Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Tài liệu Tiểu luận: "Tình hình hoạt động của hệ thống tín dụng nông nghiệp Việt Nam" ppt

2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê so sánh: so sánh quy mô, cơ cấu vốn, nhu cầu vốn, tình
hình phát triển của tín dụng chính thống cho nông nghiệp qua các năm từ 2005-2009.
Mục tiêu Phương pháp Kết quả
Nhu cầu về vốn trong
hoạt động nông nghiệp
Thu thập thông
tin, phân tích đánh giá
Nhu cầu về vốn
hiện nay càng tăng
Tình hình họat động của
hệ thống tín dụng cho nông
nghiệp nông thôn ở Việt Nam
trong thời gian qua
Thu thập thông
tin, phân tích quy mô,
tình hình biến động và
các yếu tố ảnh hưởng
Thực trạng họat
động tín chính thống
cho nông nghiệp hiện
nay. Thành tựu và
hạn chế của hệ thống
tín dụng
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thị trường tín dụng nông thôn ở Việt Nam ngự trị bởi h ai ngân hàng quốc
doanh là ngân
hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn (NH NN&PTNT hay
VBARD), ngân hàng chính sách

hội (VBSP) và hệ thống các quỹ tín dụng nhân
dân.
5
3.1. Tình hình kinh tế nông nghiệp Việt Nam năm 2009
* Sản xuất nông nghiệp phát triển và tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất nông, lâm
nghiệp và thủy sản năm 2009 ước tăng 4,2% so năm 2008 (năm 2008 tăng 5,6%),
trong đó nông nghiệp tăng 3,5%, lâm nghiệp tăng 2,8% và thủy sản tăng 4,5%. Trong
bối cảnh có nhiều khó khăn do thiên tai lớn gây thiệt hại nặng nề, nhất là ở các tỉnh
miền Trung và Tây Nguyên, thì đây là điều rất đáng ghi nhận, song hạn chế vẫn còn
nhiều.
* Trong trồng trọt, sản lượng lúa cả năm ước đạt 39,3 triệu tấn, là mức cao nhất từ
trước đến nay và tăng hơn nửa triệu tấn so với năm 2008. Mặc dù diện tích gieo cấy
giảm do rét đậm trong vụ đông xuân các tỉnh phía Bắc và ảnh hưởng của mưa lũ lớn
trong vụ hè thu và vụ mùa, nhưng nhờ năng suất lúa tăng nên sản lượng tăng cả 3 vụ
trong năm. Sản xuất ngô tiếp tục phát triển toàn diện cả diện tích, năng suất nên sản
lượng tăng khoảng 400 nghìn tấn so với năm 2008.
* Sản lượng lương thực có hạt năm 2009 đạt trên 44 triệu tấn, tăng khoảng 700 nghìn
tấn so với năm 2008, là mức cao nhất từ trước đến nay. Lương thực bình quân nhân
khẩu đạt khoảng 513 kg/người, tăng 11 kg so với năm 2008 (502kg), dù dân số tăng
hơn 1 triệu người. Do đó an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm ổn định trong mọi
tình huống. Lượng gạo xuất khẩu cả năm đạt hơn 6 triệu tấn, tăng 33% so với năm
2008. Thiếu đói giáp hạt giảm 31% về số hộ, giảm 27,6% về số khẩu so với năm 2008,
dù thiên tai, bão lũ gây thiệt hại nặng nề hơn. Sản xuất rau, màu, cây công nghiệp, cây
ăn quả tiếp tục phát triển và tăng trưởng khá. Sản lượng cà-phê nhân vượt 1 triệu tấn,
cao su mủ khô trên 700 tấn…
* Chăn nuôi phát triển toàn diện cả về gia súc, gia cầm. Giá trị sản xuất chăn nuôi
năm 2009 ước tăng 7,5% và cao hơn tốc độ tăng năm 2008 (6%) và các năm trước đó.
* Lâm nghiệp vẫn phát triển trong khó khăn. Diện tích trồng rừng tập trung đạt trên
220 nghìn ha, tăng 5% so với năm 2008, sản lượng gỗ khai thác đạt 3.520 nghìn m
3
.
Diện tích rừng bị cháy, bị phá chỉ có 3.500 ha, tỷ lệ rừng được che phủ đạt 39,5%, cao
hơn năm 2008.
Tuy bão lũ nhiều, nhưng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản vẫn phát triển và tăng
trưởng tốt. Sản lượng thủy sản cả năm đạt trên 4,9 triệu tấn, tăng 4,5% so với năm
2008, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 2,6 triệu tấn, sản lượng đánh bắt trên 2,3 triệu
tấn, đều cao hơn năm 2008. Sản xuất thủy sản không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
6
trong nước, mà còn tăng số lượng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả năm
ước đạt 4,3 tỉ USD, mức cao nhất từ trước đến nay và tăng so với năm 2008.
Tuy nhiên, hạn chế của nông, lâm nghiệp và thủy sản 2009 là tính bền vững chưa
cao. Trong sản xuất, xu hướng tự phát chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn phổ
biến. Diện tích lúa vụ thu đông (vụ 3 ở vùng đồng bằng sông Cửu Long) vẫn phát triển
tự phát, chưa ổn định. Sản lượng các cây trồng khác tăng – giảm không ổn định, nhất
là cây vụ đông ở vùng đồng bằng sông Hồng, như cây bông, mía, cà-phê, cao-su…
Chăn nuôi trâu, bò đều giảm và tình trạng nhập bò ngoại (Thái Lan) với số lượng lớn
không qua kiểm dịch đang tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh, nhưng chưa có biện
pháp quản lý của các ngành, các địa phương. Nuôi trồng và khai thác thủy sản vẫn
chưa ổn định cả về diện tích mặt nước, kỹ thuật, con giống, ngư trường, ngư cụ, tàu
thuyền… nên tốc độ tăng trưởng đã chậm lại so với các năm trước.
3.2. Nhu cầu về vốn trong hoạt động nông nghiệp
Khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam chiếm hơn 70% dân số nhưng chỉ
chiếm 17% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống tổ chức tín dụng. Kinh tế thị
trường phát triển, nông nghiệp, nông thôn và người nông dân càng khó có cơ hội tiếp
cận với các nguồn tài chính - tín dụng, tuy nhiên nguồn tín dụng đó hầu như chưa đáp
ứng được nhu cầu vốn hiện tại của người dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
nông thôn. Nguồn tài chính đầu tư cho nông nghiệp nông thôn hiện nay chưa được
tương xứng với quy mô và tầm quan trọng của nông nghiệp.
Trong sản xuất nông nghiệp với chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, quá trình sản
xuất lại có thể gặp nhiều rủi ro do khi toến hành sản xuất luôn cần một khoản vốn nhất
định (cần nguồn vốn lớn). Nhưng đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, những hộ
gia đình không thể tự đáp ứng được nhu cầu vốn đó. Người nông dân Việt Nam với
thu nhập thấp (khoảng 800.000 đ/người/tháng), trong khi đó tình hình biến động của
giá cả và lạm luôn có xu hướng tăng cao thì khả năng tích lũy của những người nông
dân là rất thấp, không thể nào có đủ vốn để đầu tư tái sản xuất mở rộng quy mô. Trong
khi đó xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp lại phải cần có đủ số
nguồn vốn cần thiết, do vậy nhu cầu về vốn trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn
ngày càng rất lớn.
Theo các chuyên gia, tăng trưởng tín dụng trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp
thời gian qua tuy có tốc độ nhanh nhưng mới đáp ứng khoảng 40% nhu cầu vay vốn
7
của các tổ chức kinh tế và hộ gia đình. Tỷ lệ hộ nông dân được vay vốn chỉ đạt khoảng
70% và gặp nhiều vướng mắc trong quy định về thế chấp, thu hồi nợ.
Thực tế cho thấy, do các kênh tín dụng còn phân tán, việc cho vay ưu đãi được
thực hiện qua nhiều đầu mối (Quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng Nông nghiệp và
PTNT, Ngân hàng Chính sách Xã hội) với nhiều mức lãi suất cho vay khác nhau nên
khách hàng thiếu thông tin đầy đủ để tiếp cận khoản vay ưu đãi. Thêm nữa, nhu cầu
vay cao nhưng ngân hàng không đáp ứng nổi. Điển hình như làng nghề xã Chuyên Mỹ
(Phú Xuyên - Hà Nội), nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất lên tới 50 tỉ đồng, trong khi
quỹ tín dụng của xã có số dư nợ cho vay 11 tỉ đồng, vốn vay của Agribank khoảng 7 tỉ
đồng. Vì thế, người dân cần vốn phải đi vay ngoài với lãi suất cao. Đối với những hộ
làm kinh tế trang trại, tuy mức vay không thế chấp khoảng 10 triệu đồng, nhưng vẫn
còn thấp so với nhu cầu để phát triển sản xuất. Đặc biệt, trong việc tiếp cận nguồn tín
dụng nông thôn, nhiều hộ nông dân phản ánh tình trạng “cò” tín dụng làm khó người
vay. Thêm vào đó, cán bộ ngân hàng nhiều nơi vẫn coi giá trị tài sản bảo đảm tiền vay
là điều kiện tiên quyết khi xem xét cho vay mà không tính đến hiệu quả của dự án, khả
năng trả nợ của người vay Gia đình ông Nguyễn Văn Huệ ở thôn Lại Hoàng (Gia
Lâm - Hà Nội) vay 20 triệu đồng từ quỹ Hội Phụ nữ để đầu tư phát triển chăn nuôi.
Tuy nhiên, do chưa nắm vững kỹ thuật, lại gặp nhiều rủi ro nên gia đình ông đã trắng
tay. Nợ cũ chưa trả xong, tài sản thế chấp không còn nên ông không thể vay tiếp. ông
than thở: “Khi chưa thể hoàn trả vốn vay từ ngân hàng mà muốn khôi phục sản xuất,
chúng tôi đành phải tiếp tục vay từ quỹ Hội Phụ nữ với lãi suất cao hơn, cho dù thủ tục
tục cho vay thường đơn giản và nhanh chóng. Dù vậy, chúng tôi vẫn phải chấp nhận”.
Mặt khác, đến nay Quyết định số 67 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính
sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp có một số điểm không phù
hợp với thực tế. Chẳng hạn, nếu không có bảo đảm nông dân chỉ được vay tối đa đến
10 triệu đồng nhưng hiện nay là quá thấp, không phù hợp với nhu cầu vốn cho sản
xuất, kinh doanh của các hộ nông dân.
Xã Đông Yên, Quốc Oai, Hà Tây (cũ) bình quân thu nhập chỉ đạt có 3,6 triệu
đồng/người, tỷ lệ nghèo toàn xã 32,6%. Chủ tịch Hội Nông dân xã Vũ Văn Chỉ cho
hay, những tổ chức hội như của ông đều nhận uỷ thác của ngân hàng Chính sách để
cho hộ nghèo vay trung bình mỗi hộ 7-10 triệu đồng với lãi suất 0,65%/tháng trong
thời gian 24 tháng. Khoản vay tương đối ít, thời gian lại eo hẹp. Nuôi con gà, con lợn
8
còn có thể quay vòng vốn được nhưng chăn bò, chăn trâu như lời ông Chỉ từ khi mua
về đến lúc nó “nhớ giống” cũng phải 1 năm, “nhớ giống” xong may mắn chửa cũng
trên 9 tháng, cộng với thời gian nuôi đến tuổi xuất chuồng độ 5-6 tháng nữa là đã trên
hai năm rưỡi. Nếu như trả theo thời hạn vay là 24 tháng thì người dân phải bán bò
đúng giai đoạn đẻ, khả năng sinh lời chưa có. Thuận buồm, xuôi gió còn thế, huống hồ
đầu tư trong nông nghiệp, lợi nhuận thấp đã đành còn rủi ro lớn, không thể nói trước.
Rủi ro ấy được chia làm hai loại: rủi ro dịch bệnh và rủi ro thị trường. Tỷ như trước
đây dân Đông Yên có 40 hộ được vay ngân hàng bò với mức 4 triệu/hộ. Lúc ấy bò
đang đắt, mỗi con có giá khoảng 8-10 triệu đồng nên muốn mua dân lại phải vay nóng
đến hơn một nửa bên ngoài. Sau hai năm bỏ bao công sức chăm sóc, khi dân bán cả bò
lẫn bê chỉ được cỡ 6 triệu đồng, lỗ nặng. Anh Nguyễn Văn Tiềm (thôn Đông Hạ) vay
được 6 triệu đầu tư mua bò và lợn nái bảo: “Con bò còn cắt cỏ cho ăn được nhưng lợn
cứ phải ăn cám nên vay được có 6 triệu thì thiếu quá, phải vay ngoài đến 20 triệu.
Nông dân ở đâu hưởng lợi từ hạt thóc chứ ở ngoài Bắc ruộng ít, đủ ăn đã là may. Thời
buổi lạm phát, mọi thứ bổ lên đầu chúng tôi nên phải bán thóc. Hạt thóc bán đầu vụ rẻ
mạt, cuối vụ đong ăn giá lại tăng vọt”. Thê thảm hơn là gia cảnh của anh Nguyễn Văn
Tuấn, vay chương trình bò cao sản được 4 triệu, vay ngoài thêm 1 triệu mua con bò,
đùng cái nó ốm, bán chạy được 2,4 triệu. Dồn vốn nuôi con lợn mẹ cũng hỏng nốt nên
anh tiếp tục vay lãi ngoài để gom đủ 7 triệu mua một con bò, mới lấy giống. Nhìn ngôi
nhà tuệch toạc, gia chủ áo quần rách như bị chó cắn, tôi cứ ám ảnh mãi bởi câu nói của
anh: “Sợ lắm rồi, có cho vay cũng không dám vay nữa”. Ông Nguyễn Công Liêu -Tổ
trưởng tổ vay vốn thôn Đông Hạ bảo: “Có hàng mấy trăm hộ dân nhưng bình bầu,
nâng lên, đặt xuống mãi mới có 18 hộ nghèo được vay vốn. Hiệu quả của những lần
vay vốn này còn hạn chế do vay được quá ít, thời gian chưa đủ quay vòng vốn, do rủi
ro trong nông nghiệp nhưng người nghèo họ sòng phẳng lắm, vẫn vay ngoài để đập
vào trả nợ”. Ngoài chương trình vay hộ nghèo, ở thôn còn có 4 hộ được vay làm
biogas theo chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường. Số lượng vay cực ít, nghề
chăn nuôi của thôn lại đang phát triển mạnh gây ô nhiễm môi trường nên đường làng
ngõ xóm, cống rỗng trong làng, ngoài ngõ ngập ngụa phân trâu, phân bò đến ngộp thở.
Quyết định số 497/QĐ-TTg (ngày 17-4-2009) về hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy
móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp…trong thời gian vừa qua tuy đã xoa
dịu một phần nào “cơn khát” vốn cho nông dân nhưng những hạn chế về quy định, thủ
9
tục của quyết định khiến nhiều nông dân không tiếp cận được nguồn vốn kích cầu của
chính phủ theo quyết định.
Hiện nay, nhiều nông dân ở ĐBSCL vẫn đang rất khát vốn đầu tư máy móc thiết
bị, vật tư… phục vụ sản xuất kinh doanh dù chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn theo
quyết định 497/QĐ-TTg được triển khai nhiều tháng qua. Thực tế cho thấy việc tập
trung nguồn vốn kích cầu cho nông dân rất cần thiết nhưng đầu tư cách nào để phát
huy tối đa hiệu quả, tránh ào ạt theo phong trào, gây lãng phí lớn… Nông dân Huỳnh
Văn Hận, ấp Trường Đông, xã Tân Thới, huyện Phong Điền, Cần Thơ nói: “Mới hôm
trước tôi đến Ngân hàng Nông nghiệp huyện xin vay tiền mua máy gặt đập liên hợp
theo Quyết định 497 của Chính phủ thì được cán bộ nơi đây khẳng định là vay mua bất
kỳ thứ gì cũng phải thế chấp. Khi vay phải có tài sản giá trị bằng 50% giá tiền sản
phẩm cần mua để thế chấp. Hiện nay, bằng khoán đất đang thế chấp Ngân hàng Phát
triển nhà thì làm sao vay mới theo QĐ 497 được?”.
Nông dân Nguyễn Văn Hiếu, xã Trung Kiên, quận Ô Môn, TP Cần Thơ băn khoăn:
“Tôi đi hỏi thủ tục vay vốn không lãi suất để mua máy cày công suất lớn nhưng khi
cán bộ ngân hàng cho biết điều kiện là phải mua máy Việt Nam sản xuất thì tôi hơi lo
nên chưa quyết định. Vả lại, cày ruộng thuê cho bà con nông dân thì khó có thể hoàn
vốn cho ngân hàng trong vòng 2 năm, nếu kéo dài thì lại phải chịu lãi suất như quy
định”.
Nông dân Nguyễn Văn Khanh ở xã Phú Hữu A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
cho biết: “Tôi đang cần vốn để đầu tư lắp đặt hệ thống máy tưới nước, phân bón,
thuốc, kỹ thuật… cho 1 ha bưởi 5 roi đặc sản nhưng kẹt 1 điều là tài sản có giá trị thế
chấp là giấy đỏ đã nằm trong ngân hàng. Đến tết năm 2010, tôi bán mùa bưởi thì dư
sức trả nợ nhưng tiếc một điều là khi đó đã hết thời hạn giải ngân vay ưu đãi…”.
ông Lê Văn Lực, nông dân xã Đông Hiệp (Cờ Đỏ – Cần Thơ) nói: “nếu mua một máy
bơm nước giá trị chỉ vài triệu đồng thì nông dân không ngồi chờ gói hỗ trợ. Nhưng khi
mua máy cày, máy cắt… với giá trị vài trăm triệu thì thời gian phải trả vốn trong hai
năm, khó lo kịp nên ít người dám vay”.
Ông Trần Hoàng Minh (Tư Minh), nông dân sản xuất lúa giống ở huyện Thoại Sơn
(An Giang) canh tác 4ha lúa, mỗi năm sản xuất 60 - 70 tấn lúa giống các loại. Lúa
giống nhưng khi bán cho nông dân khác về hình thức cũng giống như bán lúa hàng
10
hoá. Vì thế, Tư Minh muốn hạt giống của mình làm ra phải có bao bì riêng, ghi rõ xuất
xứ và một số thông tin vắn tắt về loại giống đó, tóm lại Tư Minh muốn làm thương
hiệu riêng cho cho hạt giống của mình. Tuy nhiên, để làm như vậy, theo Tư Minh, vấn
đề đầu tiên là hoàn thiện máy móc trang thiết bị khép kín quy trình sản xuất. “Máy gặt
đập, lò sấy, xe tải nhỏ…, ước tính vốn đầu tư khoảng 300 triệu đồng. Mình làm gì có
vốn để đầu tư các loại máy móc được xem là tài sản cố định ấy”, Tư Minh nói.
Cá nhân đã thế, với mô hình làm ăn tập thể cũng không khá hơn. Phó Chủ nhiệm Hợp
tác xã (HTX) Nông nghiệp Bình Hoà (Thanh Bình - Đồng Tháp) Nguyễn Văn Mẫm,
than vãn: “HTX có 560 ha đất trồng lúa, với 2 cái máy gặt đập liên hợp mỗi năm mới
chỉ giải quyết khâu gặt đập cho tối đa 20% diện tích lúa của xã viên. Nếu vay được
vốn theo chương trình của Chính phủ sẽ tiếp tục đầu tư trang bị thêm máy gặt để giải
quyết bức xúc thiếu lao động khi vào mùa thu hoạch”. Ông Phạm Văn Tới, Phó Chủ
tịch Hội Nông dân huyện Chợ Gạo (Tiền Giang) cho biết, nhu cầu vốn trong nông dân
rất lớn nhưng tập trung nhiều ở khâu thu hoạch. Toàn huyện Chợ Gạo hiện có chưa tới
80 máy gặt, trong đó chỉ có khoảng 7 máy gặt đập liên hợp, còn lại là máy gặt xếp dãy.
Với số lượng này, hằng năm yêu cầu cơ giới hoá khâu thu hoạch chỉ mới thực hiện
được khoảng 40% - 50% diện tích.
Nhu cầu vay vốn để sản xuất của người nông dân là rất lớn, nhất là vào thời điểm
trước, trong và sau thu hoạch, người dân rất cần vốn để để sản xuất cho vụ sau hoặc
mở rộng sản xuất, hoặc để tìm một hướng làm ăn mới. Đặc biệt là trong thu hoạch
không thể bỏ qua vai trò của các thương lái, ngay cả các DN và nông dân có hợp đồng
bao tiêu sản phẩm vẫn phải thông qua các thương lái như một cầu nối không thể thiếu.
Thương lái thiếu vốn, nông dân cũng khó tiêu thụ được sản phẩm. Chính vì vậy vẫn
cần một cơ chế tín dụng cho nhóm này.
Chẳng hạn như ở Đà Nẵng thời điểm thu hoạch vụ lúa đông xuân và một vấn đề thời
sự được bàn bạc nhiều trên các cánh đồng là chuyện lúa đã phơi khô, đóng bao
sẵn sàng nhưng vẫn vắng bóng người mua. Có hai lý do chính là thương lái thiếu
vốn và thị trường nông sản (lúa gạo) đang hồi phục nhưng chưa đủ mạnh để họ
tiến hành thu mua rộng rãi. Nên vấn đề vốn và thông tin về gói kích cầu nông
nghiệp của Chính phủ đang mở ra nhiều hy vọng để tăng thu nhập cho nông dân,
tạo nên một chiến lược phát triển cho nông nghiệp. Năm nay lúa được mùa với
năng suất bình quân dự kiến khoảng trên 50 tạ/ha. Thế nhưng nông dân chưa hẳn đã
11
vui bởi giá lúa rớt xuống còn 4.500 đồng/kg, đã thế thương lái lại không tổ chức thu
mua khiến lượng lúa thu hoạch về, nhiều hộ không có nơi cất, đành đóng bao chất đầy
một góc nhà. Trong khi ở vụ lúa trước, giá lúa đạt 6.000-6.200 đồng/kg, thương lái thu
mua lúa tươi ở ngay ngoài đồng. Bà Lương Thị Thiệp ở xã Hòa Tiến, Hòa Vang cho
biết, khi bà ngỏ ý với thương lái vấn đề mua lúa, nhiều người đã từ chối vì đang thiếu
vốn và những người đi thu mua lúa sẵn sàng cho nông dân mượn một số tiền để đầu tư
cho vụ hè thu, chứ họ chưa đủ sức để cân lúa đại trà. Nhu cầu vốn không chỉ dừng lại
ở thương lái mà hầu như người nông dân nào được hỏi cũng bày tỏ nguyện vọng có
một nguồn vốn để đầu tư mở rộng sản xuất, hoặc tìm một hướng làm ăn mới. Ông
Nguyễn Văn Hòa ở tổ 2 thôn Yến Nê 1, xã Hòa Tiến triển khai mô hình trồng nấm
rơm được 9 năm nay, có 2 trại nuôi. Trại chính với hơn 250 mô nấm, mỗi lần cho thu
hoạch khoảng 25-30kg, mỗi tháng 2 vụ. Giá nấm tính trung bình khoảng 35.000
đồng/kg cho ông một mức thu nhập tương đối khá và ổn định. Ông đã hai lần vay tiền
ngân hàng để đầu tư cho trại nấm và khi biết tin Chính phủ sẽ hỗ trợ nông dân mức lãi
suất ưu đãi trong thời gian tới, ông dự định vay mở thêm trại, mua nhiệt kế dùng đo
nhiệt độ trại nấm, sửa sang lại nhà xưởng… và trồng thêm nấm sò, nấm bào ngư,
những loại mà thị trường khá ưa chuộng. Hiện Câu lạc bộ Nấm của xã Hòa Tiến có 20
thành viên, trại sản xuất khá nhỏ nên tiềm năng phát triển vẫn còn rất lớn. Theo ý kiến
của ông Hòa, cả thành phố có hàng trăm hộ dân triển khai làm mô hình trồng nấm thì
vẫn chưa đáp ứng hết nhu cầu thị trường, chưa kể nhiều tiểu thương ở một số huyện
lân cận của Quảng Nam thường xuyên tìm đến chợ đầu mối Hòa Cường thu mua nấm
của nông dân.
Gặp nhiều nông dân ở huyện Hòa Vang cũng như các quận có sản xuất nông nghiệp,
bà con đều ngỏ ý được vay vốn với mức lãi suất thấp để đầu tư mua một số loại máy
móc phục vụ sản xuất như máy cày, máy tuốt, thậm chí cả máy gặt đập liên hợp trị giá
khoảng 100 triệu đồng. Ông Nguyễn Quang Nga, Chủ tịch Hội Nông dân thành phố
Đà Nẵng cho rằng, nhu cầu vốn của nông dân khá cao vì hầu hết trên các lĩnh vực
nông nghiệp đều thiếu vốn, nếu chính sách ưu đãi vốn cho nông nghiệp của Chính phủ
được triển khai rộng rãi sẽ tạo ra hàng nghìn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân.
3.3. Tình hình hoạt động tín dụng nông nghiệp
3.3.1 Tình hình hoạt động
12
Hoạt động tín dụng nông nghiệp, nông thôn thời gian gần đây đã có những bước
phát triển nhất định. Mạng lưới cho vay nông nghiệp, nông thôn ngày càng mở rộng,
thể hiện ở việc các ngân hàng như NHNNo&PTNT, Ngân hàng chính sách xã hội, Hệ
thống quỹ tín dụng nhân dân…đều mở rộng mạng lưới cho vay trong lĩnh vực này.
Hệ thống Agribank, Ngân hàng Chính sách xã hội và hệ thống quỹ tín dụng nhân
dân chiếm 85% dư nợ cho vay khu vực nông nghiệp. Nguồn vốn, doanh số cho vay và
dư nợ tín dụng ngày càng tăng (đến 31/10/2008, dư nợ cho vay lĩnh vực này đạt
294.853 tỷ đồng, chiếm 23% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế). Đối tượng tiếp cận
nguồn vốn tín dụng cũng ngày càng mở rộng với trên 9 triệu hộ dân và doanh nghiệp ở
nông thôn đã tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng
+ Ngân hàng chính sách xã hội:
Ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng
Phục vụ người nghèo sau khi tách ra khỏi Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn (NHNo&PTNT) để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội được
quy định tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ. NHCSXH
chính thức khai trương vào ngày 11/3/2003.
Là một tổ chức tín dụng Nhà nước, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, nhằm
góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, vì mục tiêu
công bằng xã hội, nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, truyền thống nhân nghĩa của
dân tộc Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội đã trở thành người bạn đồng hành
giúp người nghèo và các đối tượng chính sách, những người không đủ điều kiện để
tiếp cận với vốn tín dụng thương mại, có cơ hội để tiến kịp với sự phát triển của xã
hội.
Đến năm 2008 NHCSXH đã nhận bàn giao 3 chương trình tín dụng ưu đãi do
NHNo&PTNT, Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Công thương chuyển qua; triển khai
thêm 7 chương trình mới của Chính phủ; nhận uỷ thác 13 triệu EUR và 53 triệu USD
của các tổ chức quốc tế, 1.400 tỉ đồng của các địa phương cho các chương trình, dự án
phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo.
Tính đến ngày 30/6/2008, tổng nguồn vốn của NHCSXH đạt 45.000 tỉ đồng, tăng
gấp 5 lần so với cuối năm 2002. Tổng dư nợ đạt 42.200 tỉ đồng, tăng gấp gần 5 lần
trong 5 năm. Trong đó, 90% nguồn vốn được đầu tư cho 4 chương trình: hộ nghèo,
vùng khó khăn và giải quyết việc làm. Có hơn 9,1 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn,
13
góp phần giúp gần 1,4 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; tạo thêm 1,9 triệu việc làm
mới; xây dựng hơn 820.000 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn…
Nợ xấu, nợ quá hạn giảm dần từ 13,75% khi nhận bàn giao (đầu năm 2003) xuống còn
2% (cuối năm 2007). Tỉ lệ sử dụng nguồn vốn đạt trên 95%; tỉ lệ thu lãi cũng đạt trên
95% số lãi phải thu.
Năm 2009, mặc dù gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế, song toàn hệ
thống NHCSXH đã nỗ lực phấn đấu, tập trung thực hiện kế hoạch tăng trưởng tín dụng
trên cơ sở huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước giao; tích cực
triển khai các chương trình, dự án tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính
sách góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Đặc biệt, thực hiện
Nghị quyết 30a của Chính phủ về giảm nghèo nhanh, bền vững tại 62 huyện nghèo
trong cả nước, đã có 144.000 hộ nghèo được vay vốn dư nợ gần 700 tỷ đồng với lãi
suất cho vay bằng 0%.
Bên cạnh đó, VBSP cũng hoàn thành tốt các chủ trương của Chính phủ về cho
vay hỗ trợ lãi suất, cho vay đối với thương nhân hoạt động thương mại tại VKK.
VBSP cũng thực hiện quyết liệt Đề án 30 của Chính phủ về đơn giản hoá thủ tục hành
chính trong quản lý Nhà nước, nhằm cắt giảm những thủ tục hành chính trong quan hệ
với khách hàng. Đó là giải pháp phát hành Sổ vay vốn và Biên lai thu lãi tiền vay, đơn
giản hoá thủ tục, giúp tăng cường quản lý vốn hiệu quả.
Phát huy những kết quả đã đạt được, năm 2010 toàn hệ thống VBSP tập trung
huy động nguồn vốn và cho vay các chương trình ưu đãi, đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởng
tín dụng được Thủ tướng giao. Trong đó, đảm bảo có cơ cấu nguồn vốn ngân sách Nhà
nước chiếm 50% trong tổng nguồn vốn; huy động nguồn vốn trả lãi, chú trọng nguồn
vốn 2% của các tổ chức tín dụng; huy động nguồn vốn trung và dài hạn ngoài thị
trường. Đối với công tác cho vay, năm 2010 VBSP thực hiện chỉ tiêu tập trung vào các
dự án chính như: cho vay hộ nghèo, cho vay đối với HSSV có hoàn cảnh khó khăn,
cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở triển khai mạnh mẽ cho vay qua thẻ ATM đối với
tín dụng HSSV. Để hoàn thành các mục tiêu trên, VBSP đề nghị Chính phủ cấp bổ
sung vốn điều lệ lên 12.000 tỷ đồng. Đặc biệt, Nhà nước cần đứng ra huy động trái
phiếu chuyển cho VBSP cho vay các chương trình tín dụng. Đồng thời, cho phép
VBSP tích cực triển khai huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư.
+ Quỹ tín dụng nhân dân:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét