Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty cổ phần sản xuất và thương mại đất Việt

Nhập khẩu uỷ thác có những đặc điểm sau:
- Doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu (bên nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn,
không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trờng tiêu thụ do
không phải tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để
tìm, giao dịch với bạn hàng nớc ngoài khi có tổn thất.
- Các doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu chỉ đợc tính kim ngạch nhập khẩu
chứ không đợc tính doanh số, không đợc tính doanh thu.
- Các doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp phải lập hợp đồng, một hợp đồng
mua bán hàng hoá với bên nớc ngoài, một hợp đồng với bên uỷ thác.
b. Nhập khẩu tự doanh.
Nhập khẩu tự doanh chính là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh
nghiệp nhập khẩu trực tiếp. Hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu
kỹ thị trờng trong và ngoài nớc, tính toán đầy đủ chi phí, đảm bảo kinh doanh
nhập khẩu có lãi, đúng phơng hớng, chính sách, luật pháp quốc gia cũng nh luật
quốc tế.
Nhập khẩu tự doanh có các đặc điểm là:
- Doanh nghiệp đợc hởng toàn bộ lợi nhuận thu đợc, đồng thời cũng phải
chịu mọi rủi ro xảy ra đối với hàng hoá. Bởi Doanh nghiệp phải tự bỏ vốn ra, chịu
mọi chi phí giao dịch, nghiên cứu thăm dò, giao nhận, lu kho cho đến cả chi phí
quảng cáo tiêu thụ hàng hoá, chịu thuế doanh thu, cho nên hoạt động này phải đợc
xem xét kỹ lỡng từng bớc, từ nghiên cứu thông tin về thị trờng cho đến khi ký kết
hợp đồng và thực hiện hợp đồng.
- Doanh nghiệp đợc tính kim ngạch xuất nhập khẩu và tiêu thụ hàng hoá
nhập khẩu sẽ đợc tính vào doanh thu của doanh nghiệp.
- Thông thờng doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng với bên nớc ngoài.
c. Nhập khẩu liên doanh.
5
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên
doanh liên kết một cách tự nguyện (Trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất
nhập khẩu trực tiếp) giữa các doanh nghiệp với nhau, nhằm phối hợp cùng giao
dịch và đề ra các chủ trơng biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc
đẩy hoạt động này phát triển theo huớng có lợi nhất cho tất cả các bên tham gia,
các bên tham gia cùng chia lợi nhuận và cùng chịu rủi ro.

Nhập khẩu liên doanh có những đặc điểm sau:
- Các bên tham gia liên doanh nhập khẩu sẽ chịu rủi ro (nếu có) ít hơn, bởi
mỗi bên tham gia nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và
trách nhiệm của các bên tăng lên theo phần vốn góp. Việc phân chia chi phí, thuế
doanh thu, lãi và lỗ dựa vào tỷ lệ góp vốn và trách nhiệm mà mỗi bên tham gia
phải gánh vác.
- Doanh nghiệp đứng ra nhập hàng sẽ đợc tính kim ngạch xuất nhập khẩu
nhng đến khi tiêu thụ thì chỉ đợc tính trên số hàng hoá mà mình đợc nhận khi tham
gia liên doanh, đồng thời cũng chỉ phải chịu thuế với số hàng hoá đợc nhận đó.
- Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp phải lập hai hợp đồng, một là hợp đồng
mua hàng với nớc ngoài, một là hợp đồng liên doanh với các doanh nghiệp khác
(không nhất thiết phải là doanh nghiệp Nhà nớc).
d. Nhập khẩu hàng đổi hàng.
Nhập khẩu hàng đổi hàng là một phơng thức giao dịch trong đó nhập khẩu
kết hợp chặt chẽ với xuất khẩu, doanh nghiệp là ngời mua nhng đồng thời cũng là
ngời bán lợng hàng hoá dịch vụ trao đổi với nhau có giá trị tơng đơng.
Mục đích của hình thức này không chỉ tiến hành nhập khẩu mà còn phải
xuất khẩu đợc hàng hoá mang lại hiệu quả cho hoạt động xuất khẩu của doanh
nghiệp.
Đặc điểm của hình thức nhập khẩu đổi hàng:
6
- Hoạt động nhập khẩu đổi hàng mang lại lợi ích lớn hơn cho các bên có
liên quan bởi cùng một hợp đồng mà có thể tiến hành đợc cả hoạt động xuất và
nhập, do đó mà có thể thu lãi từ cả hai hoạt động. Hàng hoá xuất và nhập tơng đ-
ơng nhau về mặt giá trị.
- Bạn hàng trong hoạt động xuất khẩu cũng chính là bạn hàng trong hoạt
động nhập khẩu.
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp đợc tính cả kim ngạch nhập và
kim ngạch xuất, doanh số tiêu thụ trên cả hàng nhập và hàng xuất.
Nếu phân chia mục đích sử dụng hàng nhập khẩu, có thể phân chia ra làm
hai loại là hàng nhập để tiêu thụ trong nớc và hàng nhập để tái xuất. ở nớc ta, hiện
nay chủ yếu nhập về để tiêu thụ trong nớc, còn xuất khẩu hầu nh rất ít, vì trình độ
kinh doanh quốc tế ở ta cha cao, nhng trong tơng lai, chắc chắn hình thức này sẽ
phát triển thông dụng hơn.
e. Nhập khẩu tái xuất.
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu hàng hoá vào trong nớc nhng
không phải để tiêu dùng mà để xuất sang một nớc thứ ba nào đó nằm thu lợi
nhuận. Những hàng hoá nhập khẩu này không đợc qua chế biến ở nớc tái xuất.
Đặc điểm của nhập khẩu tái xuất là:
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu tái xuất phải tính toán đợc chi phí ghép mối
bạn hàng xuất và bạn hàng nhập, đảm bảo sao cho thu đợc số tiền lớn hơn tổng số
chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động.
- Doanh nghiệp tái xuất thờng ký một hợp đồng xuất khẩu và một hơp đồng
nhập khẩu. Doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp đợc tính cả kim ngạch xuất và nhập.
- Về mặt thanh toán, nhiều hợp đồng tái xuất quy định dùng phơng thức th
tín dụng giáp lng (back to back). Hàng hoá có thể đợc chuyển thẳng sang nớc thứ
ba không phải qua ngời tái xuất, nhng khi đã trả tiền, ngời nhập khẩu vẫn phải
7
thông qua ngời tái xuất để trả tiền cho ngời xuất khẩu. Trong nhiều trờng hợp, ng-
ời tái xuất còn thu đợc lợi tức về tiền hàng do thu đợc nhanh và trả đợc chậm.
3. Vai trò của hoạt động nhập khẩu.
Nhập khẩu là một trong hai hoạt động cấu thành nên nghiệp vụ ngoại thơng,
là một bộ phận không thể thiếu đợc trong hoạt động ngoại thơng của mỗi quốc gia.
Nó tác động trực tiếp đến đời sống và sản xuất, thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn
nhau giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. Nó tác động tích cực đến
sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng thế mạnh nền kinh tế của mỗi quốc
gia nền kinh tế quốc gia về sức lao động, vốn, cách thức sản xuất, tài nguyên và
khoa học kỹ thuật. Đặc biệt, trong tình hình kinh tế thế giới hiện nay, các nớc
không ngừng tham gia vào các tổ chức chung để mở rộng buôn bán quốc tế, phân
công lao động quốc tế ngày càng phát triển. Do đó, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
quốc gia ngày càng lớn, việc hình thành trung tâm thơng mại, khối mậu dịch tự do
đã chứng tỏ việc lu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia ngày càng đợc hoàn thiện
và nâng cao. Khi đó vai trò của hoạt động nhập khẩu ngày càng có ý nghĩa quan
trọng đối với việc phát triển và ổn định của mỗi quốc gia, cũng nh các nớc trong
khu vực, cụ thể ở những điểm sau:
- Trớc hết, nhập khẩu là cơ sở để bổ sung hàng hoá trong nớc không sản
xuất đợc hoặc sản xuất cha đáp ứng đợc nhu cầu. Nó cho phép tiêu dùng một lợng
hàng hoá nhiều hơn khả năng sản xuất trong nớc, làm tăng mức sống của ngời dân.
Ngoài ra, nhập khẩu còn làm đa dạng các hàng loại về chủng loại và qui cách, cho
phép làm thoả mãn nhu cầu cao hơn của ngời tiêu dùng.
- Nhập khẩu tạo ra sự phát triển đồng đều về trình độ xã hội, phá bỏ tình
trạng độc quyền trong sản xuất kinh doanh trong nớc, phát huy nhân tố mới trong
sản xuất nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế có cơ hội tham gia cạnh tranh
trên thơng trờng trong khu vực cũng nh trên thế giới.
- Nhập khẩu còn có vai trò tích cực thúc đẩy xuất nhập khẩu góp phần nâng
cao chất lợng sản xuất hàng xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu
8
hàng hoá của một quốc gia, xích gần hơn với tiêu chuẩn quốc tế, hội nhập với thị
trờng trong và ngoài khu vực.
- Nhập khẩu tạo ra sự biến đối giữa nền kinh tế trong nớc với nền kinh tế thế
giới, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy lợi thế so
sánh của đất nớc trên cơ sở lợi thế so sánh của đất nớc trên cơ sở lợi thế so sánh
của chuyên môn hoá sản xuất. Đa nền kinh tế quốc gia có điều kiện hội nhập với
nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực cũng nh trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, việc phát huy hết vai trò của nhập khẩu còn phụ thuộc vào đờng
lối, phơng hớng, quan điểm của mỗi quốc gia. Việt Nam trớc đây trong thời kỳ
kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, quan hệ kinh tế quốc tế chỉ thu
hẹp trong phạm vi các nớc thuộc phe xã hội chủ nghĩa. Các quan hệ xuất nhập
khẩu chủ yếu diễn ra dới các hình thức viện trợ hoặc mua bán theo nghị định th,
do đó không kích thích đợc hoạt động thơng mại quốc tế nói chung và nhập khẩu
nói riêng phát triển. Sự tham gia quá sâu của nhà nớc đã mất đi tính linh hoạt,
uyển chuyển của hoạt động nhập khẩu, do đó không phát huy đợc vai trò của nó
trong việc phát triển kinh tế xã hội. Chủ thể của hoạt động nhập khẩu trong cơ chế
cũ là những doanh nghiệp nhà nớc độc quyền, thụ động, cơ cấu tổ chức cồng kềnh
và kém năng động. Do vậy, công tác nhập khẩu diễn ra trì trệ, không đáp ứng nhu
cầu hàng hoá trong nớc. Đứng trớc thực trạng đó tại Đại Hội Đảng lần thứ VI
(1986) Đảng ta đã mạnh dạn đa ra những cải cách có ý nghĩa quan trọng đối với
công cuộc phát triển kinh tế của nhà nớc. Đó là đa nền kinh tế của nớc ta chuyển
sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Đây
là bớc ngoặt đa nền kinh tế nớc ta hội nhập với nền kinh tế thế giới, các hoạt động
sản xuất nhập khẩu cũng bắt đầu phát huy mạnh mẽ vai trò của nó. Thực tế đã
chứng minh một cách rõ ràng sự năng động của nền kinh tế thị trờng cũng nh
khẳng định vai trò của thơng mại quốc tế nói chung và hoạt động nhập khẩu nói
riêng đến nền kinh tế nớc ta.
II. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động nhập khẩu và các công cụ
quản lý nhập khẩu.
9
1. Các nhân tố ảnh hởng tới hoạt động nhập khẩu.
a. Các chính sách và hệ thống luật pháp trong nớc và quốc tế.
Đây là những nhân tố mà doanh nghiệp buộc phải nắm rõ và tuân thủ một
cách vô điều kiện, bởi vì nó thể hiện ý chí của bộ máy Nhà nớc của một quốc gia,
sự thống nhất chung của quốc tế, bảo vệ lợi ích chung của các tầng lớp trong xã
hội, lợi ích của quốc gia trên trờng quốc tế. Hoạt động nhập khẩu của các nớc đợc
tiến hành giữa các chủ thể quốc gia khác nhau, bởi vậy, hoạt động này chịu sự tác
động của chính sách, chế độ của mỗi quốc gia đó. Đồng thời, nó cũng phải tuân
thủ những quy định, luật pháp quốc tế và tập quán nói chung. Chẳng hạn có sự
thay đổi chính sách thuế u đãi của một nớc hay một nhóm nớc không chỉ ảnh hởng
tới các nớc đó trong hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hởng tới các nớc có
quan hệ xuất nhập khẩu với các nóc đó trong các bớc ký hợp đồng, thanh toán, vận
chuyển, bảo hiểm Luật pháp quốc tế buộc các nớc vì lợi ích chung phải thực
hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ cuả mình trong hoạt động nhập khẩu. Do đó,
tạo sự tin tởng cũng nh hiệu quả trong hoạt động này.
b. Sự biến động của tỷ giá hối đoái.
Sự biến động tỷ giá hối đoái có ý nghĩa quyết định tới việc lựa chọn bạn
hàng, mặt hàng cũng nh phơng án kinh doanh và quan hệ kinh doanh của không
chỉ các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp mà còn ảnh hởng tới các doanh nghiệp
khác không tiến hành xuất nhập khẩu trực tiếp. Sự biến động của tỷ giá hối đoái sẽ
gây ra những biến động lớn trong nhập khẩu cũng nh trong xuất khẩu. Nh khi tỷ
giá hối đoái tăng lên có nghĩa là đồng bản tệ có giá trị tăng lên so với đồng ngoại
tệ. Nếu không có các nhân tố khác ảnh hởng đến thì sẽ có tác động khuyến khích
nhập khẩu vì hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn so với giá cả chung trong nớc. Trờng
hợp này tác động ngợc lại đối với hoạt động xuất khẩu.
10
Có thể nói, trong kinh doanh quốc tế nói chung và nhập khẩu nói riêng thì
việc dự đoán, lựa chọn tỷ giá hối đoái có ý nghĩa hết sức quan trọng tác động trực
tiếp tới hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
c. Sự biến động của thị trờng trong và ngoài nớc.
Hoạt động nhập khẩu nh chiếc cầu nối thông thờng giữa hai thị trờng tạo ra
sự phù hợp, gắn bó cũng nh sự tác động qua lại giữa chúng. Biểu hiện nh sự biến
động giá cả, sự tồn đọng hay giảm về nhu cầu hàng hoá nào đó tại thị trờng trong
nớc sẽ làm giảm ngay số lợng mặt hàng đó tại thị trờng nhập khẩu và ngợc lại.
Cũng vậy, thị trờng nớc ngoài quyết định tối đa sự thoả mãn nhu cầu trên thị trờng
trong nớc. Sự biến động của thị trờng nớc ngoài về khả năng cung cấp về sản phẩm
mới, sự đa dạng của hàng hoá, dịch vụ đợc phản ánh qua chiếc cầu nhập khẩu để
tác động đến thị trờng nội địa.
d. Sự ảnh hởng của nền sản xuất trong và ngoài nớc.
Sự phát triển của nền sản xuất trong nớc tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ với
hàng ngoại, tạo những sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu. Mặt khác, nếu sản xuất
trong nớc kém phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật cha đạt đến một mức độ nhất
định thì không thể sản xuất ra đợc những mặt hàng đòi hỏi công nghệ cao mà
trong nớc có nhu cầu sản xuất hoặc nếu sản xuất đợc thì chất lợng lại không đạt
yêu cầu, lúc đó nhu cầu về nhập ngoại tăng lên. Nói tóm lại, nền sản xuất trong n-
ớc dù phát triển hay không cũng ảnh hởng đến hoạt động nhập khẩu. Trong khi đó,
sự phát triển của nền sản xuất ở nớc ngoài sẽ tạo ra những sản phẩm mới và hiện
đại, sẽ thúc đẩy hoạt động nhập khẩu. Tuy nhiên, không phải lúc nào sản xuất
trong nớc phát triển thì hoạt động nhập khẩu bị thu hẹp, mà nhiều khi để tránh độc
quyền tạo sự cạnh tranh, hoạt động nhập khẩu lại đợc khuyến khích phát triển.
Còn để đảm bảo sản xuất trong nớc khi nền sản xuất ở nớc ngoài phát triển thì
hoạt động nhập khẩu sẽ bị hạn chế và bị kiểm soát nghiêm ngặt.
11
e. Hệ thống giao thông vận tải và liên lạc.
Hoạt động nhập khẩu là hoạt động kinh tế giữa các thơng nhân ở các nớc,
sự cách xa nhau về không gian là đặc điểm nổi bật. Vì vậy, nói đến hoạt động này
không thể tách dời hệ thống giao thông vận tải và liên lạc. Trong thời buổi kinh tế
thị trờng hiện nay, khi mà sự cạnh tranh diễn ra rất khốc liệt thì yêu cầu về cung
cấp hàng hoá đầy đủ, chính xác, kịp thời ngày càng trở thành nhu cầu số một. Đây
là một trong những yếu tố đầu tiên tạo niềm tin và uy tín đối với khách hàng, do
vậy các Doanh nghiệp nhập khẩu nên quan tâm tới vấn đề này hơn. Sự phát triển
của các đội tàu biển, máy bay vận tải, các tuyến đờng sắt là điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp trong việc vận chuyển, bốc xếp, bảo quản hệ thống kho bãi
góp phần làm an toàn và nhanh chóng cho quá trình nhập khẩu.
Thời đại thông tin cùng với những tiến bộ vợt bậc trong lĩnh vực này nh các
máy điện thoại tự động, điện thoại cầm tay, máy fax giúp cho các doanh nghiệp
thơng mại nhanh chóng nắm bắt thông tin về thị trờng, về hàng hoá, đơn giản hoá
công việc nhập khẩu, giảm hàng loạt chi phí, nâng cao tính kịp thời, nhanh gọn.
f. Các nhân tố thuộc về môi trờng của doanh nghiệp.
Sự biến động về môi trờng văn hoá, chính trị, xã hội, công nghệ, luôn bắt
buộc các doanh nghiệp phải có sự cân nhắc trong hoạch định chiến lợc kinh doanh
mà cụ thể ở đây là để phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp trong hoạt động
nhập khẩu. Chẳng hạn, do ảnh hởng của lệnh cấm vận Mỹ trong thời gian trớc đây
đối với Việt Nam đã làm hạn chế hoạt động nhập khẩu ở các nớc đồng minh của
Mỹ.
Phong tục tập quán trong tiêu dùng cũng nh trong kinh doanh của mỗi quốc
gia, mỗi dân tộc cũng ảnh hởng đến số lợng và chất lợng hình thức hàng hoá cũng
nh phơng án kinh doanh nhập khẩu. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ trên thế giới cũng làm đa dạng hoá chủng loại hàng hoá cũng nh hiện đại hoá
hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải, hệ thống ngân hàng cũng nh góp
phần đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu.
12
2. Các công cụ quản lý nhập khẩu của Nhà nớc.
Mỗi quốc gia trên thế giới sử dụng các công cụ khác nhau để quản lý hoạt
động nhập khẩu, có những nớc đánh thuế cao đối với nhập khẩu, có nớc lại quản
lý nhập khẩu qua quản lý ngoại tệ, qua các biện pháp phi thuế quan. Hiện nay Việt
Nam đang áp dụng những biện pháp quản lý nhập khẩu sau:
a. Thuế nhập khẩu.
Mục đích của việc đánh thế nhập khẩu là góp phần vào việc bảo vệ và phát
triển cho sản xuất, hớng dẫn tiêu dùng trong nớc và góp phần tạo nguồn thu cho
ngân sách Nhà nớc. Có nhiều cách đánh thuế khác nhau: nh thuế quan tính theo
đơn vị vật chất của hàng hoá nhập khẩu hoặc thuế quan tính theo giá trị hàng hoá,
là mức thuế tính theo tỷ lệ phần trăm của mức giá hàng hoá trả cho nhà nhập khẩu,
hay thuế quan hỗn hợp là cách tính hỗn hợp của hai loại thuế trên. ở Việt Nam,
cách tính thuế căn cứ vào số lợng hàng thực tế nhập nhân với giá tính thuế và nhân
với thuế suất của từng mặt hàng ghi trong biểu thuế.
Biểu thuế đợc xây dựng trên cơ sở chính sách quản lý nhập khẩu của mỗi n-
ớc. Mức thuế chung cho tất cả các nớc tuỳ thuộc từng mặt hàng nhng cũng có thể
tính riêng cho từng nhóm nớc. Mức thuế chỉ có thể là một, nhng cũng có thể là hai
mức: Mức thông thờng (chung cho tất cả) và mức u đãi (thuế u đãi là dành riêng
cho nớc đợc hởng quyền u đãi tối huệ quốc, đợc hởng mức thuế u đãi theo luật
định).
Việt Nam hiện nay đang áp dụng hai loại thuế sau:
- Thuế suất thông thờng: Là mức thuế đánh vào các hàng hoá nói chung
không phụ thuộc vào xuất xứ của hàng hoá từ nớc nào. Cả nớc đều dùng chung
một mức thuế.
- Thuế u đãi: áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu theo hiệp định thơng
mại đã ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với một nớc nào đó. Trong đó, có điều
13
khoản u đãi về thuế nhập cho từng mặt hàng với số lợng cụ thể. Để khuyến khích
nhập khẩu phục vụ sản xuất và nhập khẩu, luật thuế nhập khẩu Việt Nam còn quy
định các trờng hợp đợc miễn thuế với một số loại hàng nhập.
Nh vậy, việc đánh thuế nhập khẩu là bảo hộ sản xuất trong nớc và tạo
nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc. Ngoài ra, thuế nhập khẩu còn có vai trò quan
trọng trong việc bảo hộ các ngành công nghiệp còn non trẻ mới đợc hình thành ở
Việt Nam, cha đủ điều kiện để tham gia cạnh tranh quốc tế. Tuy nhiên, vấn đề cơ
bản ở đây khách hàng không chỉ là thuế suất mà còn là những biện pháp kinh tế cơ
bản, mục tiêu chính là cạnh tranh trên thị trờng thống nhất chung với năng suất và
hiệu quả cao. Hệ thống thuế phải làm sao khuyến khích đợc sản xuất trong nớc và
thu hút đầu t. Thuế cần đơn giản để mọi ngời hiểu đợc nghĩa vụ của mình. Thuế
chồng lên thuế sẽ là một yếu tố làm tăng giá thành, làm giảm tính cạnh tranh của
hàng sản xuất trong nớc.
b. Hạn ngạch nhập khẩu (Quota)
Hạn ngạch nhập khẩu là một công cụ phổ biến trong hàng rào phi thuế
quan. Nó đợc biểu hiện là mức quy định của Nhà nớc về số lợng cao nhất của một
mặt hàng hay một nhóm mặt hàng đợc phép nhập khẩu từ một thị trờng trong một
thời gian nhất định (thờng là một năm) thông qua hình thức cấp giấy phép.
Hạn ngạch nhập khẩu là một hình thức hạn chế về số lợng nhập khẩu, do
vậy, nó gây ảnh hởng đến giá cả nội địa của hàng hoá. Khi hạn ngạch nhập khẩu
đợc quy định cho một loại hàng hoá đặc biệt nào đó thì Nhà nớc đa ra một định
ngạch (tổng định ngạch) nhập khẩu hàng hoá đó đến từ đâu. Nếu hạn ngạch định
cho cả mặt hàng và thị trờng thì hàng hoá đó chỉ đợc nhập từ thị trờng đã định với
số lợng bao nhiêu trong thời gian bao lâu. Việc áp dụng hạn ngạch trong quản lý
nhập khẩu nhằm:
- Bảo hộ sản xuất trong nớc: Về mặt này, hạn ngạch sẽ tăng lên do hạn
ngạch nhập khẩu tơng đối giống thuế nhập khẩu. Giá nội địa sẽ tăng lên do hạn
ngạch nhập và nó cho phép các nhà sản xuất trong nớc thức hiện một quy mô sản
xuất với hiệu quả thấp hơn là so với điều kiện thơng mại tự do. Đối với Chính phủ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét