tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành giá cả thị trờng đồng nhất đối
với hàng hoá dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá dịch vụ đó.
Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau. Những doanh
nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi họat động của mình trên thị trờng,
những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản.
Khi nền sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều,
số lợng ngời cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Do đó, để thắng
trong cuộc chiến giành lợi nhuận tối đa, các doanh nghiệp không ngừng thu
thập thông tin về các đối thủ, đem so sánh với bản thân doanh nghiệp, nhờ đó
phát hiện đợc những lĩnh vực mà mình có u thế hay bất lợi trong cạnh tranh và
là cơ sở để xây dựng đợc một chiến lợc cạnh tranh đúng đắn.
1.2. Vai trò của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp:
Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trờng. Cội nguồn của sự cạnh
tranh là sự tự do trong sản xuất kinh doanh, đa dạng kiểu dáng, nhiều thành
phần kinh tế, nhiều ngời hoạt động sản xuất kinh doanh. Cạnh tranh thực chất là
một cuộc chạy đua không có đích. Chạy đua về mặt kinh tế phải luôn luôn ở
phía trớc để tránh những trận đòn của ngời chạy phía sau, và không phải chỉ để
thắng một trận tuyến giữa các đối thủ mà là để thắng trên hai trận tuyến. Đó là
cạnh tranh giữa những ngời mua với ngời bán và cạnh tranh giữa những ngời
bán với nhau. Do vậy, cạnh tranh không chỉ có vai trò quan trọng đối với các
doanh nghiệp tham gia thị trờng mà còn có ý nghĩa to lớn đối với ngời tiêu dùng
và toàn xã hội.
- Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh (cải tiến thiết bị công nghệ, sử dụng nguồn tài nguyên một cách tối u ),
ảnh hởng đến uy tín, quyết định vị thế của doanh nghiệp trên thơng trờng.
- Đối với ngời tiêu dùng, cạnh tranh giúp họ thoả mãn nhu cầu về hàng
hoá dịch vụ, chất lợng sản phẩm ngày càng cao cùng mức giá phù hợp với khả
năng của họ.
- Đối với nền kinh tế quôc dân thì cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát
triển bình đẳng của mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện để giải phóng lực l-
ợng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kĩ thuật, hiện đại hoá nền sản xuất xã
5
hội. Đó cũng là điều kiện để xoá bỏ độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ bất bình đẳng
trong kinh doanh, phát huy tính tháo vát và óc sáng tạo của các nhà doanh
nghiệp, gợi mở nhu cầu thông qua việc tạo ra nhiều sản phẩm mới, nâng cao
chất lợng đời sống xã hội, phát triển nền văn minh nhân loại.
Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận mặt tiêu cực của cạnh tranh,
cạnh tranh không lành mạnh sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực. Vì bị cuốn hút
bởi các mục tiêu hạ giá thành, tăng lợi nhuận , các doanh nghiệp đã không
chịu bỏ ra chi phí cho việc xử lý các chất thải, ô nhiễm môi trờng và các vấn đề
xã hội khác. Ngoài ra, cạnh tranh có thể có xu hớng dẫn đến độc quyền v v
Để khắc phục đợc những tiêu cực đó thì vai trò của Nhà nớc là hết sức quan
trọng.
1.3. Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp:
Do sự khan hiếm nguồn lực xã hội, khả năng kinh doanh của doanh
nghiệp hạn chế nên các doanh nghiệp không thể có lợi thế hơn các đối thủ về
mọi mặt. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần biết tận dụng những lợi thế của mình,
biến chúng thành các công cụ cạnh tranh thực sự lợi hại để đạt đợc mục tiêu
kinh tế đã đạt ra. Tuy nhiên, các mặt khác mà doanh nghiệp không có lợi thế
bằng thì cũng không nên bỏ qua.
1.3.1.Sản phẩm và chất lợng sản phẩm.
Sản xuất cái gì? nh thế nào? cho ai? là câu hỏi lớn nhất mà mỗi doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh phải đối mặt trong cơ chế thị trờng. Trả lời đợc câu
hỏi này có nghĩa là doanh nghiệp đã xây dựng cho mình một chính sách sản
phẩm. Không một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trờng mà lại không có
sản phẩm kinh doanh cho dù là hữu hình hay vô hình.Vấn đề đặt ra cho các
doanh nghiệp là phải làm cho sản phẩm của mình thích ứng đợc với thị trờng
một cách nhanh chóng thì mới có thể tiêu thụ hết trên thị trờng, mở rộng thị tr-
ờng, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
a) Sản phẩm:
Có thể xây dựng lợi thế cạnh tranh từ sản phẩm theo hai cách:
Đa dạng hoá sản phẩm: Mức độ đa dạng của sản phẩm thể hiện ở danh
mục sản phẩm của công ty (đó là tập hợp của tất cả những loại sản phẩm và mặt
hàng đợc đa ra để bán). Để có thể theo kịp nhu cầu thị trờng, bên cạnh việc duy
6
trì và cải tiến các loại sản phẩm hiện đang là thế mạnh, doanh nghiệp cũng cần
nghiên cứu các sản phẩm mới nhằm phát triển và mở rộng thị trờng tiêu thụ
hàng hoá. Đa dạng hoá sản phẩm không chỉ là để đảm bảo đáp ứng đợc nhu cầu
thị trờng, thu nhiều lợi nhuận mà còn là một biện pháp phân tán sự rủi trong
kinh doanh khi mà cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt quyết liệt.
Đi đôi với việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, để đảm bảo đứng vững
trong cuộc cạnh tranh, doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lợc khác biệt hoá
sản phẩm bằng cách tạo ra sản phẩm dịch vụ mà khách hàng cho là có những
điểm độc đáo và từ đó hấp dẫn khách hàng vì sự độc đáo đó. Ưu điểm của chiến
lợc này là doanh nghiệp không bị cạnh tranh từ các đối thủ vì các đối thủ khó
lòng vợt qua lòng trung thành của khách hàng về nhãn hiệu mà DN xây dựng đ-
ợc. (Ví dụ, xe ô tô: có tính sang trọng là Mercedes - Ben, tính kinh tế là
Toyota ). Tuy nhiên, DN rất khó giữ vững thị phần của mình vì khó có thể duy
trì sự khác biệt trong thời gian dài do bị đối thủ bắt chớc rất nhanh và gặp khó
khăn trong duy trì giá cao.
Nh vậy, sản phẩm và xác định cơ cấu sản phẩm tối u là một trong những
yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng.
b) Chất lợng sản phẩm:
Chất lợng sản phẩm đợc hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất
và ngay cả sau khi tiêu thụ hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố: công
nghệ dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề lao động, trình độ
quản lý Chất lợng sản phẩm có thể đợc hiểu là mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn
kinh tế kĩ thuật hoặc là khả năng thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng. Nâng
cao chất lợng thì phải giải quyết đợc cả hai vấn đề trên.
Xuất phát từ quan điểm thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng, khi đời
sống của con ngời ngày càng cao thì việc cải thiện chất lợng sản phẩm trở thành
vấn đề cấp bách đối với mỗi DN. Làm ngợc lại, DN đã tự từ chối khách hàng,
đẩy lùi hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, cải tiến sản phẩm còn giúp
DN hội nhập tốt hơn với xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế, vơn tới những thị tr-
ờng xa hơn. Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ đợc kí kết tháng 7 năm 2000 đã mở
ra những cơ hội lớn cho các DN Việt Nam. Song để xuất khẩu hàng hoá sang
7
Mỹ, các sản phẩm của ta phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về công
nghệ, hàm lợng dinh dỡng, an toàn vệ sinh, cũng nh về bao gói, bảo quản
Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, một quan niệm mới về
chất lợng đã xuất hiện: Chất lợng sản phẩm không chỉ là tốt, bền, đẹp mà nó
còn do khách hàng quyết định. Quản lý chất lợng sản phẩm là yếu tố chủ quan
còn sự đánh giá của khách hàng mang tính khách quan. ở đây, nhân tố khách
quan đã tác động, chi phối yếu tố chủ quan. Quan niệm này xuất phát từ thực tế
là mức độ cạnh tranh trên thị trờng ngày càng trở nên quyết liệt hơn.
Chất lợng sản phẩm thể hiện tính quyết định sức cạnh tranh của doanh
nghiệp ở chỗ :
- Nâng cao chất lợng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm,
tăng khối lợng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm.
- Sản phẩm chất lợng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, kích thích
khách hàng mua hàng và mở rộng thị trờng.
- Chất lợng sản phẩm cao làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
1.3.2. Giá bán sản phẩm:
Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định thị phần của
DN và khả năng sinh lời của nó. Đồng thời, giá cả còn là công cụ linh hoạt nhất,
mềm dẻo nhất trong cạnh tranh.
Giá của sản phẩm trên thị trờng đợc hình thành thông qua thoả thuận
giữa ngời bán và ngời mua. Nó đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua
hay không mua của khách hàng. Trong nền kinh tế thị trờng, có sự cạnh tranh
của các doanh nghiệp, ''khách hàng là thợng đế '' họ có quyền lựa chọn những gì
mà họ mà họ cho là tốt nhất, và cùng một loại sản phẩm với chất lợng tơng đ-
ơng nhau, chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá bán thấp hơn, khi đó sản lợng tiêu
thụ của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
Mặc dù vậy, khi thu nhập của đại bộ phận dân c đều tăng, khoa học kĩ
thuật phát triển thì việc định giá thấp cha hẳn là giải pháp hữu hiệu, đôi khi còn
bị đánh đồng với việc suy giảm chất lợng. Vì vậy, định giá thấp, định giá ngang
thị trờng hay định giá cao, làm sao sử dụng giá cả nh một vũ khí cạnh tranh lợi
hại là tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong chu kỳ sản phẩm
8
hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trờng.
1.3.3. Nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm:
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng bao gồm cả chức năng sản xuất
và tiêu thụ.Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh, đây cũng là giai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và thu lợi nhuận. Nghệ
thuật tiêu thụ sản phẩm thể hiện ở hai mặt:
Trớc hết là phải lựa chọn các kênh phân phối để sản phẩm sản xuất ra
tiêu thụ nhanh chóng, hợp lý và đạt hiệu quả cao. Tiêu thụ nhanh với số lợng
nhiều sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất kinh
doanh. Xây dựng một hệ thống mạng lới tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi tính toán
nhiều yếu tố, phải mất nhiều năm và không dễ gì thay đổi đợc nó. Bù lại, DN có
một nền móng vững chắc để phát triển thị trờng, bảo vệ thị phần của doanh
nghiệp có đợc.
Bên cạnh việc tổ chức mạng lới bán hàng, doanh nghiệp cũng cần đẩy
mạnh các hoạt động hỗ trợ bán hàng nh quảng cáo, khuyến mại, một số chính
sách phục vụ khách hàng nh chính sách thanh toán, các dịch vụ trớc và sau bán
hàng. Đây là một hình thức cạnh tranh phi giá, gây sự chú ý và thu hút khách
hàng.
Công tác tổ chức tiêu thụ tốt cũng là một trong những yếu tố làm tăng uy
tín của doanh nghiệp trên thị trờng. Các hoạt động giao tiếp khuếch trơng nh
quảng cáo, tham gia hội chợ, tổ chức hội nghị khách hàng là những hình thức
tốt nhất để giới thiệu về các sản phẩm và doanh nghiệp của mình từ đó giúp cho
doanh nghiệp tìm ra đợc nhiều bạn hàng mới, mở rộng thị trờng nâng cao sức
cạnh tranh của doanh nghiệp.
2. Nâng cao khả năng cạnh tranh là vấn đề tất yếu của doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trờng và tiến trình hội nhập.
2.1. Quan niệm về khả năng cạnh tranh:
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh của một
doanh nghiệp:
- Theo Fafchams : khả năng cạnh tranh của một DN chính là khả năng
của DN đó có thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn
giá của nó trên thị trờng. Theo cách hiểu này DN nào sản xuất ra các sản phẩm
9
tơng tự nh của các DN khác nhng với chi phí thấp hơn thì đợc coi là có khả
năng cạnh tranh.
- Randall lại cho rằng : khả năng cạnh tranh là khả năng giành đợc và
duy trì thị phần trên thị trờng với lợi nhuận nhất định
- Dunning : khả năng cạnh tranh là khả năng cung ứng sản phẩm của
chính DN trên các thị trờng khác nhau mà không biệt nơi bố trí sản xuất của
DN đó.
- Một quan niệm khác cho rằng : khả năng cạnh tranh là trình độ công
nghệ sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trờng đồng thời duy trì đợc
thu nhập của mình.
Có thể thấy rằng các quan niệm đứng trên các góc độ khác nhau nhng
chung quy lại đều nói tới việc chiếm lĩnh thị trờng và lợi nhuận.
2.2. Sự cần thiết khách quan của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp bắt đầu vào khởi sự kinh doanh phải có những nguồn
lực nhát định. Để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh buộc các
doanh nghiệp phải phát huy triệt để mọi tiềm lực, mọi thế mạnh nhằm tạo lợi
thế bằng hoặc hơn các doanh nghiệp khác. Có nh vậy mới đảm bảo cho doanh
nghiệp vững vàng trong cạnh tranh. Để thực hiện đợc mục tiêu này buộc các
doanh nghiệp phải tăng cờng khả năng cạnh tranh củ mình.
Thực chất tăng khả năng cạnh tranh là tạo ra ngày một nhiều hơn các u
thế về tất cả các mặt: giá cả, giá trị sử dụng của sản phẩm, uy tín Cụ thể là
doanh nghiệp phải áp dụng tổng hợp các biện pháp khác nhau nh cắt giảm chi
phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm, hạ giá bán, áp dụng công nghệ tiên tiến,
hiện đại, các biện pháp nâng cao chất lợng sản phẩm, nâng cao trình độ đội ngũ
lao động Hay nói cách khác tăng cờng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
là thay đổi mối tơng quan về thế và lực của doanh nghiệp trên thị trờng về mọi
mặt của quá trình sản xuất.
Trong cơ chế thị trờng, tăng sức cạnh tranh là một tất yếu khách quan.
Song song với tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, đòi hỏi của
khách hàng ngày càng khe khắt, họ luôn có xu hớng tiêu dùng những sản phẩm
chất lợng cao với giá cả hợp lí. Để đáp ứng nhu cầu đó doanh nghiệp luôn tìm
10
mọi cách để cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lợng dịch vụ, đổi mới công
nghệ hay phát huy mọi lợi thế của mình so với các đối thủ cạnh tranh trong
việc thỏa mãn cao nhất đòi hỏi của thị trờng.
Mặt khác, xu hớng tự do mở cửa nền kinh tế diễn ra ngày một nhanh, tiến
trình hội nhập đang tới gần thì nâng cao năng lực cạnh trạnh lại là vấn đề sống
còn. Khi hàng rào thuế quan dần xoá bỏ và mở rộng hợp tác kinh tế, sẽ là khó
khăn hơn đối với mỗi doanh nghiệp khi giành giật thị trờng và khách hàng từ
tay các công ty xuyên quốc gia hùng mạnh dày kinh nghiệm, các doanh nghiệp
bản địa nhạy bén, năng động cùng sự gia nhập ồ ạt của hàng ngàn DN mới.
Đối với Việt Nam, khi chuyển từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trờng,
các doanh nghiệp nhà nớc không còn tính độc quyền và đợc nhà nớc bao cấp
nh trớc nữa mà phải tự quyết định lấy các vấn đề quan trọng mang tính sống
còn của doanh nghiệp (sản xuất cho ai, sản xuất cái gì, sản xuất nh thế nào, bao
nhiêu ). Các doanh nghiệp nhà nớc buộc phải làm quen với điều này cũng nh
phải thích nghi với môi trờng kinh doanh mới của cơ chế thị trờng, chấp nhận
các quy luật của thị trờng cũng nh là phải chấp nhận cạnh tranh. Trong nền kinh
tế thị trờng đa hình thức sở hữu, khi mà quan điểm, chính sách của nhà nớc về
vai trò của các thành phần kinh tế khác đi, các doanh nghiệp nhà nớc nếu không
tự đổi mới sẽ không thể chạy đua nổi. Bởi các hãng nổi tiếng trên thế giới đầu
t vào Việt Nam ngày càng nhiều và có u thế hơn hẳn về tiềm lực tài chính cũng
nh là trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý. Bên cạnh đó là khu vực kinh tế t
nhân đầy năng động và hiệu quả đang vơn lên mạnh mẽ.
2.3. Các nhân tố cơ bản ảnh hởng tới khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp:
đợc khái quát thông qua mô hình sau:
11
Môi trờng vĩ mô:
Kinh tế, công nghệ, luật pháp, tự nhiên
Môi trờng ngành
Nhân tố bên trong
doanh nghiệp
uy tín
vốn
kĩ thuật nhân sự
Khả năng
cạnh tranh
2.3.1. Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp:
a) Môi trờng vĩ mô: gồm các nhân tố nằm ngoài sự kiểm soát của doanh
nghiệp, có ảnh hởng trực tiếp hay gián tiếp tới sức cạnh tranh của doanh
nghiệp.
a1) Môi trờng kinh tế:
Các nhân tố kinh tế là những nhân tố quan trọng nhất của môi trờng hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế phát triển với tốc độ cao sẽ kéo
theo sự tăng thu nhập cũng nh khả năng thanh toán của ngời dân do vậy sức
mua của nhân dân cũng tăng lên. Mặt khác nền kinh tế phát triển mạnh làm
tăng khả năng tích tụ và tập trung t bản lớn, tăng cơ hội đầu t phát triển sản xuất
kinh doanh cho các doanh nghiệp.Tuy nhiên, do sự tăng trởng của nền kinh tế
sẽ kéo theo sự tăng lên một cách nhanh chóng số lợng các doanh nghiệp tham
gia thị trờng, và nh vậy mức độ cạnh tranh sẽ lại trở nên gay gắt. Trái lại, khi
nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái, tỉ lệ lạm phát tăng làm cho giá cả sẽ
tăng, sức mua của ngời dân bị giảm sút, các doanh ngiệp phải tìm mọi cách để
giữ khách hàng, do đó sự cạnh tranh trên thị trờng cũng sẽ khốc liệt hơn.
Lãi suất ảnh hởng tới giá thành sản phẩm. Với mức lãi suất đi vay cao,
chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên do phải trả lãi tiền vay lớn,
do vậy sức cạnh tranh của doanh nghiệp cũng sẽ bị giảm đi đặc biệt là đối với
các đối thủ có tiềm lực mạnh về tài chính.
Các nhân tố lạm phát, tỉ giá hối đoái, các quan hệ hợp tác kinh tế quốc
tế cũng ảnh hởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của từng
doanh nghiệp cũng nh là mức độ cạnh tranh trên thị trờng.
a2) Môi trờng khoa học công nghệ:
12
Tiến bộ khoa học công nghệ tạo điều kiện cho doanh nghiệp áp dụng các
thiết bị hiện đại để sản xuất, nâng cao chất lợng sản phẩm, thu thập xử lí thông
tin về các đối thủ và thị trờng. Bên cạnh đó, hiện nay khi công cụ cạnh tranh
chuyển từ giá sang chất lợng thì các sản phẩm có hàm lợng công nghệ cao mới
có sức cạnh tranh cao.
Sự ra đời của hàng vạn phát minh mới tạo cơ hội phát triển sản phẩm mới
nhng cũng là mối đe dọa một khi các sản phẩm đang sản xuất rất nhanh trở nên
lỗi thời.
a3) Môi trờng chính trị và pháp luật:
Thể chế chính trị, hệ thống luật pháp rõ ràng, mở rộng và ổn định sẽ là cơ
sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh,
cạnh tranh lành mạnh và có hiệu quả. Ngợc lại sẽ thành rào cản đối với họ.
Chẳng hạn, luật cạnh tranh và chống độc quyền, các luật thuế có ảnh hởng rất
lớn đến điều kiện cạnh tranh, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh
nghiệp thuộc loại thành phần và trên mọi lĩnh vực. Hay các chính sách của Nhà
nớc về xuất nhập khẩu, về thuế xuất nhập khẩu cũng sẽ ảnh hởng lớn đến khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nớc so với các doanh
nghiệp sản xuất ở nớc ngoài.
13
a4) Môi trờng tự nhiên, văn hoá xã hội:
Các nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên của đất nớc, vị trí
địa lý về việc phân bố vị trí địa lý của các tổ chức kinh doanh. Vị trí địa lý
thuận lợi sẽ tạo điều kiện khuyếch trơng sản phẩm, mở rộng thị trờng, giảm các
chi phí thơng mại phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Với nhân tố tự nhiên là
điều kiện tài nguyên thiên nhiên, nếu tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động trong công tác cung ứng các yếu
tố đầu vào, sản xuất hàng hoá vật chất đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trờng, tăng
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Văn hoá và các vấn đề xã hội giờ đây đã trở thành một trong những mối
quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị doanh nghiệp. Đối với các hãng kinh
doanh nổi tiếng thế giới, năm 2001 thực sự là một thử thách. Đó là sự suy giảm
trong việc chiếm lĩnh thị phần thế giới( Coke:5%, Microsoft:7%, Ford:17% )
do bị sức ép cạnh tranh mạnh mẽ từ các nhãn hiệu nội. Sự vợt lên của các nhãn
hiệu nội là do dễ thích nghi với nhu cầu ngời dân vì nghiên cứu đợc thói quen,
tập tục và cả "gu" văn hoá của ngời nớc họ, trong khi các nhãn hiệu quốc tế
không chịu khai thác để tìm hiểu nhu cầu đa dạng của ngời tiêu dùng.
b) Môi trờng ngành: bao gồm các nhân tố tác động trực tiếp đến hoạt
động của doanh nghiệp.
Tình trạng về cầu trong ngành là yếu tố tác động mạnh đến s cạnh tranh.
Tăng nhu cầu của ngời tiêu dùng tạo ra cơ hội cho việc mở rộng sản xuất, làm
dịu bớt cạnh tranh. Ngựơc lại khi cầu giảm, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trở nên mạnh mẽ hơn, một doanh nghiệp chỉ đạt đến sự tăng trởng bằng cách
lấy đi thị phần của những doanh nghiệp khác. Mức độ cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong ngành tuỳ thuộc vào số lợng, qui mô các doanh nghiệp
trong ngành. Trong một ngành, nếu nh các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có
qui mô và thế lực ngang nhau thì sự cạnh tranh trên thị trờng trở nên gay gắt
hơn và khi đó sức cạnh tranh của doanh nghiệp cao hơn hoăc thấp đi.
Không chỉ thế, doanh nghiệp còn phải đề phòng sự xuất hiện của các đối
thủ tiềm ẩn: Đối thủ mới tham gia trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi
nhuận của doanh nghiệp do họ đa vào khai thác các năng lực sản xuất mới với
mong muốn giành một phần thị trờng. Vì vậy để bảo vệ vị trí cạnh tranh của
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét