Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Từ Quang Phương
Sơ đồ 1.1: Hệ thống giáo dục ở Việt Nam
SV: Phạm Thị Lan Anh Lớp: Kinh tế đầu tư 49A
TIẾN SỸ
THẠC SỸ
ĐẠI HỌC
CAO ĐẲNG
TRUNG CẤP
CHUYÊN NGHIỆP
DẠY NGHỀ
TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
THCS
TIỂU HỌC
MẪU GIÁO
NHÀ TRẺ
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Từ Quang Phương
Bảng 1.1 Bảng hệ thống bằng cấp ở Việt Nam
Bậc, cấp giáo dục Thời gian
khung của
quá trình
GD-ĐT
Tuổi
chuẩn vào
lớp đầu
Điều kiện học lực
để được vào lớp đầu
Văn bằng tốt nghiệp
1 2 3 4 5
I.GD mầm non
- Nhà trẻ
- Mẫu giáo
3 năm
3 năm
3-4 tháng
3 tuổi
II. GD phổ thông
- Tiểu học
- Trung học cơ sở
- Trung học chuyên ban
5 năm
4 năm
3 năm
6 tuổi
11 tuổi
15 tuổi
Có bằng tiểu học
Có bằng trung học
cơ sở
Bằng tiểu học
Bằng trung học cơ sở
Bằng tú tài
III. GD chuyên nghiệp
- Đào tạo nghề sao tiểu học
- Đào tạo nghề sau trung
học cơ sở
- Trung học chuyên nghiệp
- Trung học nghề
Dưới 1
năm
1-2 năm
3-4 năm
3-4 năm
13-14 tuổi
15 tuổi
15 tuổi
15 tuổi
Có bằng trung học
cơ sở
Có bằng trung học
cơ sở
Có bằng trung học
cơ sở
Có bằng trung học
cơ sở
Chứng chỉ nghề
Bằng nghề
Bằng trung học chuyên
nghiệp
Bằng trung học nghề
IV. Bậc giáo dục đại học
- Cao đẳng 3 năm 18 tuổi Có bằng tú tài hoặc
trung học chuyên
nghiệp hoặc trung
học nghề
Bằng cao đẳng
- Đại học 4-6 năm 18 tuổi Có bằng tú tài hoặc
trung học chuyên
nghiệp hoặc trung
học nghề
Hoàn thành giai đoạn 1:
Chứng chỉ đại học đại
cương
Hoàn thành giai đoạn 2:
Bằng cử nhân
- Cao học 2 năm Có bằng cử nhân Bằng cao học hoặc thạc
sỹ
- Đào tạo tiến sỹ 4 năm
2 năm
Có bằng cử nhân
Có bằng cao học
Bằng tiến sĩ
(Nguồn : Bộ Giáo dục và đào tạo)
SV: Phạm Thị Lan Anh Lớp: Kinh tế đầu tư 49A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Từ Quang Phương
1.2 Vai trò của NSNN đối với giáo dục đào tạo
1.2.1 Khái niệm và bản chất của NSNN
1.2.1.1 Khái niệm
NSNN với tư cách là một phạm trù kinh tế bao giờ cũng gắn liền với sự xuất
hiện, tồn tại của Nhà nước phát triển đến một trình độ nhất định. Sự xuất hiện của
Nhà nước trong lịch sử đòi hỏi phải có những nguồn lực tài chính để đáp ứng chi
tiêu nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực
hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước” ( Theo Luật NSNN )
1.2.1.2 Bản chất
- Về phương diện pháp lý: NSNN là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi
bằng tiền mặt của Nhà nước trong một thời gian nhất định thường là một năm.
- Về bản chất kinh tế: NSNN là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa
Nhà nước với xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các
nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà
nước.
Các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác:
+ Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các doanh nghiệp
+ Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với hộ gia đình
+ Quan hệ kinh tế với cá nhân trong và ngoài nước gắn liền
với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách.
-Về tính chất: NSNN là bảng tổng hợp các khoản thu, chi của Nhà nước, là
mức động viên các nguồn tài chính vào tay Nhà nước, là khoản cấp phát của Nhà
nước cho các nhu cầu tiêu dùng và đầu tư phát triển, đó cũng là đóng góp theo
nghĩa vụ hay tự nguyện của mỗi thành viên trong xã hội cho Nhà nước và Nhà nước
cấp phát kinh phí đầu tư cho mỗi thành viên trong xã hội.
1.2.2 Đặc điểm và vị trí của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát
triển ngành giáo dục
SV: Phạm Thị Lan Anh Lớp: Kinh tế đầu tư 49A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Từ Quang Phương
1.2.2.1 Đặc điểm của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển
ngành giáo dục
Ngành giáo dục là một ngành mang tính chất khá đặc thù, không giống như
các ngành đầu tư vào phát triển sản xuất khác. Việc bỏ vốn đầu tư vào Giáo dục đào
tạo, không thể đo đếm hiệu quả bằng các chỉ tiêu kinh tế như doanh thu, lợi nhuận;
hiệu quả của hoạt động đầu tư phải sau một thời gian dài mới thấy được hiệu quả.
Chính vì vậy, đặc điểm đầu tiên của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát
triển ngành giáo dục đó là thành quả của hoạt động đầu tư phát triển không thể lượng
hóa bằng các con số về lợi nhuận một cách cụ thể, mà chỉ được nhận thấy qua các chỉ
tiêu về số trường lớp được xây dựng mới, tỷ lệ trẻ lên lớp, số học sinh giỏi trong năm
học, số giải đạt được trong các kỳ thi học sinh giỏi toàn quốc và quốc tế, tỷ lệ gia
tăng về quy mô học sinh, sinh viên hàng năm…
1.2.2.2 Vị ví của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển ngành
giáo dục
Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu của ngành giáo dục. Nhà nước
ưu tiên đầu tư cho giáo dục trong tương quan với các ngành khác. Trong văn kiện Đại
hội X của Đảng đã tiếp tục khẳng định trên cơ sở nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; trong thời gian từ nay đến năm 2015
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại.
1.2.3 Vai trò của NSNN với giáo dục đào tạo
Trong số các nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục đào tạo thì đầu tư từ
ngân sách Nhà nước là tất yếu đóng vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả giao dục. Sở dĩ NSNN đong vai trò chỉ đạo là vì:
- Trong hệ thống tài chính nước ta thì tài chính Nhà nước chiếm một tỷ trọng
lớn. Mà trong tài chính Nhà nước bao gồm NSNN và tín dụng Nhà nước thì NSNN
có tỷ trọng lớn nhất. Trong các nhu cầu tiêu dùng xã hội mà NSNN đảm bảo thì
theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước thì nhu cầu cho giáo dục đào tạo
đứng hàng đầu.
SV: Phạm Thị Lan Anh Lớp: Kinh tế đầu tư 49A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Từ Quang Phương
- Thứ hai, đầu tư của NSNN có tác dụng hướng dẫn, huy động các nguồn
vốn khác đầu tư cho giáo dục đào tạo vì giáo dục là hàng hoá công cộng, tạo ra
ngoại ứng tích cực và có vai trò quyết định đến sự phát triển nguồn nhân lực. - Thứ
ba, NSNN đầu tư cho giáo dục đào tạo sẽ đảm bảo từng bước ổn định đời sống của
cán bộ công nhân viên làm trong ngành giáo dục. NSNN ngoài chi trả tiền lương
chính cho đội ngũ giáo viên giảng dạy còn dành một phần để ưu đãi riêng cho
nghành giáo dục như phụ cấp giảng dạy, phụ cấp thâm niên, phụ cấp trách nhiệm ,
phụ cấp dạy thêm giờ,…
- Thứ tư, NSNN có vai trò điều phối cơ cấu giáo dục toàn nghành. Thông
qua định mức chi ngân sách giáo dục đào tạo hàng năm đã góp phần định hướng
sắp xếp cơ cấu các cấp học, mạng lưới trường. Tập trung NSNN cho những chương
trình mục tiêu quốc gia như chốn mù chữ, phổ cập giáo dục, xây dựng hệ thống
trường dân tộc nội trú, khuyến khích phát triển giáo dục ở vùng núi và dân tộc ít
người, tăng cường cơ sở vật chất cá trường học,…
- Thứ năm, đầu tư từ NSNN cho giáo dục nhằm đảm bảo công bằng xã hội
trong giáo dục. Nếu giáo dục được cung cấp hoàn toàn theo cơ chế thị trường
không có sự đầu tư từ NSNN thì bộ phận dân cư không có khả năng chi trả các
khoản chi phí giáo dục sẽ không có cơ hội được học tập, tiếp thu kiến thức, từ đó
mất công bằng xã hội trong giáo dục.
- Thứ sáu, đầu tư của Nhà nước cho giáo dục nhằm để khắc phục khiếm
khuyết của thị trường vốn. Trên thực tế, thị trường vốn cho việc đầu tư vào giáo
dục là không hoàn hảo. Vì hầu như không có cơ sở nào cho việc xác định khả năng
chắc chắn để hoàn trả lại các khoản vay cho việc học tập của các cá nhân sau khi đã
kết thúc khoá học. Do vậy, các chủ thể cho vay không dễ dàng chấp nhận bỏ vốn để
đầu tư vào giáo dục. Để khắc phục khiếm khuyết này cần thiết phải có sự can thiệp
và đầu tư của Nhà nước cho giáo dục.
Nhìn chung trên thực tế tại Việt Nam hiện nay nguồn lực tài chính để phát
triển giáo dục chủ yếu từ nguồn NSNN. NSNN đóng vai trò quan trọng, là yếu tố
chính quyết định tới sự nghiệp giáo dục đào tạo.
SV: Phạm Thị Lan Anh Lớp: Kinh tế đầu tư 49A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Từ Quang Phương
1.3 Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN cho giáo dục và đào tạo
1.3.1 Khái niệm đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN cho giáo dục và đào
tạo
Đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn NSNN là hoạt động sử dụng
các nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng sửa chữa nhà cửa
kiến trúc hạ tầng mua sắm trang thiết bị, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, thực hiện
các chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì
tiềm lực hoạt động của các cơ sở hạ tầng của ngành Giáo dục đang tồn tại và tạo và
nâng cao chất lượng đào tạo của ngành giáo dục.
1.3.2 Vai trò đầu tư phát triển giáo dục đào tạo
a) Góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình hoàn thiện hạ tầng xã hội, hạ tầng
sản xuất, thượng tầng kiến trúc của đất nước, một cách hoàn chỉnh và phục vụ tốt nhất
cho đời sống của con người. Mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa là xây dựng
nước ta thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, đời sống tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giầu, nước mạnh, xã
hội công bằng văn minh. Như vậy, công nghiệp hóa không phải là chỉ phát triển nền
công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền
kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ
năng sản xuất. Để làm được điều này, cần phải có đội ngũ nguồn nhân lực được qua
đào tạo tỷ mỉ bài bản, trau chuốt từ đạo đức đến những kỹ năng nghề nghiệp.
b) Góp phần phát triển và nâng cao trình độ công nghệ của đất nước
Công nghệ kỹ thuật được quan niệm là nhân tố tác động ngày càng mạnh mẽ
đến tăng trưởng trong điều kiện kinh tế hiện đại. Nguồn nhân lực đóng vai trò rất
quan trọng trong quá trình phát triển của công nghệ kỹ thuật, nguồn nhân lực được
đào tạo, trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết để tiếp cận với công nghệ hiện đại của thế
giới và có điều chỉnh phù hợp với nền sản xuất trong nước, tạo điều kiện nâng cao và
phát triển nền công nghệ trong nước. Hệ thống giáo dục đồng bộ, hoàn thiện sẽ tạo ra
nguồn nhân lực chất lượng cao.
c) Góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
SV: Phạm Thị Lan Anh Lớp: Kinh tế đầu tư 49A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Từ Quang Phương
Mục tiêu của giáo dục là tạo ra con người có đạo đức, tri thức và kỹ năng;
đào tạo là là hình thức dậy dỗ nhằm tạo ra con người thành thạo kỹ năng nghề
nghiệp. Giáo dục cũng đồng thời cung cấp kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống
hạnh phúc, văn minh, nhưng vẫn giữ gìn được văn hóa truyền thống của dân tộc. Nền
giáo dục nước ta cũng đang tìm ra những biện pháp để đạt được những mục tiêu trên
góp phần định hướng cho lớp trẻ có được những nhận thức đúng đắn, hiểu biết về
những nét văn hóa mạng tính truyền thống của dân tộc, để tự bản thân có được nhận
thức và hình thành những lối sống hiện đại nhưng vẫn duy trì được nét văn hóa của
người Việt Nam. Việc giáo dục cho từng cá nhân trong xã hội có được nhận thức, lối
sống tốt là điều kiện để Việt Nam có thể “hòa nhập nhưng không hòa tan”.
d) Góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp
Nguồn nhân lực là một trong những tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp.
Đây là một loại tài sản vô hình, không thể xác định được đặc điểm vật chất của chính
nó nhưng lại có giá trị lớn và có khả năng sinh ra lợi nhuận. Nó là thước đo hiệu quả
kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp trước mắt và
trong tương lai. Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ là tài sản mà còn là nguồn vốn
của doanh nghiệp. Vốn trí tuệ tiềm ẩn trong mỗi con người, sau khi được đào tạo qua
trường lớp thì những kỹ năng kiến thức của con người sẽ càng ngày càng hoàn thiện
hơn. Nếu như hệ thống giáo dục ngay từ khi còn là học sinh phổ thông biết được vai
trò cũng như tầm quan trọng của vốn trí tuệ nhằm định hướng cho học sinh phát huy
khả năng tư duy, sáng tạo, năng lực tiềm ẩn trong chính bản thân mình, trở thành một
đội ngũ nhân lực là tài sản cũng là nguồn vốn quý giá nhất của doanh nghiệp.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn
vốn ngân sách nhà nước
1.4.1 Cơ chế chính sách và trình độ quản lý
Nguồn vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn chịu sự quản lý chặt chẽ của
Nhà nước, tuy nhiên không phải khi Nhà nước quản lý ở tất cả mọi mặt thì nguồn vốn
đó sẽ phát huy tác dụng một cách tốt nhất. Vì vậy, để đảm bảo cho nguồn vốn đầu tư
được bố trí hợp lý cần phải tăng cường chất lượng của công tác lập kế hoạch, tiến
hành dự báo thường xuyên và tăng cường cung cấp thông tin về lượng vốn cần thiết
cho đầu tư phát triển.
1.4.2 Đăc trưng của ngành giáo dục trong thời kỳ mới
SV: Phạm Thị Lan Anh Lớp: Kinh tế đầu tư 49A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Từ Quang Phương
Với quan điểm chỉ đạo “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, phát triển giáo dục
là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã
hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, vì vậy nhà nước giành sự quan tâm rất
lớn trong phát triển ngành giáo dục. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ,
sự phát triển năng động của nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa dang làm
cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên hiện thực
hơn và nhanh hơn. Khoa học công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển
kinh tế - xã hội. Giáo dục là nêng tảng của sự phát triển khoa học – công nghệ, phát
triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu
trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiện và năng lực của các thế hệ
hiện nay và mai sau. Đây là đòi hỏi khách quan cần có sự quan tâm và đầu tư phát
triển ngành Giáo dục.
Nguồn vốn giành cho đầu tư giáo dục cũng có những chuyển biến về cơ cấu,
hiện nay phần lớn nguồn vốn đầu tư cho giáo dục là từ ngân sách nhà nước, nhưng
trước những thay đổi của bối cảnh quốc tế, cơ cấu nguồn vốn thay đổi theo hướng
giảm tỷ trọng nguồn vốn ngân sách nhà nước, gia tăng tỷ trọng nguồn vốn của các cá
nhân tổ chức trong nước và ngoài nước, giảm gánh nặng của nhà nước và tăng chất
lượng đào tạo, đổi mới hệ thống cơ sở vật chất .
1.4.3 Các nhân tố về kinh tế xã hội
Do đặc điểm kết cấu của cơ sở hạ tầng giáo dục của Việt Nam, các trường đại
học phân bố không đồng đều, thường tập trung ở các thành phố lớn, vì vậy mà nguồn
vốn giành cho đầu tư phát triển ngành giáo dục đạo tạo cũng có sự phẩn bổ không
đồng đều giữa các tỉnh, thành phố trong cả nước. Nguồn vốn ngân sách hàng năm
giành cho các ngành tăng giảm phụ thuộc rất nhiều vào tổng thu ngân sách nhà nước
hàng năm. Nếu tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm lớn thì phần ngân sách giành
để đầu tư phát triển cho ngành Giáo dục nói riêng và các ngành khác nói chung sẽ có
xu hướng tăng lên. Các khoản thu ngân sách nhà nước bao gồm: thu từ kinh tế Nhà
nước, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu thuế công, thương nghiệp
và dịch vụ ngoài Nhà nước, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu phí, lệ
phí,…các khoản thu này chịu ảnh hưởng rất nhiều của các nhân tố kinh tế như: tăng
trưởng kinh tế hàng năm, lạm phát, điều kiện kinh tế thế giới…
SV: Phạm Thị Lan Anh Lớp: Kinh tế đầu tư 49A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Từ Quang Phương
1.4.4 Một số nhân tố khác
Quan điểm phát triển của nhà nước, đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến
các định hướng phát triển của các ngành nói chung và của ngành giáo dục nói riêng.
Quan điểm phát triển của nhà nước sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu, định hướng phát
triển, cơ cấu nguồn vốn đầu tư. Theo từng thời kỳ, Nhà nước có quản điểm phát
triển khác nhau phù hợp với điều kiện khách quan và sự phát triển của đất nước.
Hiện nay, với quan điểm xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học,
hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đặc điểm đầu tư vào ngành giáo dục, đầu tư phát triển giáo dục đào tạo
không giống với đầu tư phát triển các ngành sản xuất. Hiệu quả của quá trình đầu tư
chỉ có thể thấy được sau một quá trình rất dài. Có thể thấy, việc bỏ ra chi phí để đào
tạo một con người bắt đầu tư khi cho trẻ đi học mẫu giáo rồi trải qua các bậc học tiểu
học, trung học, đại học; sau các bậc học này mới có thể thấy người công dân đó cống
hiến được những gì cho xã hội; và những cống hiến này cũng rất khó để lượng hóa
được thành các con số doanh thu, lợi nhuận, NPV…để đánh giá xem dự án đầu tư đó
có hiệu quả hay không hiệu quả. Vì đặc trưng này nên rất ít các tổ chức, cá nhân
muốn tham gia vào đầu tư phát triển, nguồn vốn chủ yếu cho phát triển của ngành
hiện nay chủ yếu là nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn đi vay viện trợ nước
ngoài.
1.5 Nội dung đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN cho giáo dục và đào tạo.
1.5.1 Giáo dục và đào tạo
Hệ thống giáo dục của Việt Nam tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng
hóa được hình thành với đầy đủ các cấp học từ giáo dục mầm non, giáo dục trung
học, giáo dục thường xuyên, giáo dục đại học và cao đẳng, giáo dục chuyên nghiệp.
Với những đặc thù của từng bậc học, nhà nước cũng đã có những phương hướng, nội
dung cụ thể để đầu tư hoàn thiện các cấp học, cụ thể:
• Đối với giáo dục mầm non, nhà nước đã có những quy định chuẩn nghề
nghiệp giáo viên mầm non làm căn cứ để các giáo viên và các cơ sở giáo dục thực
hiện, ban hành chiến lược đầu tư đổi mới trong giáo dục mầm non, ban hành chính
sách mới về giáo dục mầm non như quy hoạch đất đai, hỗ trợ giáo viên ngoài công
lập, mua sắm trang thiết bị, đồ chơi; xây dựng trường chuẩn quốc gia, bồi dưỡng
chuyên môn chi đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên.
SV: Phạm Thị Lan Anh Lớp: Kinh tế đầu tư 49A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Từ Quang Phương
• Đối với giáo dục tiểu học, nhà nước không trực tiếp quản lý mà đã tăng
cường giao quyền chủ động cho các địa phương, các nhà trường, và các giáo viên
trong việc xây dựng các kế hoạch dạy học, thực hiện chương trình, sách giáo khoa,
soạn giáo án và chịu trách nhiệm về chất lượng giảng dạy và học tập. Các địa phương
đã tiếp tục chỉ đạo đầu tư đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng có hiệu quả thiết bị
dạy học mua sắm hoặc tự làm, đã có những buổi phụ đạo cho học sinh yếu kém từng
tuần, từng tháng, từng học kỳ. Số học sinh học 2 buổi một ngày có xu hướng tăng,
kết quả của học sinh học 2 buổi / ngày cao hơn hắn những học sinh chỉ học 1 buổi /
ngày. Với sự đầu tư đổi mới cơ sở vật chất, xây dựng biên soạn mơi sách giáo khoa,
đổi mới phương pháp giảng dậy, chất lượng dạy học ở tiểu học tương đối ổn định và
ngày càng vững chắc.
• Đối với giáo dục trung học (THCS & THPT), các sở GD & ĐT đã chú ý
chỉ đạo áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến, ứng dụng công nghệ thông tin, sử
dụng các phần mềm tiện ích vào dạy học, đổi mới hình thức thức kiểm tra, đánh giá
học sinh theo hướng đòi hỏi hiểu bài, biết vận dụng kiến thức, hạn chế chỉ học thuộc
lòng, xét cho lên lớp đúng tiêu chuẩn.
• Đối với giáo dục thường xuyên (GDTX), trong những năm vừa qua các địa
phương đã chú trọng việc quản lý và cấp phát chứng chỉ ngoại ngữ, tin học; đầu tư
thiết bị dạy học tối thiểu, tăng cường cơ sở vật chất, trang bị thêm phòng học máy vi
tính cho các trung tâm GDTX; các trung tâm giáo dục thường xuyên là nơi có giáo
viên giảng dậy không ổn định, hầu hết là các giáo viên từ các trường THPT trong địa
phương, vì vậy cần có những chính sách để thu hút các giáo viên dậy ở các trung tâm
GDTX. Sau một thời gian thực hiên đề án “xây dựng xã hội học tập”, một số mục
tiêu trong đề án đã được thực hiện và đem lại hiệu quả rõ rệt như: phát triển, mở rộng
hệ thống GDTX, trung tâm GDTX và trung tâm học tập cộng đồng; đa dạng hóa nội
dung, chương trình giáo dục ngày cang đáp ứng được nhu cầu học tập của nhiều đối
tượng trong xã hội thiết thực phục vụ sự phát triển kinh tế trong các lĩnh vực nông
nghiệp, y tế, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, truyền thông và dịch vụ.
• Đối với giáo dục cao đẳng, đại học: nhằm đáp ứng được yêu cầu của xã hội
và nhu cầu của người học, nhà nước tăng cường đầu tư phát triển cho đào tạo đại học,
cao đẳng; xây dựng thêm các trường mới, mở rộng quy mô giảng dậy, xây dựng và
cải tạo thêm các công trình phục trợ như: nhà tập thể thao, xây dựng và cải tạo mới
SV: Phạm Thị Lan Anh Lớp: Kinh tế đầu tư 49A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét