Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Phân tích tình hình giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Chi phí SX-KD của DN biểu hiện hao phí lao động cá biệt của DN trong một
thời kỳ nhất định ,nó là căn cứđể xác định số tiền phải bùđắp từ thu nhập của
DN trong thời kỳđó .
Do vậy ,một trong những thông tin quan trọng đối với nhà quản lý tài chính
DN là các thông tin về chi phí vì mỗi khi chi phí tăng thêm thì sẽ cóảnh hưởng
trực tiếp tới doanh thu và lợi nhuận của DN .Các nhà quản lý cần hiểu rõ vai trò
của chi phíđối với DN và cần khảo sát chặt chẽ các khoản chi phí của DN .
1.1.2 ý nghĩa của việc tăng cường quản lý chi phí và tiết kiệm chi phí .
Trong quá trình hoạt động SX-KD ,các DN phải luôn quan tâm đến việc quản
lý chi phí vì mỗi đồng chi phí không hợp lýđều làm giảm lợi nhuận của DN.
Chi phí SX-KD chính là cơ sởđể tính lợi nhuận của DN .
Ta có công thức tính lợi nhuận :
Lợi nhuận
hoạt động
kinh doanh
=
Tổng
doanh
thu
_
Tổng chi
phí kinh
doanh
_
Chi phí
bán
hàng
_
Chi phí
quản lý
doanh
nghiệp
Vậy vấn dề quan trọng đặt ra cho mỗi DN là phải kiểm soát được tình hình
chi phí SX-KD của DN .Quản lý và sử dụng chi phí hợp lý cóý nghĩa quan
trọng trong SX-KD vì nóảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và kết quả kinh
doanh của DN .Nếu DN quản lý tốt chi phí thì sẽ có tác dụng thúc đẩy quá trình
hoạt động SX-KD ,tăng doanh thu và hiệu quả kinh tế và ngược lại nếu DN
quản lý không tốt chi phí thì kết quả kinh doanh sẽ bị hạn chế,hiệu quả kinh tế
giảm.
Nhờ có tiết kiệm chi phí mà DN có thể tăng được tích luỹ,hoàn thành nghĩa
vụđối với Nhà Nước,tăng lợi nhuận cho DN ,đảm bảo đời sống cho người lao
động.
5
Từ các vai trò và tác dụng kể trên của chi phí ,ta thấy được việc thực hiện tốt
chi phí kinh doanh là cơ sởđể DN thực hiện tốt các kế hoạch SX-KD mà DN
đãđề ra .Chi phí SX-KD là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh đầy đủ tình
hình hoạt động SX-KD của DN .Chỉ tiêu này được sử dụng đểđánh giá hoạt
động SX-KD giữa thực tế với kế hoạch ,giữa các kỳ với nhau hay giữa các đơn
vị trong cùng một ngành .
Do trong quá trình hoạt động SX-KD trong một thời kỳ nhất định có nhiều
loại chi phí của DN phát sinh không phục vụ hoạt động SX_KD cho DN trong
kỳ vàđồng thời cũng không được bùđắp từ doanh thu hoặc thu nhập của DN
trong thời kỳđó nên cần thiết phải xác định phạm vi của chi phí SX-KD để
từđó DN lập kế hoạch chi phí hợp lý.
1.2 Phạm vi của chi phí SX-KD trong các DN .
Nhưđã nêu trên ,chi phí SX-KD của DN sẽđược bùđắp từ doanh thu hoặc thu
nhập của DN trong kỳ vì vậy về nguyên tắc tất cả các khoản chi phí phát sinh
trong kỳđược bùđắp từ các nguồn khác đều không phải là chi phí SX-KD hợp
lệ ,hơn nữa chi phí kinh doanh chỉ phục vụ hoạt động SX-KD của DN trong kỳ
nên tất cả các khoản chi phí phát sinh trong kỳ nhưng không trực tiếp hoặc gián
tiếp phục vụ SX_KD của kỳđóđều không được tính vào chi phí SX-KD .Chỉ có
những khoản chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến doanh thu trong kỳ
của DN mới được ghi nhận là chi phí kinh doanh hợp lệ. Các khoản chi phí
không hợp lệ thì không được phép hạch toán vào chi phí SX_KD trong kỳ mà
phải dùng thu nhập sau thuế hoặc vốn hiện cóđể bùđắp .
Trong thực tế ,đôi khi các DN hay các tổ chức không thực hiện đúng qui
định và làm đúng với chính sách tài chính của Nhà nước .Vì nhiều mục đích
khác nhau ,các DN đã làm tăng hoặc giảm các khoản chi phí SX_KD từđó dẫn
đến việc làm trái với qui định ,tăng hoặc giảm lợi nhuận của DN .Do những bất
cập đó vàđểđảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế ,các loại hình DN
6
khi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà Nước nhất là khi tính thuế thu nhập
mà DN phải nộp,Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư số 63/1999và 08/2000 quy
định cụ thể các khoản chi phí không được phép hạch toán vào chi phí SX-KD.
Đó là các khoản mục sau:
Thứ nhất: Chi phíđầu tư dài hạn của DN .Chi phíđầu tư dài hạn của DN là các
khoản chi phí phát sinh cần thiết để tạo ra các yếu tố của quá trình
SX-KD của DN theo kế hoạch đầu tư dài hạn nhằm phục vụ cho hoạt động
SX-KD trong một thời gian dài của DN .
Nhóm chi phí này bao gồm :Chi phíđầu tư xây dựng cơ bản ,chi phí mua sắm
TSCĐ ,bổ sung TSCĐ cần thiết hoặc hình thành TSLĐ cần thiết ban đầu ,chi
đào tạo dài hạn đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật, nhân công,chi nghiên cứu khoa
học
Nhóm chi phí này được bùđắp từ nguồn vốn đầu tư dài hạn của DN vì vậy
chúng không thuộc vào chi phí kinh doanh của DN trong kỳ .
Thứ hai: Các khoản chi phúc lợi xã hội như chi về văn hoá ,thể thao, y tế, vệ
sinh ,chi ăn trưa,chi tiền thưởng ,ủng hộ nhân đạo ,trợ cấp khó khăn ,chi ủng hộ
các tổ chức xã hội Các khoản chi này cũng không tính vào chi phí của DN bởi
vì nguồn bùđắp chủ yếu của các khoản chi này lấy từ các quỹ chuyên dùng và
sựđóng góp ủng hộ của các tổ chức xã hội khác (nếu có).
Thứ ba: Các khoản tiền phạt vi phạm pháp luật như luật giao thông ,luật thuế
luật môi trường ,luật lao động ,vi phạm chếđộ báo cáo thống kê,tài chính kế
toán và các luật khác. Nếu do tập thể cá nhân vi phạm luật thì tập thể hoặc cá
nhân đó phải nộp phạt .Ngoài khoản tiền đền bù nói trên,khoản tiền phạt còn
lại, DN phải lấy từ lợi nhuận sau thuế.
Thứ tư : là chi phíđi công tác nước ngoài vượt định mức DN .
Thứ năm :là các khoản thuộc nguồn kinh phí khác đài thọ như chi phí sự nghiệp
đãđược ngân sách Nhà nước cấp ,cơ quan cấp trên cấp hoặc các tổ chức xã hội
7
khác hỗ trợ.Khoản chi trả lãi vay vốn đầu tư XDCB trong thời kỳ công trình
chưa hoàn thành đưa vào sử dụng sẽđược hạch toán vào chi phíđầu tư XDCB.
Thứ sáu :là các khoản chi phí SX_KD vượt mức quy định của chếđộ tài chính
khoản chi này được bùđắp bằng quỹ khen thưởng phúc lợi .
Thứ bảy :là các khoản thua lỗ thiệt hại do chủ quan của đơn vị gây ra hoặc
khách quan đưa lại đãđược Nhà nước hoặc cơ quan bảo hiểm thanh toán bồi
thường,các khoản chi trong kỳ do nguồn kinh phí khác tài trợ.
Riêng đối với DN Nhà nước ,theo thông tư số 76/T C/TCD của bộ Tài Chính
Nhà nước khống chế chi phí như tiếp tân ,hội họp giao dịch,đối ngoại, lãi vay
ngân hàng hoặc vay của các tổ chức tín dụng ,cá nhân
Các khoản chi phíđược hạch toán vào chi phí SX-KD là những khoản chi phí
phục vụ trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động SX-KD của DN trong kỳ ,các
khoản chi phíđóđược bùđắp bởi doanh thu của DN .
Có một số các khoản chi tiêu, chi phí của DN xét về mặt bản chất không phải
là chi phí SX-KD nhưng để thống nhất DN vẫn hạch toán và quyết toán vào
chi phí SX-KD trong kỳ.
Một số khoản chi không liên quan đến hoạt động SX-KD của DN nhưng
người lao động trong DN phải có nghĩa vụđóng góp theo luật định thì vẫn được
phép hạch toán vào chi phí SX-KD .
Việc xác định đúng đắn phạm vi của chi phí SX-KD trong DN cóý nghĩa kinh
tế lớn đối với công tác quản lý chi phí kinh doanh nói riêng và công tác quản lý
kinh tế của DN nói chung .
Xác định đúng đắn phạm vi của chi phí SX-KD là cơ sở cho việc tập hợp các
chi phí của DN phát sinh trong kỳ vào chi phí SX-KD trong kỳđó hoặc quyết
toán chi phí ,trên cơ sởđó xác định được giá vốn toàn bộ của sản phẩm hàng
hoá và dịch vụ phục vụ cho chiến lược phát triển kinh doanh của DN trong điều
kiện có cạnh tranh của nền kinh tế thị trường đồng thời đó là căn cứđể DN xác
8
định khoản phải bùđắp từ doanh thu của DN trong kỳ ,giúp DN xác định được
chính xác lợi nhuận và hiệu quả kinh tế của mình .
Việc xác định rõ ràng các khoản mục chi phí của chi phí SX-KD làm cơ sở
cho DN phấn đấu giảm chi phí trên cơ sở thực hiện tốt nhất kế hoạch
SX-KD , kế hoạch lưu chuyển hàng hoá và tăng lợi nhuận của DN .
Chi phí SX-KD gồm nhiều loại có nội dung ,công dụng và tính chất khác
nhau.Cho nên để tiện cho việc quản lý sử dụng và hạch toán chi phí ta cần tiến
hành phân loại chi phí .
1.3 Phân loại chi phí SX-KD của DN .
Đểđáp ứng yêu cầu của quản lý chi phí ,xác định đúng đắn phương hướng phấn
đấu tiết kiệm chi phí SX-KD ,nâng cao lợi nhuận ,nâng cao hiệu quả sử dụng
các nguồn vật tư ,tiền vốn và lao động của DN ,việc nghiên cứu kết cấu chi phí
SX-KD của DN là cần thiết .
Tuỳ thuộc vào tính chất ,địa điểm ,ngành nghề kinh doanh và các mục tiêu
quản lý chi phí mà ta có thể phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau.
1.3.1 Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế
Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế là căn cứ vào đặc điểm kinh tế giống
nhau của chi phíđể xếp chúng vào từng loại. Mỗi loại là một yếu tố chi phí có
cùng nội dung kinh tế và không thể phân chia được nữa, bất kể chi phíđó dùng
làm gì và phát sing ởđịa điểm nào.
Theo cách phân loại này, toàm bộ chi phí sản xuất khing doanh được chia làm
5 loại:
Chi phí vật tư mua ngoài: là toàn bộ giá trị các loại vật tư mua ngoài dùng
vào hoạt đọng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhên liệu,phụ tùng thay thế
Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương: là tonà bộ các khoản tiền
lương, tiền công Doanh nghiệp phải trả cho người tham gia vào hoạt động sản
9
xuất kinh doanh; các khoản chi phí trích nộp theo lương như chi phí
BHXH,BHYT, kinh phí công đoàn mà Doanh nghiệp phải nộp trong kỳ.
Chi phí khấu hao tài sản cốđịnh: toàn bộ tiền khấu hao các loại TSCĐ trích
trong kỳ.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: toàn bộ số tiền Doanh nghiệp phải trả cho các
dịch vụđã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do các đơn vị
khác bên ngoài cung cấp.
Chi phí bằng tiền khác:là các khoản phải chi bằng tiền ngoài các khoản trên.
Cách phân loại này cho thấy mức chi phí về lao đọng vật hoá và lao đọng
sống trong toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh lần đầu trong năm. Vì
vậy nó có tác dụng giúp cho Doanh nghiệp lập được dự toán chi phí sản xuất
theo yếu tố; kiểm tra sự cân đối giữa kế hoạch cung cấp vật tư, kế hoạch lao
động tiền lương, kế hoạch khấu hao tài sản cốđịnh, kế hoạch nhu cầu vốn lưu
động.
1.3.2 Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế vàđịa điểm phát sinh chi phí
Theo cách phân loại này những chi phí có cùng nội dung kinh tế vàđịa điểm
phát sinh được xếp vào một loại, gọi là các khoản mục chi phí.
Chi phí vật tư trực tiếp: là chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, dụng cụ sản
xuất trực tiếp dùng vào việc sản xuất sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp: là các khoản tiền lương, tiền công, các khoản cấp
có tính chất lương, các khoản chi BHXH,BHYT, kinh phí công đoàn của công
nhân trực tiệp sản xuất trong Doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sử dụng ở các phân xưởng, bộ
phân kinh doanh như: tiền lương và phụ cấp lương của quản đốc, nhân viên
phân xưởng. Chi phí khấu hao TSCĐ thuộc phân xưởng, chi phí vật liệu, công
cụ, dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền phát sinh ở phạm
vi phân xưởng, bộ phận sản xuất.
10
Chi phí bán hàng : bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thu sản
phẩm như chi phí tiền lương, phụ lương trả cho nhân viên bán hàng, tiếp thị,
vận chuyển bảo quản , các chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phí vật
liệu, bao bì, chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác như bảo hành
hàng hoá, quảng cáo.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các chi phí cho bộ máy quản lý Doanh
nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động chung của Doanh nghiệp như
khấu hao TSCĐ phục vụ cho bộ máy quản lý; chi phí công cụ dụng cụ các chi
phí khác phát sinh ở phạm vi toàn doanh nghiệp như tiền lương và phụ cấp
lương trả cho Hội đồng quản trị, ban giám đốc, nhân viên các phòng ban quản
lý; chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản thuế, lệ phí, bảo hiểm, chi
phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng Doanh nghiệp. Các khoản chi phí dự
phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ khóđòi, công tác phí, các chi phí
giao dịch, đối ngoại
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tính giá
thành cho từng loại sản phẩm; quản lý chi phí tại địa điểm phát sinh để khai
thác khả năng hạ giá thành sản phẩm của Doanh nghiệp.
1.3.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất
kinh doanh
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp được
chia thành hai loại: Chi phí cốđịnh và chi phí biến đổi.
Chi phí cốđịnh là các chi phí không thay đổi (hoặc thay đổi không đáng kể)
theo sự thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Thuộc loại chi
phí này bao gồm: Chi phí khấu hao TSCĐ(theo thời gian), chi phí tiền lương
trảcho cán bộ, nhan viên quản lý, chuyên gia, lãi tiền vay phải trả,chi phí thuê
tài sản, văn phòng.
11
Chi phí biến đổi là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay đổi của quy mô
sản xuất. Thuộc loại chi phí này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền
lương trả cho công nhân trực tiếp sx, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí dịch vụ
cung cấp như tiền điện, nước, điện thoại
Do đặc điểm của từng loại chi phí trên nên khi quy mô sản xuất kinh doanh
càng tăng thì chi phí cốđịnh cho một đơn vị sản phẩm hàng hoá càng giảm.
Riêng đối với chi phí biến đổi việc tăng giảm hay không đổi khi tính chi phí
này cho 1 đơn vị sản phẩm hàng hoá còn phụ thuộc vào tương quan biến đổi
giữa quy mô sản xuất kinh doanh và tổng chi phí biến đổi của Doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho Doanh nghiệp thấy dduwowcj xu hướng biến đổi
của từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từđó Doanh nghiệp có thể xác
định được sản lượng hoà vốn cũng như quy mô kinh doanh hợp lýđểđạt được
hiệu quả cao nhất.
-Phân loại chi phí SX_KD của DN phải phù hợp với tình hình đặc điểm SX-
KD và các mục tiêu quản lý kinh tế của DN ,điều đó sẽ giúp DN xác định được
xu hướng hình thành kết cấu của chi phí sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ
khác nhau ,đồng thời làm cơ sở cho công tác kế hoạch hoá ,kiểm tra, phân tích
đánh giá tình hình thực hiện ké hoạch chi phí của DN .Cũng nhờđó DN tìm ra
được các biện pháp quản lý chi phí tốt hơn, giảm chi phí SX-KD hạ giá thành
sản phẩm, hạ thấp chi phí của DN ,nâng cao hiệu quả kinh tế của DN.
Kết cấu của chi phíđược biểu hiện qua tỷ trọng tính thành phần % của từng
loại chi phí trong tổng số chi phí của DN trong một thời kỳ nhất định.Nó chịu
sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau nhưđặc điểm công nghệ ,công tác
quản lý ngoài ra còn phụ thuộc vào các thời kỳ khác nhau. Cùng với sự phát
triển của khoa học công nghệ ,xu hướng biến đổi chung là tỷ trọng các chi phí
12
về lao động vật hoá ngày càng tăng lên trong khi tiền lương thì có xu hướng
giảm xuống một cách tương đối trong tổng chi phí kinh doanh của DN .
ý nghĩa của việc nghiên cứu kết cấu chi phí trong DN:
_Cho phép biết được tỷ trọng của các bộ phận chi phí trong tổng chi phí sản
xuất từđó nhận biết được xu hướng vận động của các bộ phận chi phíđó tạo
tiền đề tốt cho công tác lập kế hoạch chi phí của DN .
_Tạo tiền đề cho việc kiểm tra ,phân tích đánh giá việc thực hiện kế hoạch
chi phí ,xác định đúng đắn giá thành sản phẩm hàng hoá,dịch vụ ,xác định
chính xác các biện pháp phấn đấu hạ thấp chi phí SX-KD ,giảm giá thành toàn
bộ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ .
1.4 Yêu cầu quản lý và lập kế hoạch chi phí SX-KD của DN .
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý DN là tiết kiệm
được chi phí SX-KD. Yêu cầu cơ bản của việc quản lý và lập kế hoạch chi phí
SX-KD làđảm bảo tốt nhất quá trình SX-KD của DN trên cơ sở sử dụng hợp
lý, tiết kiệm mọi nguồn vật tư ,tiền vốn ,sức lao động của DN đểđạt được lợi
nhuận tối đa trong khuôn khổ của luật pháp ,nâng cao năng suất lao động và
hiệu quả kinh tế của DN.
Để quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh, các DN phải lập kế hoạch chi phí.
Lập kế hoạch chi phí thực chất là dùng hình thức tiền tệ tính toán trước mọi chi
phí SX-KD của DN trong kỳ kế hoạch cùng các biện pháp phấn đấu thực hiện
kế hoạch đó .Kế hoạch chi phí SX-KD là xác định mục tiêu phấn đấu của đơn
vịđồng thời cũng là căn cứđểđơn vị cải tiến công tác quản lý kinh doanh thực
hiện chếđộ tiết kiệm ,hạ giá thành sản phẩm hàng hoá ,tăng lợi nhuận, tăng
hiệu quả kinh tế cho DN trong kỳ .
Chỉ tiêu chi phí SX-KD cóảnh hưởng tích cực đến các chỉ tiêu khác ví dụ
như chỉ tiêu vốn lưu động được xác định căn cứ vào dự toán chi phí SX-KD
của đơn vị ,lợi nhuận của DN nhiều hay ít phụ thuộc phần lớn vào giá thành sản
13
lượng hàng hoá kỳ kế hoạch vàđược xác định trên cơ sở dự toán chi phí SX-KD
trong kỳ .
Nhiệm vụ chủ yếu của việc lập kế hoạch chi phí SX_KD là phát hiện vàđộng
viên mọi nguồn tiềm năng sẵn có của DN để không ngừng giảm bớt chi phí SX-
KD và chi phí tiêu thụ sản phẩm, tăng lợi nhuận nhằm đáp ứng yêu cầu tái sản
xuất mở rộng ,tái đầu tư và cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên chức
trong đơn vị .
Việc lập kế hoạch chi phí SX_KD cần phải căn cứ vào các kế hoạch kinh tế
liên quan như kế hoạch lưu chuyển hàng hoá ,vận tải ,khấu hao TSCĐ ,tiền
lương, đầu tư ra ngoài DN và hệ thống các tiêu chuẩn định mức
kinh tế-kỹ thuật của Nhà Nước ,của ngành hoặc của chính DN .Mặt khác DN
cần phải tiến hành phân tích ,đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi phí SX-
KD của kỳ trước ,những khả năng ,những mặt mạnh ,mặt yếu của DN, các nhân
tốảnh hưởng và những biện pháp xử lý trong kỳ kế hoạch tới.
Lập kế hoạch chi phí SX-KD đòi hỏi phải sử dụng những phương pháp thích
hợp và những chỉ tiêu về chi phí SX-KD trong kỳ kế hoạch .
1.5 Giá thành sản phẩm và các loại giá thành sản phẩm trong Doanh
nghiệp xây lắp
Khái niệm: Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí
Doanh nghiệp đã bỏ ra đẻ hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản
phẩm hay loại sản phẩm nhất định.
1.5.1 Giá thành sản phẩm xây lắp
Sự vận động của quá trình sản xuất trong Doanh nghiệp xây lắp bao gồm hai
mặt đối lập nhau, nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Một là các chi phí
Doanh nghiệp đã chi ra, mặt khác là kết quả sản xuất thu được, những sản
phẩm của công việc lao vụđã hoàn thành, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã
hội cần dược tính giá thành.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét