Các đại lí vận tải cũng thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu và phát triển nhiều loại hình
dịch vụ giao nhận hàng hóa đến tận tay người nhận. Khi các công ty xuất khẩu thông qua các
đại lí vận tải hay các công ty chuyển phát hàng thì các đại lí và các công ty đó cũng làm các
dịch vụ xuất nhập khẩu liên quan đến hàng hóa đó. Bản chất của các đại lí vận tải họat động
như các công ty kinh doanh dịch vụ giao nhận vận chuyển và dịch vụ xuất nhập khẩu, thậm chí
cả dịch vụ bao gói hàng hóa cho phù hợp với phương thức vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hóa
cho hoạt động của họ.
2. ích lợi của xuất khẩu.
a. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghIệp hóa – hiện
đại hóa đất nước.
Công nghiệp hóa đất nước theo những bước đi thích hợp là tất yếu để khắc phục tình
trạng nghèo và chậm phát triển ở nước ta. Để công nghiệp hóa đất nước trong một thời gian
ngắn đòi hỏi phải có một số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc và thiết bị công nghệ tiến tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như : Đầu tư nước
ngoài, vay, viện trợ, thu hút từ họat động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ, xuất khẩu sức lao
động…
Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay, viện trợ… tuy quan trọng nhưng rồi cũng
phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này. Nguồn vốn quan trọng để nhập khẩu
cho đất nước là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu.
ở nước ta thời kỳ 1986- 1990 nguồn thu về xuất khẩu đảm bảo trên 55% nhu cầu ngoại tệ cho
nhập khẩu. Tương tự thời kỳ 1991 – 1995 và 1996 – 2000 là 75.3% và 84.5%. Trong tương lai
nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên, nhưng mọi cơ hội đầu tư và vay nợ của nước ngoài và các tổ
chức quốc tế chỉ thuận lợi kinh các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu
– nguồn vốn duy nhất để trả nợ thành hIện thực.
b. Xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ. Đó là
thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu
đối với nước ta.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
- Một là: Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do cung vượt quá nhu cầu
nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu như nước ta sản xuất về cơ bản còn chưa đủ
tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động về sự “ thừa ra ” của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé tăng
trưởng chậm chạp sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp.
- Hai là: Coi thị trường mà đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ
chức sản xuất. Quan điểm thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu thị trường thế giới để tổ chức
sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển, sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội để phát triển thuận lợi: Chẳng
hạn khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển ngành sản xuất
nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm. Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực
phẩm xuất khẩu, dầu thực vật, chè… có thể kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế
tạo thiết bị phục vụ cho nó.
Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất phát triển
và ổn định.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao
năng lực sản xuất trong nước.
Xuất khẩu tạo ra nhiều tiền đề kinh tế – kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản
xuất trong nước. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ
5
thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế đất nước –
Tạo ra một năng lực sản xuất mới.
Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường
thế giới về giá cả và chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lạisản xuất
và hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với thị trường.
Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc
quản trị sản xuất – kinh doanh, thúc đẩy sản xuất và mở rộng thị trường.
c. Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống
nhân dân.
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm nhIều mặt. Trước hết sản xuất hàng xuất
khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc – có thu nhập không thấp. Xuất khẩu còn
tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ cuộc sống và đáp ứng
ngày một phong phú hơn nhu cầu tIêu dùng của nhân dân.
d. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngọại của nước
ta.
Xuất khẩu và quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Có thể
hoạt động xuất khẩu có sớm hơn hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy
các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc
đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư và mở rộng vận tải quốc tế. Mặt khác chính các quan hệ kinh tế
đối ngoại trên lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
3. Nhiệm vụ của xuất khẩu.
Xuất phát từ mục tiêu chung của xuất khẩu là xuất khẩu để nhập khẩu đáp ứng nhu cầu
của nền kinh tế. Nhu cầu của nền kinh tế đa dạng: phục vụ cho công nghiệp hóa đất nước, cho
tiêu dùng, cho xuất khẩu và tạo thêm công ăn việc làm.
Xuất khẩu là để nhập khẩu do đó thị trường xuất khẩu phải gắn với thị trường nhập
khẩu. Phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường để xác định phương hướng tổ chức nguồn nhập
khẩu hàng thích hợp.
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, hoạt động xuất khẩu cần hường vào thực hiện các mục tiêu
sau:
- Phải ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước ( đất đai, tài nguyên thiên
nhiên, cơ sở vật chất, nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa xuất khẩu để tăng nhanh khối lượng
và kim ngạch xuất khẩu.
- Tạo ra những mặt hàng ( nhóm hàng ) xuất khẩu chủ lực đáp ứng những đòi hỏi của thị
trường thế giới và của khách hàng về chất lượng và số lượng có sức hấp dẫn và khả năng cạnh
tranh cao.
II. Hoạt động xuất khẩu thủy sản của ngành thủy sản VIệtNam.
1. Nội dung của hoạt động xuất khẩu thủy sản.
- Tiến hành nghiên cứu thị trường xuất khẩu thủy sản: Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy
sản tiến hành nghiên cứu thị trường mà mình có ý định thâm nhập. Nghiên cứu, phân tích mọi
mặt của thị trường: Kinh tế, chính trị, văn hóa, thị hiếu tiêu dùng về mặt hàng thủy sản.
- Tiến hành lựa chọn mặt hàng xuất khẩu phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp muốn
thâm nhập vì mỗi thị trường có đặc điểm riêng về nhu cầu sản phẩm – Thực hiện cung cấp sản
phẩm thủy sản theo nhu cầu của thị trường.
- Lựa chọn bạn hàng kinh doanh.
- Lựa chọn phương thức giao dịch.
- Tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng.
- Thực hiện hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh tóan.
6
2. Tổ chức quản lí hoạt động xuất khẩu thủy sản.
Hiện nay thủy sản đang là một ngành mũi nhọn của kinh tế đất nước. Chúng ta đã xác định
rõ vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân. Nó được coi như là sự tổng hợp của
bộ phận công nghiệp và nông nghiệp – có vai trò trong quá trình tái sản xuất mở rộng.
Ngành thủy sản đang tiến hành xây dựng một bộ máy tinh giảm gọn nhẹ nhưng đạt hiệu
quả cao với hệ thống cơ chế chính sách ngày càng hoàn thiện để tái tạo một mặt bằng thông
thoáng từ trung ương tới địa phương, đưa công tác quản lí nhà nước đi vào chiều sâu, phù hợp
với kinh tế thị trường, tăng khả năng hội nhập của ngành.
Đối với họat động xuất khẩu, ngành thủy sản tiến hành quản lý thông qua luật thủy sản mới
ban hành – Tiến hành ổn định môi trường kinh doanh thủy sản, tạo hành lang pháp lý cho họat
động đầu tư kinh doanh, kiểm soát hoạt động kinh doanh từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến
thương mại. Tiếp tục thực hiện một cách đồng bộ các Luật như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư
nước ngoài, Luật thương mại…
III. Thị trường Trung Quốc và các nhân tố ảnh hưởng tới việc xuất khẩu thủy sản sang thị
trườngTrung Quốc.
1. Thị trườngTrung Quốc.
a. Đặc đIểm về kinh tế.
Trung quốc đang hòan thiện hệ thống thể chế kInh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Trung
quốc là một nước lớn có nhIều khu vực hành chính có những đặc điểm rất khác nhau về tiềm
năng và nhu cầu, mỗi khu vực có thế mạnh riêng. Trung quốc là là thành viên của WTO và
nhiều tổ chức quốc tế.
Trung Quốc ưu tiên phát triển các đặc khu kinh tế và sau này các đặc khu kinh tế được phát
triển thành những trung tâm thương mại lớn, các cơ sở gia công xuất khẩu tiên tiến, những khu
sinh hoạt có chất lượng cao với đầy đủ tiện nghi phục vụ, những trung tâm thông tin quốc tế
lớn.
Trung Quốc tiến hành mở cửa các của khẩu kinh tế.Trung Quốc rất chú trọng đến việc phát
triển các hoạt động biên mậu. Chính phủ Trung Quốc tiến hành đổi mới bộ máy tổ chức ngoại
thương ngày càng gọn nhẹ, giảm bớt rườm rà trong thủ tục hành chính, giúp cho hoạt động
xuất khẩu thuận lợi. Tiến hành đưa quyền tự chủ kinh doanh xuống địa phương và thực hiện
chế độ khoán ngoại thương.
Tiến hành cải cách thể chế kế hoạch ngoại thương từ chế độ hai chiều sang chế độ một
chiều là chính. Chính phủ thực hiện chế độ buông lỏng quan hệ tài vụ ngoại thương, tách rời sự
bó buộc tài chính giữa trung ương với địa phương. Trung Quốc thực hiện chế độ phân phối lại
lợi nhuận ngoại thương với biện pháp khóan rộng, đưa mức khoán thu ngoại tệ xuất khẩu cho
toàn bộ doanh nghiệp ngọai thương các cấp, các loại hình nộp lợi nhuận và ngoại tệ theo hệ số
cơ bản, đồng thời khóan doanh số cho các xí nghiệp.
b. Đặc điểm về chính trị.
Trung Quốc là nước đi theo thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa. Thực hiện lí thuyết 3 nhân tố:
Lí luận chủ nghĩa Mác – Lê nin, Tư tưởng Mao Trạch Đông, đường lối Đặng Tiểu Bình. Trung
Quốc thực hiện chủ chương đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế đối gnoại và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Tham gia vào rất nhiều các tổ chức kinh tế – chính trị trên
thế giới, ngày càng mở rộng và khẳng định vai tò của một nước đông dân nhất trên thế giới.
c. Đặc điểm và luật pháp.
Trung Quốc sử dụng công cụ về thuế, chính sách trợ cấp xuất khẩu, hỗ trợ về tài chính,
chính sách tỷ giá hối đoái, hỗ trợ xúc tiến thương mại. Đối với công cụ thuế, Trung Quốc áp
dụng như là một ông cụ để bảo hộ sản xuất trong nước.
d. Đặc điểm về văn hóa con người.
7
Người tiêu dùng Trung Quốc ưa những sản phẩm nhạp ngoại có công nghệ cao, mặc dù
người Trung Quốc rất coi trọng hàng xuất trong nước. Hàng nhập khẩu vẫn được ưa thích hơn
và họ vẫn chọn mua hàng nhập khẩu nếu có khả năng, nhất là những mặt hàng có công nghệ
cao.
Nhu cầu của thị trường Trung Quốc khá đa dạng và được xem là thị trường khá dễ tính
do các tầng lớp dân cư khác nhau, có thu nhập khác nhau. Đây là thị trường đặc trưng bởi sự
tồn tại của các loại hàng hóa có quy cách và chất lượng khác nhau xa đến mức mà gIá cả chênh
lệch nhau hàng chục thậm chí hàng trăm lần.
Các doanh nhân Trung Quốc thì thích làm “ biên mậu ” vì theo hình thức này họ được
hòan thuế giá trị gia tăng tới 50%.
2. Thị trường thủy sản Trung Quốc.
a. Tình hình khai thác và nuôi trồng thủy sản Trung Quốc.
Sau khi cải cách mở của trong vòng 20 năm, từ 1979 – 1999 giá trị sản xuất của ngành hải
sản trung quốcbình quân mỗi năm tăng 22,25%. Năm 1979 giá trị sản xuất của ngành hải sản
chỉ chiếm 0,7% GDP nhưng đến năm 1999 đã tăng lên đến 2,4% bao gồm cả hải sản đánh bắt
và nuôi trồng. Tổng sản lượng hải sản của Trung Quốc năm 1999 là hơn 40 triệu tấn- đứng
đầu thế giới.
Nằm ở khu vực Đông Nam á, với hơn 18.000 km tiếp giáp với biển thái bình dương và hơn
500 hòn đảo lớn nhỏ: Trung Quốc là nước có tiềm năng phát triển thủy sản hiện đại nhất nhì
thế giới. Bên cạnh đó lại là một nước đông dân nhất thế giới, Trung Quốc không thể không lấy
phát triển thủy sản làm chỗ dựa cho hàng tỷ con người. Trong vòng 10 năm qua nhờ đầu tư có
trọng điểm – Trung Quốc đã chiếm gần 30% tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản
toàn cầu. Trở thành nước nuôi trồng thủy sản lớn nhất thế giới.
Hơn nữa trong chiến lược phát triển nghề cá của mình Trung Quốc đã khẳng định chiến
lược phát triển “ đi ra bên ngoài ”. Trung Quốc đã ký nhiều hiệp định hợp tác về nghề cá với
các nước. Chẳng hạn theo hệp định nghề cá đã ký với Myamar nước này cho phep tàu đánh cá
của Trung Quốc vào khai thác trong vùng biển của Myamar. Phương châm của Trung Quốc là:
Lúc đầu họ đóng góp cho đối tác, giúp đỡ đối tác rồivề sau thực hiện hai bên cùng có lợi. Họ
cho rằng mục tiêu của ngành thủy sản Trung Quốc là không những phải bảo vệ và sử dụng hợp
lí tài nguyên mà phải còn thông qua sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi, mở ra việc sử dụng tài
nguyên nghề cá của các nước khác và công hải.
Sản lượng thủy sản Trung Quốc giai đoạn 1990 – 2000.
( ĐVT : 1000 tấn )
Năm Sản lượng
Trong đó
Khai thác Nuôi trồng
1990 14.602 6.650 7.952
1991 19.620 7.360 12.260
1992 19.625 8.310 11.315
1993 24.261 9.280 14.981
1994 27.957 10.860 17.097
1995 32.567 12.550 20.017
1996 36.377 14.170 22.207
1997 39.739 15.710 24.029
8
1998 44.301 17.230 27.071
1999 47.284 17.240 30.044
2000 41.520 16.980 24.540
Nguồn: FAO, Report, FAO Rome 7/ 2002.
Để bảo vệ nguồn lợi hải sản Trung Quốc đã thực hiện theo kế hoạch là mức tăng trưởng
sản lương khai thác bằng 0. Mặc dù là quốc gia khai thác hải sản số 1 thế giới nhưng nước này
đã không tăng sản lượng từ năm 2000.
ở Trung Quốc chính phủ thi hành lệnh cấm khai thác hải sản tại khu vực biển Đông
mặc dù khu vực này là ngư trường khai thác hải sản rất quan trọng của Trung Quốc, tập trung ở
các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam, sản lượng khai thác hàng năm chiếm 1/3 sản
lượng khai thác toàn quốc. Để bảo vệ nguồn lợi hải sản Chính Phủ nước này còn tiến hành
ngưng khai thác ở từng vùng biển vào từng thời gian thích hợp trong năm.
a. Tình hình chế biến xuất khẩu thủy sản Trung Quốc.
Trung Quốc đang nổi lên như thị trường thủy sản lớn nhất châu á, vừa nhập để tiêu thụ
trong nước, vừa để tái xuất. Tuy phát triển thủy sản nhanh chóng nhưng Trung Quốc vẫn chưa
đảm bảo được nhu cầu về cá mà vẫn phải nhập khẩu vì dân đông và mức tiêu dùng bình quân
cao hơn so với thế giới. Năm 1999 Trung Quốc nhập khẩu 1,35 triệu tấn thủy sản và xu hướng
nhập khẩu thủy sản Trung Quốc vẫn tiêp tục gia tăng. Để cân đối Trung Quốc rất quan tâm đến
vIệc phát trIển xuất khẩu thủy sản.
Nhưng chất lượng hải sản Trung Quốc thì lại có vấn đề ( lượng vi sinh vật hoặc lượng
thuốc kháng sinh vượt mức qui định ) nên khi xuất khẩu thường bị nước ngoài từ chối nhận
hàng. Một số xí nghiệp chế biến hải sản tuy đã được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn
HACCP ( Hazard Analysic and Critical Control Pint ) nhưng sản phẩm xuất khẩu của họ vẫn
không phù hợp với yêu cầu của nước nhập khẩu bởi vì tiêu chuẩn nhập khẩu hải sản của những
nước đó ( Nhật bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU ) đều tương đối cao.
Theo các chuyên gia nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do môi trường nuôi bắt hải
sản. Cụ thể là nước bẩn sinh hoạt ở các thành phố, nước bẩn công nghiệp đã làm cho các vùng
nước cận hải bị ô nhiễm. Qua xét nghiệm người ta phát hiện trong nước biển ở những vùng
cận hải Trung Quốc thường có chất đạm vô cơ và phốt phát hoạt tính. Hơn nữa trong nước biển
ở vùng vịnh và vùng cận hải Trung Quốc còn nhiều sinh vật có hại. Ngoài ra trong quá trình
nuôi hải sản thức ăn dùng cho tôm, cá chất bẩn do tôm, cá bài tiết ra, các loại thuốc hóa học
cũng làm cho các vùng nước nuôi hải sản bị ô nhiễm. Theo đánh gIá sơ bộ, mỗi tuần động vật
nhuyễn thể thường thải ra 6 – 8 tấn chất bẩn.
ở nhiều nơi tại Trung Quốc, các hộ nuôi cá lồng, vì muốn tranh thủ sử dụng nhiều mặt
nước, đã bố trí lồng cá dày đặc và số lượng cá nuôi trong lồng cũng nhiều, khiến cho mặt nước
bị ô nhiễm nghiêm trọng, chất lượng nước kém. Khi một lồng cá có bệnh thì rất dễ truyền sang
lồng khác. Việc nuôi thủy sản trong lồng với mật độ cao, cũng làm cho sự lưu thông dòng chảy
ở những vùng nước nuôi thủy sản bị ảnh hưởng khiến cho môi trường nuôi trồng hải sản càng
bị ô nhiễm, tuần hoàn năng lượng bị cản trở, tốc độ sinh trưởng của hải sản chậm và hải sản
sinh bệnh.
Việc đánh bắt hải sản quá mức cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế biển
vì nó làm thay đổi cơ cấu chủng loại hải sản, phá hoại hệ thống sinh thái, số lượng sinh vật
không thuộc đối tượng đánh bắt tăng nhanh.
b. Tình hình xuất nhập khẩu thủy sản Trung Quốc.
9
Theo tài liệu của FAO, từ năm 1995 đến năm 1997 nhu cầu thế giới về thủy sản tăng 14
triệu tấn, nhưng từ năm 1997 sản lượng đánh bắt hải sản không tăng nữa. Trong tương lai, biển
là nguồn cung cấp thực phảm chủ yếu cho nhân loại và ngành nuôi hải sản là ngành quan trọng.
Toàn cầu hóa kinh tế thế giới và tự do hóa thương mại là xu thế tất yếu của quá trình phát triển
kinh tế thế giới. Sau khi gia nhập WTO Trung Quốc phải thực hiện những quy định của tổ
chức này đồng thời tham gia xây dung những quy tắc mới về mua bán thủy sản quốc tế, phát
huy hơn nữa vai trò tích cực của mình trong việc phát triển kinh tế thế giới. Rồi đây những
tranh chấp về thương mại liên quan đến các quy tắc của WTO và tiêu chuẩn về phương pháp
chế biến và sản xuất PPM, sẽ càng thêm gay gắt. Tháng 7/1997 EU căn cứ vào báo cáo của tổ
chức y tế thế giới quyết định cấm nhập khẩu cá quạt của Trung Quốc. Sản lượng cáquạt của
Trung quốc chiếm 80% tăng sản lượng cá quạt của thế giới. Việc làm này của EU đã gây thiệt
hại cho cho các nhà nhập khẩu và tiêu dùng châu âu. Mặc dù những lí do mà EU đưa ra chưa
xác đáng, nhưng lúc đó Trung quốc chưa ra nhập WTO nên vấn đề đã không được giải quyết
một cách đúng đắn. Qua nhiều lần bàn bạc mãi đến năm 1999, EU mới cử đoàn điều tra sang
Trung Quốc và sau đó mới khôi phục việc nhập khẩu lại cá quạt từ Trung Quốc. Điều đó
chứng tỏ, mặc dù tiêu chuẩn PPM chưa thật hợp lí, nhưng nó đã được các nước phát triển thừa
nhận nên Trung Quốc vẫn phải coi trọng.
Xuất nhập khẩu Trung Quốc giai đoạn 1995 – 2000.
Xuất khẩu Nhập khẩu
Năm
Sản lượng
( Triệu tấn )
Giá trị
( Tỷ USD)
Sản lượng
( triệu tấn )
Giá trị
( Tỷ USD )
1995 0,739 0,329 1,340 0,96
1996 0,802 0,305 1,387 1,20
1997 0,922 0,314 1,513 1,21
1998 1,003 2,810 1,141 1,02
1999 1,348 3,140 1,309 1,29
2000 1,534 3,830 2,520 1,85
Nguồn: Song Shuyi – Chủ tịch Kingdom. Group – Hội thảo quốc tế về thủy sản.
Sau khi ra nhập WTO, Trung quốc sẽ không còn bị phân biệt đối xử, những rào cản hành
chính mà một số nước dung lên trong quan hệ thương mại với Trung Quốc sẽ bị dỡ bỏ, chi phí
trong việc mua bán thủy sản sẽ giảm bớt. Trung quốc sẽ có điều kiện nhập khẩu kỹ thuật nuôi,
bắt và chế biến thủy sản tiên tiến của nước ngoài, nâng cao năng suất lao động trong ngành
thủy sản, tăng cường năng lực cạnh tranh.
b. Nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng thủy sản Trung Quốc.
VớI 1,3 tỷ dân, có nhu cầu đa dạng về các mặt hàng thủy sản như tôm ,cá tươi sống, vi
bóng cá, bào ngư, trai ngọc, hải sâm, bông thùa, mực khô. Đặc biệt là cá ướp muối được tiêu
thụ rất mạnh ở các tỉnh giáp biên giới.
Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu lớn vì thị trường này vừa nhập để tiêu dùng trong
nước, vừa nhập để tái xuất. Các thành phố lớn có nhu cầu nhập khẩu nhiều tôm hùm, tôm sú,
cá ngừ, mực… đi theo chính sách nhập để tái xuất Trung Quốc có nhu cầu nhập nhiều nguyên
liệu thô.
c d. Quy chế quản lý xuất nhập khẩu thủy sản Trung Quốc.
10
Trung Quốc mới đây đã đưa ra một loạt các quy định mới, áp dụng từ 30/6 về ghi nhãn,
bao gói và chứng nhận về kiểm kê hàng hóa, kiểm dịch ( Nhãn phải ghi rõ tên thông thường,
phương thức khai thác, hàng nhập khẩu sẽ bị trả lại hoặc tiêu hủy nếu không trùng khớp với
giấy chứng nhận ) gây nhiều khó khăn đối với việc xuất khẩu hàng thủy sản của ta nhất là với
hàng tiểu ngạch.
Theo hiệp định khung đã ký kết về khu vực mậu dịch tự do Asean – Trung quốc từ
1/7/2003 nước này sẽ hạ mức thuế nhập khẩu các mặt hàng thủy sản thuộc chương 3. Đối vời
hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc, Trung Quốc sẽ thực hiện việc cắt
giảm thuế quan khoảng 25% so với trước đây.
3. Những nhân tố ảnh hưởng tới việc xuất khẩu thủy sản vào thị trường Trung Quốc.
a. Những nhân tố thuận lợi.
- Về đặc điểm thị trường Trung quốc: Trung quốc là một thị trường lớn, dân số chiếm
1/5 dân số thế giới. Đây là một thị trường đầy tiềm năng cho xuất khẩu thủy sản Việt nam.
Kinh tế Trung quốc đang trên đà tăng trưởng mạnh. Nhu cầu về thủy sản của Trung Quốc
tăng cao với chất lượng từ thấp lên đến cao. Theo dõi mấy năm gần đây các nhà quan sát
thị trường cho thấy trong bữa ăn của người Trung quốc đang nghiêng về tiêu dùng hải sản,
mức tiêu dùng bình quân đầu người năm 1998 là 18 kg, năm 2000 là 23 kg, năm 2001 lên
khoảng 25- 30 kg. Đây chính là một cánh cửa mở rộng cho thủy sản Việt nam thâm nhập
dễ hơn vào thị trường Trung quốc. Tầng lớp giàu đòi hỏi hải sản phải có “chất lượng cao”
bởi họ sính hàng nhập khẩu hơn hàng sản xuất trong nước. Còn lại đa số người dân trung
quốc có thu nhập trung bình lại chỉ cần hàng thủy sản ở mức bình dân, hòan toàn không
khắt khe về chất lượng sản phẩm, họ thích ăn hàng khô muối. Đặc biệt là vài tỉnh giáp biên
giới có mặt hàng cá ướp muối có hương vị đặc biệt mà chỉ có người trung quốc ưa dùng.
Nắm bắt được nhu cầu ấy, nhanh chóng sản xuất những mặt hàng thích ứng cho tong
đối tượng tiêu dùng thâm nhập sâu hơn nữa thị trường Trung quốc, do vậy mà giá trị hàng
thủy sản Việt Nam vào Trung quốc trong những năm gần đây luôn đạt mức tăng năm sau
cao hơn năm trước.
- Về vị trí địa lí: Việt Nam là nước có chung biên giới với Trung quốc nên có quan hệ
buôn bán từ lâu đời, việc nắm bắt và hIểu đặc tính và nhu cầu của người Trung quốc trở
nên dễ dàng hơn. VIệt nam có thể vận chuyển thủy sản cả đường bộ và đường biển với thời
gian và quãng đường ngắn.
Việt nam có nhiều cửa khẩu kinh tế với trung quốc như : Tân thanh ( Lạng sơn ), Móng cái
( Quảng ninh )… mà đặc biệt đối với ngành thủy sản thì cửa khẩu Móng cái là một cửa
khẩu quan trọng: thứ nhất đây là một của khẩu mà hàng hóa lưu chuyển với tốc độ lớn, thứ
hai Quảng ninh là một tỉnh có tiềm năng thủy sản đứng thứ hai trong vùng đồng bằng Sông
Hồng. Sản lượng thủy sản của vùng đạt được 25.000 – 30.000 tấn/ năm, trong đó 80% từ
khai thác. Quảng ninh là một thị trường thủy sản sôi động, thủy sản khai thác được tập
trung để xuất khẩu, cả chính ngạch, tiểu ngạch và lậu qua biên giới, hàng năm thu về 38 –
40 triệu USD. Điều thuận lợi nữa là khi giao lưu buôn bán nếu một nước có cảng biển thì
chi phí thấp hơn so với những nước không có cảng biển- Việt nam lại có cảng Hải phòng
gần Trung Quốc.
- Về quan hệ kinh tế: Tháng 11/2002 các nước Asean và Trung Quốc đã ký kết với
nhau hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa Asean – Trung quốc vào năm 2010
theo đó “ Chương trình thu hoạch sớm ” đã được ký kết. Theo tiến trình này kể từ ngày
1/1/2004 Việt nam và Trung quốc sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu với lộ trình cắt giảm kéo
dài dần dần đến năm 2008. Hầu hết các mặt hàng tham gia vào chương trình này là các
mặt hàng nông sản, rau quả, thủy sản. Từ năm 2002 hàng hóa xuất khẩu từ Việt nam vào
Trung Quốc sẽ được hưởng ưu đãi cụ thể thuế suất trung bình giảm 25% so với trước đây.
11
Tháng 3/2002 phía Trung quốc đã chính thức thông báo cho Bộ Thương Mại Việt Nam về
việc Trung Quốc cho hưởng ưu đãi tối huệ quốc ( MFN ) đối với thuế suất hàng nhập khẩu
vào Trung quốc theo chuẩn mực của tổ chức thương mại thế giới ( WTO ).
c. Những nhân tố bất lợi.
Về phía Trung Quốc:
Đứng trước chất lượng thủy sản của mình còn kém nên Trung Quốc cần có một
thời gian quá độ. Mấy năm nay bộ nông nghiệp Trung Quốc đã có những quy định về bảo
vệ tài nguyên thủy sản, nhưng chưa có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về xuất nhập khẩu
thủy sản.
Trong vòng 5 năm ( 2001- 2005 ) nhu cầu tiêu dùng thủy sản của Trung Quốc có
thể vượt EU nhưng chỉ đứng sau Mỹ và Nhật. Đây là những cơ hội lớn cho ngành thủy sản
nước ta. Tuy nhiên cũng phải thấy thị trường này không phải là không có những trở ngại.
Theo các doanh nghiệp Việt Nam cho biết trở ngại lớn nhất trong việc giao thương với
Trung Quốc hiện nay là đàm phán, buôn bán. Người Trung Quốc có thói quen mặc cả rất
nhiều do vậy “ giá chót ” thực tế mới là giá khởi điểm để đàm phán, điều này đòi hỏi các
chuyên viên đàm phán của ta phải rất nhẫn nại, phải xác định được đối tác có phải là người
quyết định cuối cùng không.
Trung Quốc quản ngoại tệ rất chặt nên số lượng các công ty Việt Nam được phép
thanh toán bằng USD rất hạn chế và hầu hết là Trung Quốc chưa thực hiện phổ biến theo
thông lệ quốc tế bằng L/ C. Xét về mức độ an toàn trong thương mại thì việc thanh toán
theo đường biển có nhiều rủi ro. Hơn nữa mức thuế đánh vào mặt hàng hải sản nhập khẩu
thường cao hơn thị trường Mỹ, Nhật và các nước châu á khác.
Trở ngại là vậy nhưng không phải là không có các cách để vượt qua. Vấn đề là nghiên
cứu kỹ các đối tác, hiểu biết cặn kẽ môi trường kinh doanh tìm phương thức ứng xử hợp lí
sẽ giành thắng lợi. Việc chiếm lĩnh thị trường Trung Quốc phải tốn nhiều công sức, thời
gian để tìm các đối tác đáng tin cậy cho doanh nghiệp, nên doanh nghiệp thủy sản Việt
Nam đang có nhIều nỗ lực trong việc tiếp cận, lựa chọn những công ty, tập đoàn lớn có đủ
uy tín và năng lực thương mại để thiết lập quan hệ mua bán lâu dài.
Về phía Việt Nam:
Đối với chúng ta trở ngại lớn nhất là thủ tục hải quan tại các khu vực cửa khẩu. Cho
đến nay chúng ta vẫn còn lấn cấn về quy chế và chính sách, không thông thoáng linh hoạt
như phía Trung Quốc. Trung Quốc không quan tâm đế chính ngạch và tiểu ngạch, miễn có
lợi là làm. Họ sãn sàng đưa cơ chế vào chỗ khó khăn, ví dụ hàng hóa qua cửa khẩu Bắc
Luân chịu thế 100% thì qua bằng đường sông chỉ 50%.
Mặc dù QĐ 53 dù có tạo cơ chế thông thoáng nhưng lại không có văn bản hướng dẫn,
nên hàng nào sang được Trung Quốc thì sang có khi còn bị giam giữ bất chợt. Việc thông
quan của ta còn nhiều hạn chế, trong khi Trung Quốc xuất hàng đi bất kể chỗ nào đi được.
Chính sách thuế của ta còn lủng củng do điều hành, nên có lúc phía Trung Quốc ép gIá do
hàng bị ứ, khiến cho phía doanh nghiệp Việt Nam tự phá giá của nhau.
Chương II: Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Trung
Quốc.
I.Tổng quan về thủy sản Việt Nam.
1. Tình hình phát triển của ngành thủy sản Việt Nam.
a. Tiềm năng của ngành thủy sản việt Nam.
* Tiềm năng về tài nguyên:
12
+ Điều kiện tự nhIên: Việt nam có bờ biển dài 3260 km, 12 đầm, phá, 112 của sông,
lạch, trong đó 47 cửa có độ từ 1,6 – 3,0 m để đưa tàu cá có công suất 140cv ra vào khi có
thủy triều. Hệ thống 4000 hòn đảo, đặc biệt 2 quần đảo hoàng sa và Trường sa có thể xây
dung được các cơ sở hạ tầng khai thác xa bờ, nuôi trồng thủy sản và bảo vệ an ninh tổ
quốc.
Biển Việt nam bao gồm: (1) vùng nội thủy và lãnh hải rộng 226000 km
2
,(2) vùng biển đặc
quyền kinh tế rộng 1000.000 km
2
. Có nhiều vũng, vịnh kín gió cho tàu thuyền trú đậu và để
nuôi hải sản. Các đảo Bạch long vĩ, Lý sơn, Phú quý, Côn đảo,Phú quốc, Hòn khoai, Thổ
chu…thuộc những ngư trường lớn rất thuận lợi cho khai thác hải sản.
Căn cứ vào đặc đIểm địa hình va khí tượng thủy văn, có thể chia vùng biển và giải ven
bIển thành 3 vùng: Vùng vịnh bắc bộ, Vùng biển miền trung, Vùng biển nam bộ.
Vùng Vịnh bắc bộ:
- Được xác định từ vĩ tuyến 17
0
N trở lên với diện tích 88.675 km
2
( phần biển của việt
nam ở phía tây kinh tuyến 108
0
03
’
13
’’
), vùng vịnh bắc bộ tiếp nhận phù sa của hệ thống
sông Hồng, sông thái Bình và các sông bắc trung bộ, bao bọc 3 phía bằng đất liền, có thềm
lục địa phẳng hơi lòng chảo, đáy là bùn cát, độ sâu dướI 10m, rất thuận tiện cho nghề khai
thác bằng lưới kéo.
- Vịnh chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa đông bắc. Khi có gió mùa đông bắc, nhiệt độ
không khí và nước biển hạ thấp, biển thường có sang lớn cá chuyển ra khơi xa nhưng tàu
thuyền lại không ra khơi được. Từ tháng 6 – 10 thường có bão và áp thấp nhiệt đới, ảnh
hưởng xấu đến nuôi trồng thủy sản và khai thác hải sản. Số ngày ra khơi bình quân hàng
năm chỉ đạt khoảng 240 ngày.
- Chế độ thủy triều: nhật triều thuần nhất với bIên độ 3.2 – 3.6 m. thủy triều lên đưa nước
biển lấn sâu vào các cửa sông tạo nên hệ nước lợ với hệ sinh thái đa dạng, giàu dinh dưỡng,
nguồn nước cũng được thay đổi thường xuyên rất thuận lợi cho nuôi thủy sản nước mặn,
lợ.
- Tính chất gió mùa: Gió mùa đông bắc từ tháng 10 – tháng 3 làm thời tiết khô, lạnh ảnh
hưởng đến nuôi trồng thủy sản. Trong thời gian giao chuyển giữa gió đông bắc và gió tây
nam thì gIó êm( GIó yếu ),thuận lợi cho khai thác đặc biệt là nghề lưới vây và mành.
Vùng biển miền trung.
- Đặc điểm: Thềm lục địa vùng biển miền trung là hẹp và dốc, chất đáy là bùn cát trộn
lẫn vỏ sò, sâu đột ngột ( cách bờ 30 – 50 hải lí đã có độ sâu 600 – 700 m ), do đó không
thuận lợi cho nghề khai thác cá đáy. Những nghề khai thác cá nổi như mành chà, mành đèn,
lưới rê… là nghề truyền thống của ngư dân.
- Chế độ thủy triều: Có cả nhật triều và bán nhật triều không đều. ở ninh thuận và bình
thuận chỉ có chế độ bán nhật triều, biên độ kỳ nước cường từ 1.2 – 2.2 m, kỳ nước kém từ
0.5 – 1.0 m.
- Vùng này nhiều đầm phá có thể tận dụng mặt nước để nuôi hủy sản mặn, lợ dạng
lồng, bè rất tốt. Sông thường ngắn và đổ ra biển với tốc độ khá lớn.
- Chịu ảnh hưởng của nhiều cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới hàng năm. Mưa, gió, lũ lớn
nhiều khi tràn vào đất liền, cửa sông gẫy ngập úng, phá vỡ các cống đập của các ao đầm
nuôi tôm. Tuy nhiên nước mưa thoát nhanh, nước biển tràn vào 4- 5 ngày sau mưa bão nên
độ mặn của nước biển khá ổn định thuận lợi cho nuôi tôm và trồng rau câu.
13
- Bờ biển nhiều bãi cát dài độ mặn của nước biển rất cao, thuận lợi cho nuôi luân trùng
làm thức ăn cho ấu trùng tôm.
- Vùng biển có nhiều rạn san hô, là một trong những hệ sinh thái có năng suất sinh học
cao nhất, ngoài ra có nhiều loại tôm, cua có giá trị kinh tế cao.
ở vùng này có những bãi biển tốt ở Nam phú quý, nam Côn Đảo. Nguyên nhân tạo
thành những ngư trường này là do hai dòng hải lưu nóng lạnh kết hợp với các dòng chảy
tạo nên các vùng nước trồi ở ngoài khơi, các nguồn thức ăn sơ cấp từ đáy biển được đẩy
nên vùng nước trên mặt thu hút các đàn cá nổi quần tụ. Thời gian ra khơi có nhiều giông,
bão nên chỉ khoảng 240 ngày/năm
Vùng biển Nam Bộ:
- Thềm lục địa ở đây ít dốc, đáy bùn cát, độ sâu trung bình dưới 10 m, rất thuận lợi cho
nghề lưới kéo.
- Nhiệt độ ổn định rất ít bão vì vậy có thể khai thác trên biển quanh năm.
- Chế độ thủy triều: có sự khách biệt giữa biển phía tây và biển phía đông, BIển phía
đông có thủy triều thất thường chủ yếu là bán nhật triều, biên độ 2.5 – 3.0 m. Vùng vịnh
thái lan có chế độ nhật triều lớn được tận dụng để thay nước ở các đầm nuôi tôm.
- Vùng biển nam bộ là ngư trường chính của nghề cá nước ta.
+ Đặc điểm môi trường và tiềm năng nguồn lợi.
Diện tích vùng ven biển và vùng biển của đất nước ta gấp 3 lần diện tích đất liền. Trải
dài trên 13 vĩ độ, vùng ven biển và biển Việt nam được chia thành 4 khu vực môi trường:
Môi trường nước mặn xa bờ.
- Là vùng nước ngoài khơi thuộc vùng đặc quyền kinh tế. Vùng biển tiếp giáp với Thái
Bình Dương ở phía Đông và phía Nam, đồng thời tiếp giáp với 2 lục địa âu - á nên chế độ
khí hậu vừa mang tính chất biển vừa mang tính chất lục địa. Ngoài khơi lại có 3 trũng sâu
điển hình: Trũng bắc Hoàng Sa, trũng á kinh tuyến kéo dài từ ngang đà nẵng về phía nam,
trũng Palawan. Vùng lòng chảo nước sâu nằm ở trung tâm biển đông.Vùng quần đảo
Trường Sa và Hoàng sa. Tất cả các vùng trên tạo nên một lợi thế cho ngành thủy sản nước
ta có thế mạnh trong khai thác. Bởi vậy thủy sản Việt nam phải có hướng đầu tư về tàu
thuyền để khaI thác có hIệu quả hơn nữa nguồn tài nguyên này.
- Xét về nguồn lợi hải sản có thể liệt kê 3 loại chính là cá nổi ngoài khơi, cá đáy biển
sâu và cá rạn san hô:
Cá nổi ngoài khơi gồm những loài cá có kích thước lớn hoặc vừa, sống ở những vùng
nước sâu, di động xa, điển hình cho đối tượng đánh bắt cá là cá thu, cá ngừ, họ cá chuồn và
chỉ vào gần bờ sinh sản kiếm ăn, chúng sống tập trung thành đàn ở tầng nước trên.
Cá đáy biển sâu, điển hình là cá chào mào, cá bàn chân, cá đèn lồng, cá mú làn khoảng
1.432 loài, chiếm 69% tổng số loài. Một số loài trong nhóm này là đối tượng quan trọng
của nghề kéo đáy. Tuy nhiên giá trị kinh tế của chúng không cao.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét