Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

486 Những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng tại Sở giao dịch II Ngân hàng Đầu tư &Phát triển Việt Nam

Trang 5/73


Đứng trước tình hình đó, việc nghiên cứu và ứng dụng các mô hình thành công vào
điều kiện của Việt nam là điều rất cần thiết. Cho đến nay, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về lónh vực hoạt động ngân hàng như : “Lê Hữu Bình (2003), Nhận diện
và xử lý những rủi ro nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các Ngân hàng
Thương mại Việt nam trong quá trình hội nhập, trường ĐHKT TP.HCM”, “Phạm
Văn Hoàng Phong (2003), Một số biện pháp mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ
phát triển kinh tế xã hội trên đòa bàn tỉnh Sóc Trăng, trường ĐHKT TP.HCM”,
“Chu Thò Hoàng (1999), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Sở
Giao dòch 2 Ngân hàng Công Thương Việt Nam, trường ĐHKT TP.HCM”, “Nguyễn
Văn Phúc (1998), Một số biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của Ngân hàng
Thương mại Việt Nam, trường ĐHKT TP.HCM”… với nhiều hình thức và khía cạnh
khác nhau. Các công trình nghiên cứu trong thời gian qua đã thể hiện tương đối đầy
đủ bức tranh chung của hoạt động ngành ngân hàng ở Việt nam và trong từng thời
kỳ đó việc nghiên cứu đã có những đóng góp nhất đònh trong lý luận chung cũng
như việc áp dụng trong thực tiễn.
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế là một vấn đề thời sự, mà đối với
riêng ngành ngân hàng đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và
toàn diện, cũng như chưa có một chuẩn mực chung làm cơ sở cho các ngân hàng áp
dụng trong thực tiễn. Một số nội dung nghiên cứu của đề tài này trước đây cũng đã
được nghiên cứu, tuy nhiên với cách tiếp cận, phân tích và đánh giá một cách hệ
thống, mang tính khoa học. Đề tài này hy vọng sẽ góp phần như một tài liệu tham
khảo và có thể vận dụng vào thực tiễn đối với một số ngân hàng trong điều kiện
cạnh tranh ngày càng gay gắt.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án :
Thông qua công trình nghiên cứu, người nghiên cứu có điều kiện hệ thống hóa lại
những kiến thức đã học để từ đó ứng dụng vào một đối tượng doanh nghiệp cụ thể.
Đây cũng là bước đầu trong việc làm quen và xử lý các tình huống quản trò khi tiếp
cận với thực tế. Đồng thời, qua đó đúc kết được những kinh nghiệm trong việc giải
quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế sau này.
Từ việc đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội, nguy cơ và so sánh với các đối
thủ cạnh tranh trong hoạt động của một doanh nghiệp, qua đó đưa ra các mục tiêu,
đònh hướng chiến lược phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp.
Trên cơ sở tổng kết về lý luận, thực tiễn và đánh giá đúng đắn thực trạng hoạt
động của doanh nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, làm tiền đề thực tiễn cho việc đổi mới và
Trang 6/73


hoàn thiện một số cơ chế, chính sách của nhà nước trong quá trình vận dụng trong
nền kinh tế thò trường.
4. Phương pháp nghiên cứu :
Là một đề tài khoa học và mang tính ứng dụng thực tiễn nên trong quá trình nghiên
cứu chủ yếu dựa vào các phương pháp nghiên cứu sau để giải quyết những vấn đề
được đặt ra trong đề tài :
i. Phương pháp hệ thống
ii. Phương pháp thống kê
iii. Phương pháp so sánh, tổng hợp
iv. Phương pháp quy nạp, suy diễn …
5. Ý nghóa của luận án :
Đánh giá khả năng cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại (NHTM) Việt nam
có ý nghóa vô cùng quan trọng trong đònh hướng phát triển của các ngân hàng này
trong tiến trình hội nhập. Việc nhận thức đúng vò thế cạnh tranh của các NHTM
Việt nam, sẽ giúp cho các ngân hàng trong hoạt động Marketing hướng tới nâng
cao vò thế để chiếm lónh thò trường, làm cho sản phẩm dòch vụ của các ngân hàng
thích ứng với nhu cầu của thò trường, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày nay, thông qua việc đánh
giá thực trạng để từ đó ngân hàng cần hình thành những chính sách và những chiến
lược phù hợp. Do vậy, một số nội dung nghiên cứu trước đây, đến nay có thể không
còn phù hợp, cần phải được điều chỉnh, thay đổi.
6. Cái mới của luận án :
Cái mới của luận án là vừa kết hợp một số nội dung cũ trước đây đã được phân tích
với việc kết hợp một số lý luận mới, được hệ thống lại một cách hợp lý và khoa
học. Một số điểm mới đó là việc phân tích môi trường bên trong và bên ngoài,
phân tích các điểm mạnh yếu, cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp, từ đó đề ra các
giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Với cách tiếp cận, phân tích và đánh
giá một cách hệ thống, mang tính khoa học, hy vọng đề tài này sẽ là một sự đóng
góp mang đầy ý nghóa khoa học và thực tiễn.
7. Kết cấu của luận án : ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu
tham khảo, nội dung của luận án chia làm 3 chương, 7 tiết như sau :
Trang 7/73


1. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
Chương 1 : Lý luận chung về hoạt động ngân hàng và các lý thuyết cạnh tranh trong
nền kinh tế thò trường.
1.1 Vai trò, chức năng và qui trình tín dụng.
1.2 Lý thuyết về cạnh tranh trong nền kinh tế thò trường.
1.3 Những kinh nghiệm trong lónh vực hoạt động tín dụng ngân hàng.
Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng tại Sở giao dòch 2 Ngân hàng Đầu tư &
Phát triển Việt nam
2.1 Tình hình hoạt động của các ngân hàng trên đòa bàn TP.HCM.
2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng tại Sở giao dòch 2 Ngân hàng Đầu tư &
Phát triển Việt nam.
Chương 3 : Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín
dụng tại Sở giao dòch 2 Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt nam
3.1 Những đònh hướng, mục tiêu trong hoạt động tín dụng tại Sở giao dòch
2 Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt nam.
3.2 Các giải pháp và kiến nghò nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt
động tín dụng tại Sở giao dòch 2 Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt
nam.
C. Phần kết luận
D. Danh mục tài liệu tham khảo







Trang 8/73


B. PHẦN NỘI DUNG


CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC
LÝ THUYẾT CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.2 Vai trò, chức năng và qui trình tín dụng
1.1.1 Đònh nghóa Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại (NHTM) có một lòch sử hình thành tồn tại và phát triển
hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của
hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của
nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn
cao nhất của nó – Kinh tế thò trường – thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện
và trở thành những đònh chế tài chính không thể thiếu được.
NHTM là loại ngân hàng trực tiếp giao dòch với các công ty, xí nghiệp, tổ chức
kinh tế, cơ quan đoàn thể và các cá nhân … bằng việc nhận tiền gửi tiết kiệm, cho
vay và cung cấp các dòch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.
Như vậy : “ NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu và thường
xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền
đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.

Cá Nhân,
Công Ty,
Xí Nghiệp,
Tổ Chức

Ngân hàng
Thương mại
Xí Nghiệp,
Cty, Hộ
Gia Đình,
Cá Nhân ,
Tổ Chức
Nhận tiền gửi
Tiết kiệm
Cho vay
Ccấp Dvụ NH

Có thể nói rằng NHTM là đònh chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc
nhất trong nền kinh tế thò trường. Nhờ hệ thống đònh chế này mà các nguồn tiền
vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho
vay.
1.1.2 Tín dụng Ngân hàng :
Trang 9/73


Tín dụng là gì : khó có thể đưa ra một đònh nghóa rõ ràng về tín dụng. Vì vậy tuỳ
theo góc độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác đònh nội dung của thuật ngữ này.
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực
tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghóa khác nhau; ngay cả
trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một
nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghóa khác
nhau :
+ Xét trên góc độ chuyển dòch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp
chuyển dòch quỹ từ người cho vay sang người đi vay. Phổ biến hơn cả là
giao dòch giữa ngân hàng và các đònh chế tài chính khác với các doanh
nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp
tiền vay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất đònh người đi vay phải
thanh toán vốn gốc và lãi.
+ Tín dụng còn có nghóa là một số tiền cho vay mà các đònh chế tài chính
cung cấp cho khách hàng.
Trong những năm 1960 trở về trước hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho
vay bằng tiền. Từ những năm 1970 trở lại đây, cho thuê vận hành và cho thuê tài
chính đã được các ngân hàng hoặc các đònh chế tài chính khác cung cấp cho khách
hàng. Đây là một sản phẩm kinh doanh của ngân hàng, một hình thức tín dụng
bằng tài sản thực (nhà ở, văn phòng làm việc, máy móc thiết bò …).
1.1.3 Vai trò của tín dụng :
- Tín dụng thúc đẩy quá trình vận động tập trung vốn và kòp thời đáp ứng nhu cầu
về vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên tục đồng thời góp phần đầu tư
phát triển kinh tế.
- Tín dụng là công cụ tài trợ, đầu tư cho các ngành kinh tế then chốt, ngành mũi
nhọn, hỗ trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển.
- Tín dụng góp phần tác động tới việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế trong
xí nghiệp, tổ chức kinh tế.
- Tín dụng Ngân hàng có ý nghóa quyết đònh thời cơ kinh doanh của các doanh
nghiệp và cũng là hoạt động chủ yếu đảm bảo kết quả kinh doanh và hiệu quả
của Ngân hàng.
- Tín dụng Ngân hàng góp phần giảm chi phí lưu thông nâng cao hiệu quả vốn
tiền tệ; đồng thời đẩy nhanh lưu thông tiền tệ.
Trang 10/73


1.1.4 Chức năng của tín dụng :
- Chức năng tập trung và phân phối lại vốn nhàn rỗi trên nguyên tắc hoàn trả cả
vốn và lãi, tín dụng là một sự vận động vốn từ những chủ thể tạm thời thừa vốn
sang những chủ thể tạm thời thiếu vốn nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất và
tiêu dùng. Chính sự vận động này các chủ thể nhận tín dụng cũng có nghóa là
nhận một phần tài nguyên của xã hội biểu hiện bằng trạng thái vật chất và
trạng thái tiền tệ. Đặc biệt chức năng tập trung và phân phối vốn của tín dụng
không chỉ liên quan đến tổng thu nhập quốc dân mà còn liên quan đến tổng sản
phẩm xã hội.
- Chức năng tạo điều kiện và lưu thông tiền tệ, góp phần tiết kiệm được tiền mặt
và chi phí lưu thông xã hội. Thông qua tín dụng, Ngân hàng Trung ương
(NHTW) của mỗi quốc gia đưa tiền vào lưu thông và rút tiền ra khỏi lưu thông.
Khi nghiệp vụ được thực hiện bằng chuyển khoản hay bằng kì phiếu thì tín dụng
góp phần tiết kiệm giấy bạc ngân hàng, thay thế tiền thực trong quan hệ mua
bán chòu hàng hóa.
- Kiểm soát bằng đồng tiền đối với mọi hoạt động của nền kinh tế. Thông qua
việc cho vay vốn, các Ngân hàng đã kiểm soát được khả năng hoạt động của
các xí nghiệp giúp các xí nghiệp sử dụng đồng vốn có hiệu quả nhất, đồng thời
giúp Nhà nước xác đònh được nhu cầu vay vốn của nền kinh tế và mức độ phát
triển của nó.
1.1.5 Qui trình tín dụng
- Thiết lập và thực hiện qui trình tín dụng là một bộ phận căn bản của quản trò
ngân hàng. Làm tốt công việc này sẽ góp phần đáng kể trong việc hạn chế rủi
ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
- Mỗi ngân hàng, mỗi loại cho vay có qui trình tín dụng riêng. Tuy nhiên, một qui
trình tín dụng hợp lý phải bao gồm các giai đoạn cơ bản sau : lập hồ sơ xin cấp
tín dụng; phân tích tín dụng; quyết đònh tín dụng; giải ngân; giám sát và thanh lý
tín dụng. Mỗi giai đoạn của qui trình đều có các phương pháp quản trò, các thủ
tục, chứng từ thích ứng với loại cho vay và điều kiện cụ thể của mỗi ngân hàng.
- Qui trình là tổng hợp các nguyên tắc, các qui đònh trong việc cấp tín dụng, được
thực hiện liên tục theo trình tự nhất đònh, kể từ khi chuẩn bò hồ sơ đề nghò cấp
tín dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng. Việc xây dựng qui trình tín
dụng hợp lý sẽ góp phần hạn chể rủi ro và nâng cao hiệu quả tín dụng. Qui trình
tín dụng còn là cơ sở để xây dựng mô hình tổ chức, thiết lập các thủ tục hành
Trang 11/73


chính, xây dựng các mối quan hệ trong công việc của từng người và từng bộ
phận, qui trình tín dụng bao gồm các bước như sau :
+ Hồ sơ đề nghò cấp tín dụng là cơ sở đầu tiên để thiết lập quan hệ tín dụng.
Tuỳ theo loại khách hàng, mà yêu cầu người đi vay phải cung cấp những
thông tin về giấy tờ thích hợp. Một bộ hồ sơ tín dụng chuẩn phải có đầy
đủ các tài liệu : tài liệu chứng minh năng lực pháp lý, khả năng hấp thụ
vốn và hoàn trả, tài liệu liên quan đến bảo đảm hoặc các điều kiện vay
vốn và giấy đề nghò vay vốn.
+ Phân tích tín dụng là phân tích khả năng sử dụng vốn và hoàn trả nợ của
khách hàng. Mục tiêu của phân tích là tìm kiếm các tình huống có thể dẫn
tới rủi ro, từ đó sẽ có biện pháp kiểm soát các rủi ro đó. Nội dung phân
tích bao gồm : phân tích phi tài chính và phân tích tài chính.
+ Quyết đònh tín dụng là việc chấp thuận hay từ chối cho vay của ngân hàng,
có hai phương pháp tổ chức ra quyết đònh tín dụng : phương pháp tập
quyền và phương pháp phân quyền. Phương pháp tập quyền tức là quyền
ra quyết đònh tín dụng tập trung một số người; phương pháp phân quyền là
quyền phán quyết được giao cho nhiều người thực hiện, mỗi một nhân
viên tín dụng có một mức phán quyết cho vay, nếu vượt quá mức phán
quyết của nhân viên, hồ sơ vay được hội đồng tín dụng tái xét.
+ Giải ngân là nghiệp vụ cấp tiền cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng
đã được cam kết theo hợp đồng. Giải ngân có thể là việc cấp tiền thuần
tuý hoặc là gắn với việc cấp tiền bằng một quyết đònh cho vay phụ.
Phương pháp giải ngân hẳn là thanh toán trực tiếp cho đơn vò bán, trong
một số trường hợp có thể phát tiền mặt cho người đi vay.
+ Giám sát tín dụng là kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay. Phương pháp
giám sát bao gồm : giám sát hoạt động tài khoản, phân tích báo cáo tài
chính theo đònh kỳ, viếng thăm và kiểm soát đòa điểm kinh doanh, kiểm
tra các bảo đảm …
+ Đến kỳ hạn trả nợ, ngân hàng sẽ tiến hành thu vốn gốc và lãi. Theo từng
đònh kỳ ngân hàng sẽ tái xét và xếp hạng tín dụng. Nếu chấm dứt thời hạn
cho vay mà khách hàng không trả được nợ thì ngân hàng sẽ tiến hành các
biện pháp để xử lý các khoản nợ có vấn đề.
1.2 Các lý thuyết về cạnh tranh trong nền kinh tế thò trường :
Trang 12/73


(Tham khảo tài liệu của : PGS-TS. Trần Văn Tùng (2004), Cạnh tranh kinh tế,
Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội).
1.2.1 Quan điểm cạnh tranh cổ điển :
Quan điểm của các nhà kinh tế học nổi tiếng thời bấy giờ là : lý luận cạnh tranh
của Adam Smith, quan điểm cạnh tranh của John Stuart Mill, quan điểm cạnh tranh
của Darwin, quan điểm cạnh tranh của C.Mác …
Chủ nghóa tự do kinh tế cổ điển ra đời ở Anh vào thế kỷ thứ 17, trải qua hơn một
thế kỷ, tới nửa cuối thế kỷ 18 mới phát triển mạnh mẽ nhờ vào tư tưởng của Adam
Smith. Về sau lý luận tự do kinh tế cổ điển hoàn chỉnh hơn thành hệ thống lý luận
do sự kết hợp tư tưởng của các nhân vật tiêu biểu. Chủ nghóa tự do kinh tế là linh
hồn của học thuyết kinh tế của trường phái cổ điển. Đó là tư tưởng kinh tế chòu ảnh
hưởng của giai cấp tư sản mới ở các nước châu u đặc biệt giai cấp tư sản công
nghiệp tại Anh. Adam Smith, David Ricardo đều là người Anh có công lớn trong
việc hình thành và phát triển hệ thống lý luận kinh tế. Những cống hiến về mặt học
thuật của họ có thể tóm tắt bằng một số nội dung :
- Luận giải một cách sâu sắc lý luận kinh tế cơ bản và bản chất của quan hệ kinh
tế, phản ánh tập trung ở lý luận giá trò và lý luận phân phối được C.Mác tiếp thu
và vận dụng vào học thuyết kinh tế chính trò học của ông. Quan điểm của họ về
ba loại thu nhập tạo thành giá trò trở thành ngọn nguồn cho sự phát triển học
thuyết Malthus và được các trường phái kinh tế học phương Tây lúc bấy giờ tiếp
thu.
- Trình bày một cách toàn diện hệ thống lý luận kinh tế học lấy dân giàu nước
mạnh làm mục đích và xác đònh mục tiêu nghiên cứu của kinh tế học.
- Nghiên cứu cơ chế vận hành kinh tế, cạnh tranh thò trường dẫn tới sự hài hòa về
lợi ích một cách phổ biến. Chỉ ra môi trường thể chế hỗ trợ cho tăng trưởng kinh
tế.
- Mở ra một thời kỳ mới của chủ nghóa tự do kinh tế và có những đóng góp có
tính chất sáng tạo trong việc loại bỏ ảnh hưởng của chủ nghóa trọng thương, phê
phán sự can thiệp của nhà nước và làm rõ chức năng kinh tế của nhà nước trong
điều kiện kinh tế thò trường tự do.
1.2.2 Lý luận cạnh tranh hiện đại :
Các quan điểm đó là : lý luận cạnh tranh hoàn hảo (những người sáng lập là
W.S.Jevons, A.Marshall, L.Walras), quan điểm cạnh tranh dựa vào lý luận tổ chức
ngành (các tác giả như E.Chamberlin, J.Robinson …), quan điểm cạnh tranh của
Trang 13/73


trường phái Áo (các tác giả như C.Meuger, L.V.Mises, J.Chumpeter, F.Hayek …).
Từ Adam Smith tới Keynes, kinh tế học phương Tây trải qua hai thời kỳ : kinh tế
học cổ điển và kinh tế học tân cổ điển. Các nhà kinh tế thuộc cả hai trường phái
này đều cho rằng muốn tăng của cải thì phải áp dụng thể chế kinh tế tự do. Trường
phái tân cổ điển đã lấy cân bằng cung cầu ở trạng thái tónh thay cho khái niệm tích
lũy của trường phái cổ điển, lấy hiệu quả chứ không phải là giá trò lao động làm cơ
sở cho lý luận giá cả tương đối của thò trường. Một mặt tính hiệu quả của nền kinh
tế thò trường tự do cạnh tranh được phân tích có chứng minh một cách kỹ lưỡng.
Mặt khác quá trình phát triển kinh tế đã có nhiều thay đổi, xu hướng nhà nước can
thiệp vào nền kinh tế đã xuất hiện. Những thập niên đầu của thế kỷ 20, hướng phát
triển cơ bản của kinh tế học phương Tây là trào lưu tư tưởng kinh tế theo chủ nghóa
nhà nước can thiệp lấn át trào lưu tư tưởng tự do kinh tế. Trong bối cảnh đó, lý luận
cạnh tranh đã dựa vào cạnh tranh hoàn hảo làm mô hình cạnh tranh hiện thực. Các
nhà kinh tế học lúc bấy giờ cho rằng, cạnh tranh không phải là quá trình tónh mà là
quá trình động.
1.2.3 Sự thay đổi quan điểm cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa :
Sự thay đổi các quan điểm về cạnh tranh kinh tế xuất phát từ ba tiền đề cơ bản.
Thứ nhất, thế giới đã chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức,
và toàn cầu hoá kinh tế thì cần phải tìm hiểu các qui đònh và luật chơi về cạnh
tranh trong nền kinh tế tri thức. Thứ hai, xét từ góc nhìn thương mại quốc tế, cần
tìm hiểu cơ sở lý luận cạnh tranh trong từng quốc gia, đặc biệt là các nước công
nghiệp trong hoạt động thương mại. Thực tế cho thấy, các nước công nghiệp phát
triển không căn cứ vào nguyên tắc lợi thế so sánh như trước đây để hoạch đònh
chính sách thương mại quốc tế mà xuất phát từ nhu cầu tăng khả năng cạnh tranh
của họ để chuyển sang cạnh tranh nhờ vào các qui chế. Thứ ba, là hợp tác kinh tế
để đổi mới quan điểm từ cạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh có tính hợp tác.

Sự thay đổi quan điểm cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức :
Bước sang nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa về kinh tế, nhiều lónh vực của đời
sống kinh tế xã hội đã có những thay đổi to lớn và sâu sắc chưa từng thấy. Do đó lý
luận về kinh tế, trong đó thương mại và cạnh tranh kinh tế quốc tế cũng cần phải
đổi mới.
Đại diện tiêu biểu của kinh tế học phương Tây Adam Smith cho rằng cạnh tranh có
thể làm giảm chi phí và giá cả sản phẩm, từ đó toàn bộ xã hội được lợi do năng
suất tạo ra. Hơn 200 năm sau thời Adam Smith, quan điểm cho rằng cạnh tranh có
thể nâng cao năng suất và làm cho xã hội được lợi, ăn sâu vào toàn bộ lý luận kinh
tế phương Tây. Cạnh tranh được coi là động lực làm giảm giá thành sản phẩm, cải
Trang 14/73


tiến chất lượng và tạo ra sản phẩm mới. Trong nền kinh tế tri thức thì tầm quan
trọng của cạnh tranh không thay đổi. Nhưng so với nền kinh tế công nghiệp thì
quan niệm về cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức đã thay đổi. Trong lý luận cạnh
tranh hoàn hảo, việc mô tả sự giao dòch có thể hiểu một cách đơn giản là cạnh
tranh về số lượng, biểu hiện cụ thể ở chỗ giành phần lớn trên thò trường có giới
hạn. Mỗi một ngành, một thò trường dung lượng chỉ có hạn, do đó tổng cầu trên một
ngành có hạn đònh về số lượng và hạn đònh về vốn. Trong khi đó phương thức quản
lý vẫn dựa vào hàm sản xuất với đầu vào là tư bản, nhân lực, đất đai … và tìm cách
thay đổi các yếu tố đầu vào để thu được lợi nhuận tối đa.
Nhược điểm của lý luận cạnh tranh hoàn hảo là bỏ qua vai trò sáng tạo của tri thức
con người do đó đã mất đi lợi thế cạnh tranh. Từ khi lý thuyết tăng trưởng mới do
Paul Romer khởi xướng đầu thập kỷ 1980, vai trò của tri thức đối với tăng trưởng
dài hạn và tăng trưởng nội sinh được đề cao hơn. Trong nền kinh tế tri thức, cạnh
tranh không đơn giản là chỉ thay đổi hàm số sản xuất và mở rộng thò phần mà là
cạnh tranh mở rộng không gian sinh tồn, là tư bản hóa giá trò thời gian của cá nhân
ngừơi tiêu dùng trong không gian thò trường mới. Không gian này lấy tăng trưởng
bền vững, chuyên môn hóa ở trình độ cao và sáng tạo ra hệ thống sinh thái làm
mục tiêu phát triển. Doanh nghiệp cạnh tranh không gian, cạnh tranh thò trường và
cạnh tranh tư bản. Một khi đã chiếm giữ thò trường, hoặc không gian trở thành một
thứ quyền lợi được pháp luật thừa nhận hay quyền lợi trong thực tế thì bản thân
không gian sẽ có giá trò. Từ đó, có thể nói rằng khi công ty đã chiếm được thò
trường có tiềm năng phát triển thì thò trường ấy đẻ ra tư bản. Nói theo nghóa rộng,
công ty cạnh tranh quyền tồn tại phát triển bằng cạnh tranh chiếm vò trí không gian.
Mọi không gian hoạt động kinh tế đều là tài nguyên và của cải. Kinh tế học giả
đònh rằng những không gian này khan hiếm, quyền lợi đối với của cải phải có
không gian sản phẩm cụ thể để tồn tại. Do đó việc khai thác và chiếm hữu không
gian kinh tế trở thành mục tiêu chiến lược của công ty.
Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu tổ chức đã có thay đổi căn bản, cách thức sản
xuất từ chỗ tập trung sang phân tán và linh hoạt, thích ứng cao, do đó là cơ cấu tổ
chức mềm. Trong nền kinh tế tri thức thì lợi tức đạt được tăng dần, vì vậy quản lý
sản xuất có chức năng đònh vò, quan sát, bình đẳng, hợp tác và linh hoạt. Quan
điểm cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức thì đònh hướng kinh tế không phải là sản
xuất ra một sản phẩm cụ thể, mà cần phải đưa ra những ý tưởng mới. Để giành
phần thắng trong cạnh tranh, công ty thành lập những nhóm “xung kích” triệt để
phát huy sáng tạo cá nhân và phối hợp tập thể, tương lai của họ do họ quyết đònh.
Những nhóm này cần có không gian tự do, trực tiếp chòu trách nhiệm về hoạt động
của mình.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét