồn
tại của doanh nghiệp luôn bị các đối thủ khác bao vây. Vì vậy, để tồn tại trong
thị trường doanh nghiệp luôn phải vận động biến đổi với tốc độ ít nhất là ngang
bằng với đối thủ của mình. Trên thực tế ta thấy rõ những thập kỷ vừa qua, thế
giới kinh doanh sống trong môi trường biến động không ngừng, mà mà những
giao động của nó làm cho các nhà kinh tế phải ngạc nhiên, mọi dự đoán đều
không vượt quá năm năm. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, các
quốc gia tăng nhanh. Hầu hết các thị trường đều được quốc tế hoá. Chỉ có những
doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh mới có thể tồn tại trong thị trường này. Vì
vây, cạnh tranh là vấn đề tất yếu đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường. Nếu không có khả năng cạnh tranh thì sớm muộn sẽ bị đối thủ tiêu diệt.
Trên góc độ quốc gia, việc duy trì cơ chế cạnh tranh sẽ là động lực thúc
đẩy các doanh nghiệp trong nước đầu tư vốn cho sản xuất kinh doanh, cải tiến
đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý. Từ đó nâng cao năng lực sản xuất
trong toàn xã hội. Đồng thời, nó hướng việc sử dụng các nhân tố sản xuất vào
những nơi có hiệu quả nhất, tạo ra hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực xã hội.
Cạnh tranh cũng tác động tích cực tới phân phối thu nhập. Do đó, cạnh tranh là
điều kiện để nâng cao hiệu quả của họat động kinh tế, cải thiện đời sống nhân
dân.
8
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
Trong thời đại thị trường được quốc tế hoá hiện nay, và cạnh tranh là điều
kiện để thị trường trong nước ngày càng phát triển. Tạo ra sự thu hút đối với các
nhà đầu tư nước ngoài vào kinh doanh. Đây là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh
tế quốc gia. Đồng thời, việc các nhà đầu tư nước ngoài vào kinh doanh sẽ gây ra
ấp lực lớn đối với các doanh nghiệp trong nước. Mục đích của các nhà đầu tư
nước ngoài là lợi nhuận. Do vậy họ sẽ tìm mọi cách để loại bỏ đối thủ của mình
để thu được nhiều lợi nhuận nhất, các doanh nghiệp trong nước muốn tồn tại và
phát triểnbuộc phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Đó cũng là hy vọng
của quốc gia, bởi khi các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh được với các
doanh nghiệp nước ngoài thì sẽ đem lại nhiều lợi ích cho quốc gia. Đồng thời
cũng tránh được nguy cơ các nhà đàu tư nước ngoài chi phối thị trường và do đó
có thể chi phối các quyết định chính sách của Chính phủ. Bên cạnh đó, các
doanh nghiệp trong nước cần vươn ra thị trường quốc tế, làm cho sản phẩm của
mình cạnh tranh đựơc trên thị trường này, từ đó đẩy mạnh xuất khẩu tăng lợi ích
cho quốc gia.
Sau đây chúng ta sẽ xem xét cạnh tranh trên góc độ cụ thể hơn. Đó là cạnh
tranh sản phẩm.
1.2. Khả năng canh tranh của sản phẩm
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh của sản phẩm
Sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất, là nỗ lực sản xuất của doanh
nghiệp, và nó là cái mà doanh nghiệp hy vọng sẽ đem lại lợi ích cho mình. Các
doanh nghiệp luôn mong muốn sản phẩm của mình tìm được chỗ đứng trên thị
trường, được khách hàng chấp nhận.
Chữ tín của sản phẩm quyết định chữ tín của doanh nghiệp và tạo lợi thế
có tính quyết định trong cạnh tranh. Như vậy, muốn sản phẩm của mình có khả
năng cạnh tranh thì doanh nghiệp cần xây dựng chữ tín cho bsản phẩm đó.
9
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
Có thể hiểu khái quát khả năng cạnh tranh của sản phẩm là khả năng giành
dật được lợi thế về thị phần so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Cụ thể hơn, khả năng cạnh tranh của sản phẩm là khả năng tạo ra những
lợi thế so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trong việc đáp ứng các đòi hỏi của
thị trường, và được thị trường chấp nhận.
Do tính chất quyết định của sản phẩm đối với sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Không còn cách nào khác đối với doanh nghiệp là phải tìm mọi
biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm mình. Chúng ta sẽ xem
xét một số mặt chủ yếu đánh giá nỗ lực của doanh nghiệp trong việc nâng cao
khả năng cạnh tranh cuả sản phẩm.
1.2.2. Tiêu thức đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm thường được đánh giá thông qua các
tiêu thức chủ yếu sau:
Chất lượng sản phẩm: Là một trong những nhân tố quan trong nhất quyết
định khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Tuỳ theo từng sản phẩm khác nhau với
các đặc điểm khác nhau mà chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm khác nhau.
Nếu tạo ra nhiều lợi thế cho chỉ tiêu này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành
thắng lợi trong cạnh tranh trên thị trường. Nếu sự chênh lệch về chất lượng sản
phẩm giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh trạnh lớn hơn chênh lệch về các yếu tố
khác thì khách hàng sẽ đến với sản phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn so vơi đối
thủ cạnh tranh. Vì sản phẩm của doanh nghiệp đem lại niều lợi ích hơn cho
người tiêu dùng. Khi đó, việc chiếm được một phần thị trường lớn nằm trong khả
năng của doanh nghiệp.
Bao bì của sản phẩm cũng là một trong những công cụ cạnh tranh trong
kinh doanh. Đặc biệt là đối với những sản phẩm có giá trị sử dụng cao hoặc
lương thực thực phẩm. Cùng với việc thiết kế bao bì cho phù hợp, doanh nghiệp
còn phải lựa chọn cơ cấu sản phẩm cho phù hợp. Cơ cấu thường thay đổi theo sự
10
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
thay đổi cảu thị trường. Đặc biệt là những cơ cấu có xu hướng phù hợp với ngươì
tiêu dùng. Bao bì hiện nay khồn chỉ có chức năng bảo vệ sản phẩm, tạo ra sự
thuận tiện trong việc bảo quản sử dụng mà còn có chức năng marketing. Nó giúp
cung cấp thông tin về sản phẩm, về doanh nghiệp, là công cụ để gây sự chú ý của
khách hàng, kích thích tiêu thụ, tạo uy tín và ấn tượng cho sản phẩm của doanh
nghiệp. Khi sản phẩm của doanh nghiệp tạo ra được những lợi thế trên so với đối
thủ cạnh tranh thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ có ưu thế trong cạnh tranh.
Nhãn mác, uyb tín cảu sản phẩm là một công cụ dùng để đánh trực tiếp
vào trực giác của người tiêu dùng. Doanh nghiệp xây dựng được uy tín về hình
ảnh, nhãn mác của mình trên thị trường thì doanh ngiệp sẽ thu hút được người
tiêu dùng về phía mình và họ sẽ tìm mua những sản phẩn của doanh nghiệp. Do
vậy, sản phẩm của doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao.
Giá là một trong những yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến khả năng cạnh
tranh của sản phẩm. Nếu như chênh lệch về giá giữa doanh nghiệp và đối thủ
cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp so
với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại lợi ích cho người tiêu dùng
lớn hơn đối thủ cạnh tranh . Vì lẽ đó, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ ngày càng
chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và cũng có nghĩa là sản phâmr của
doanh nghiệp có vị thế cạnh tranh ngày càng cao. Tuy nhiên, để đạt được mức
giá thấp doanh nghiệp cần phải xem xét khả năng hạ giá sản phẩm của đơn vị
mình. Có càng hiều khả năng hạ giá sẽ có nhiều lợi thế so với đối thủ cạnh tranh.
Khả năng hạ giá phụ thuộc vào các yếu tố: Chi phí về kinh tế thấp, khả năng bán
hàng tốt, do đó khối lượng hàng bán lớn, khả năng về tài chính.
Hệ thống kênh phân phối và bán hàng cũng có vai trò quan trọng trong
cạnh tranh. Khả năng đa dạng hoá các kênh phân phối phù hợp với sự đa dạng
của cơ cấu sản phẩm tạo ra hiệu quả cao trong tiêu thụh sản phẩm. Việc phân
định đâu là kênh phân phối chủ lực có ý nghĩa trong việc quyết định trong việc
tối thiểu hoá chi phí giành cho tiêu thụ sản phẩm. Đối với các doanh nghiệp sử
11
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
dụng các đại lý độc quyền thì việc tìm được các doanh nghiệp thương mại làm
đại lý cho doanh nghiệp có đủ sức chi phối được lượng bán hàng trong kênh trên
thị trường có ý nghĩa rất quan trọng, cũng như việc có được kênh phân phối chủ
đạo, chiếm tỷ lệ chính trong tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm của mình đối với các doanh
nghiệp sử dụng nhiều kênh phân phối và trực tiếp quản lý các kênh phân phối.
Doanh nghiệp cũng có thể nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của mình
nếu thành lập được hệ thống bán hàng phong phú, hiện đại, có khả năng kết dính
các kênh phân phối với nhau, có khả năng hợp tác giữa những người bán hàng
trên thị trường, có các dịch vụ trước và sau bán hàng hơp lý, kết hợp hợp lý giữa
phương thức bán và phương thức thanh toán sao cho đảm bảo lợi ích của người
bán và người mua, người tiêu dùng tốt nhất và công bằng nhất.
Tính độc đáo của sản phẩm. Mọi sản phẩm khi xuất hiện trên thị trường
đều mang một chu kỳ sống nhất định, đặc biệt “ vòng đời” của nó sẽ rut ngắn khi
xuất hiện cạnh tranh. Để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, các doanh nghiệp
dùng nhiều biện pháp trong đó có biện pháp thường xuyên cải tiến mọi mặt cảu
sản phẩm, tạo ra nét độc đáo riêng, liên tiếp tuung ra thị trường những sản phẩm
mới thay thế sản phẩm cũ. Sự thay đổi thường xuyên mẫu mã, nhãn hiệu hàng
hoá cũng như việc không ngừng nâng cao chất lượng, tính năng sản phẩm sẽ tạo
điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trước các đối thủ
cạnh tranh.
Ngoài ra, còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản
phẩm mà doanh nghiệp cần phải chú ý để có biện pháp hữu hiệu nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Không thiếu những lý giải về khả năng cạnh tranh cũng như những yếu tố
quyết định của cạnh tranh dẫn đến thành công hay thất bại ở một số doanh
nghiệp, một số ngành, một số các quốc gia. Các yếu tố tác động đến khả năng
12
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
cạnh tranh của sản phẩm có phạm vi rất rộng. Tuy nhiên, thông thường có các
nhân tố chủ yếu sau:
Năng suất lao động. Đây là yếu tố phản ánh trình độ trang bị kỹ thuật công
nghệ cho sản xuất. Nếu máy móc thiết bị được trang bị hiện đại, trình độ tay
nghề của công nhân cao phù hợp với trình độ máy móc thiết bị và có trình độ tổ
chức quản lý tốt thì công việc quản lý kinh doanh sẽ suôn sẻ, năng suất lao động
sẽ cao, tạo ta được nhiều lợi thế so với đối thủ, khẳng định khả năng cạnh tranh
của sản phẩm trên thị trường. Để đạt được điều đó cần phải kết hợp nhuần
nhuyễn cả ban yếu tố trên. Thiếu một trong ba yếu tố đó ( máy móc thiết bị, lao
động và tổ chứ quản lý ) thì khó đạt được một sức cạnh tranh có thể chiến thắng
trên thị trường.
Bối cảnh kinh tế vĩ mô ( khi chúng ta xem xét cạnh tranh quốc tế ). Các
thiết chế chính trị và luật pháp xác lập bôi cảnh tỏng thể. Môi trường chính tị ổn
định và thiết chế chính rị vưng chắc là những điều kiện tiên quyết đối với cạnh
tranh. Các chính sách kinh tế vĩ mô như vai trò hạn chế của Chính phủ trong nền
kinh tế, sự mở cửa các thị trường quốc tế thúc đẩy thị trường trong nước phát
triển. Tuy nhiên, sự vững chắc của các yếu tố trên vẫn chưa đủ để đảm bảo cho
sự cạnh tranh. Vì vậy, muốn có sự gia tăng bền vững trong năng suất và cạnh
tranh chúng ta phải xem xét cách thức mà năng suất có thể được nâng cao trong
doanh nghiệp cũng như ở cấp độ ngành.
Họat động và chiến lược của doanh nghiệp. Họat động hiệu quả là cái đầu
tiên và cơ bản nhất quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh
đó, là phải có chiến lược hợp lý nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh hiệu quả cho sản
phẩm. Hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại xu hướng cạnh tranh dựa trên lợi thếa
lao động rẻ tiền và các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Kết quả của nó là năng suất
thấp. Vì vậy, muốn nâng cao cạnh tranh, chúng ta cần có sự thay đổi về chiến
lược. Lợi thế phải chuyển từ lợi thế so sánh sang lợi thế cạnh tranh dựa trên năng
lực đổi mới của các doanh nghiệp và khả năng của chúng trong việc nâng cấp
hoặc thay đổi các sản phẩm và quy trình.
13
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thép Việt Nam
Sự linh họat: Yếu tố này biểu hiện sự nhạy bén của lãnh đạo doanh nghiệp.
Muốn thàng công trong cạnh tranh thì doanh nghiệp ( hay ngành ) phải chủ đọng
dự đoán được những biến động của thị trường, đi trước đối thủ cạnh tranh trong
việc đáp ứng những thay đổi nhu cầu đó. Không chỉ thế, doanh nghiệp cần phải
đưa ra những loại sản phẩm mới thay thế sản phẩm của đối thủe cạnh tranh, thậm
chí phải thường xuyên thay đổi chủng loại sản phẩm của chính mình theo xu
hướng ngày càng tốt hơn về chất lượng rẻ hơn về giá thành.
Vị thế của doanh nghiệp ( ngành ) trên thị trường: Biểu hiện ở thị phần mà
doanh nghiệp chiếm lĩnh, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, bạn hàng,
thậm chí là cả với đối thủ cạnh tranh. Đây là tái sản vô hình đặc biệt quan trọng.
Nó tạo ra lợi thế to lớn cho doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh. Nếu doanh
nghiệp có ưu thế hơn đối thủ ở trên thị trường thì doanh nghiệp càng có khả năng
mở rộng được thị phần, nâng cao doanh số, tăng lợi nhuận.
Những nhân tố trên có tác động rất lớn đến việc tạo ra lợi thế cạnh tranh
cho sản phẩm của doanh nghiệp ( hay ngành nào đó ).
CHƯƠNG 2
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH HIỆN TẠI CỦA SẢN PHẨM
THÉP VIỆT NAM
Thép không phải là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển của nước
ta trong 10 năm tới. Song, Thép là một ngành công nghiệp nặng quan trọng của
nên kinh tế quốc dân, đóng vai trò lớn trong quá trình công nghiệp hoá đất nước.
Do đó, chính sách đầu tư phát triểnm ngành Thép rất đáng quan tâm và phải
được tính toán lỹ, có luận cứ khoa học và thực tiễn để vừa đảm bảo cho ngành
Thép phát triển vừa tránh được những rủi ro lớn đối với nền kinh tế đất nước sau
này.
Xuất phát từ vấn đề đó, chúng ta cần xem xét khả năng cạnh tranh hiện
nay của sản phẩm Thép Việt Nam so với các nước khác trên thế giới, tìm ra
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét