Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn hà Nội

Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
1994, Đồng Xuân nay là chi nhánh Hoàn Kiếm và chi nhánh Thanh Xuân năm 1995,
chi nhánh Tây Hồ, Giảng Võ nay là chi nhánh Ba Đình năm 1996, chi nhánh quận
Cầu Giấy 1997, đến 1999 thành lập chi nhánh quận Đống Đa, năm 2002 thành lập chi
nhánh Tràng Tiền, Chương Dương, năm 2003 thành lập chi nhánh Chợ Hôm, năm
2004 tách 2 chi nhánh Tây Hồ bàn giao cho chi nhánh Quảng An, chi nhánh Chương
Dương bàn giao về chi nhánh Long Biên, năm 2005 thành lập chi nhánh Trần Duy
Hưng, năm 2006 bàn giao chi nhánh quận Cầu Giấy về NHN0 & PTNT VN.
- Sau 20 năm xây dựng vững chắc, phát triển toàn diện trên các mặt huy động
vốn tăng trưởng đầu tư, nâng cao chất lượng uy tín mở rộng hoạt động kinh doanh
đối nội và đối ngoại từng bước khẳng định vị thế trên thị trường tài chính, tiền tệ tại
Hà Nội.
- Công nghệ: Máy tính được kết nối mạng nội bộ với nhau, kho đảm bảo.
- Nguồn vốn: Năm 2007 huy động được 15.468 tỷ tăng 1031 lần so với ngày thành
lập 18 tỷ, tăng 30÷40%/năm. Nguồn ngoại tệ trên 10% đáp ứng nhu cầu hoạt động.
- Dư nợ đạt 3462 tỷ trong đó dư nợ tài trợ nhập khẩu gồm 50 triệu USD, chất
lượng tín dụng chú trọng.
1.1.2. Cơ cấu và sơ đồ tổ chức
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội là đơn vị trực thuộc
NHNo&PTNT Việt Nam có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ về tài chính, tự chịu
trách nhiệm về hoạt động kinh doanh. Hoạt động theo luật tổ chức tín dụng và chịu
tác động đồng thời của các luật khác. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Hà Nội có 11 phòng ban và 12 chi nhánh trực thuộc. Ban giám đốc của
NHNo&PTNT Hà Nội bao gồm Giám đốc và 3 Phó giám đốc (xem hình 1.1)
Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHN0 & PTNT HN
Chuyên đề tốt nghiệp Sinh viên: Ngô Anh Sơn
5
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
- Ban Giám Đốc: Gồm Giám Đốc, 3 Phó Giám Đốc, các trưởng, phó phòng và
các tổ nghiệp vụ điều hành kinh doanh chung cùng các chi nhánh trực thuộc cùng
tham mưu cho Giám Đốc.
- Chuyên môn nghiệp vụ: Gồm 9 phòng ban và 12 chi nhánh trực thuộc:
+ Phòng kinh doanh: Phòng nghiệp vụ có chức năng tham mưu cho Ban Giám
Đốc trong công tác chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ kinh doanh.
+ Phòng kế toán: Là phòng nghiệp vụ, chức năng tham mưu cho Giám Đốc về
tài chính, các quỹ quản lý tài sản, tổ chức công tác hạch toán, kế toán thống kê, thanh
toán tiền hàng và các dịch vụ khác.
Chuyên đề tốt nghiệp Sinh viên: Ngô Anh Sơn
6
BAN LÃNH ĐẠO
Các
Chi
Nhánh
Quận
Phòng
Kinh
Doanh
Phòng
Kế
Toán
Phòng
Kho
Quỹ
Phòng
Thanh
Toán
Quốc
Tế
Phòng
Hành
Chính
Và Tổ
Chức
Phòng
Kiểm
Soát
Nội Bộ
Phòng
Kế
Hoạch
Phòng
Chăm
Sóc
Khách
Phòng Kinh
Doanh
Phòng Kế Toán
Ngân quỹ
Phòng Giao Dịch
Số …….
Phòng Giao Dịch
Số …….
Tổ Hành Chính
Nhân Sự
KHÁCH HÀNG
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
+ Phòng thanh toán quốc tế: Là phòng nghiệp vụ có chức năng tham mưu cho
Ban Giám Đốc điều hành thực hiện nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ như bảo lãnh xuất
nhập khẩu.
+ Phòng kho quỹ: Chức năng thu, chi tiền mặt và ngân phiếu của khách hàng
có áp dụng thu nhập trực tiếp tại địa chỉ của khách hàng.
+ Phòng kiểm soát nộ bộ: Có nhiệm vụ kiểm tra giám sát việc chấp hành quy
trình kinh doanh theo đúng quy định của NHNN.
+ Phòng hành chính nhân sự: Kết hợp phòng tổ chức đào tạo cán bộ và phòng
hành chính phát chế.
+ Phòng kế hoạch: Là phòng nghiệp vụ có chức năng tham mưu cho Ban
Giám Đốc để huy động vốn tạo nguồn vốn đảm bảo bảo kinh doanh theo định hướng
và mục tiêu đề ra.
* Các chi nhánh cấp quận và chi nhánh ngân hàng cấp III trên địa bàn Hà Nội
vừa kinh doanh vừa thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội thực hiện các nghiệp vụ mà
NHN0 & PTNT HN cho phép như nhận tiền gửi và cho vay đối với các thành phần
kinh tế trong xã hội, làm đại lý dịch vụ.
1.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG TẠI NHNo & PTNT – CHI NHÁNH HÀ NỘI
1.2.1 Các nhân tố chủ quan
1.2.1.1 Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính của Chi nhánh NHNo & PTNT Hà Nội sẽ được xem xét
dựa trên một số chỉ tiêu sau:
Độ an toàn vốn
Trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng luôn phải đảm bảo một hệ số an
toàn vốn nhất định. Theo báo cáo của Chi nhánh NHNo & PTNT Hà Nội, do hoạt
động kinh doanh năm 2007 đem lại kết quả khả quan, nguồn vốn được tăng đáng kể,
dẫn đến các khoản phân bổ từ lợi nhuận này vào các quỹ dự trữ theo luật định cũng
tăng đáng kể, đưa hệ số CAR tăng từ 7.6% năm 2006 lên 7.7% năm 2007, đạt gần tới
mức quy định của ngành là 8%.
Như vậy, hệ số CAR của Chi nhánh NHNo Hà Nội trong các năm gần đây được
cải thiện và tiến tới đạt gần mức quy định của ngành 8% so với yêu cầu theo luật định.
Chuyên đề tốt nghiệp Sinh viên: Ngô Anh Sơn
7
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
Song với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, với hệ thống ngân hàng, môi
trường kinh doanh và hệ thống chuẩn mực kế toán và văn bản pháp luật còn chưa hoàn
thiện, thì hệ số CAR an toàn thường áp dụng như đối với các nước có môi trường tương
tự khác sẽ là khoảng 12% - 15%. Chính vì vậy, mà Ban lãnh đạo Chi nhánh NHNo &
PTNT Hà Nội cũng đưa ra mục tiêu đưa hệ số CAR trong các năm tiếp theo tối thiểu vào
khoảng 8% - 10% trong giai đoạn 2008 – 2010.
Bảng 1.1 Hệ số an toàn vốn (CAR) của Chi nhánh Hà Nội so với một số
NHTM khác trên địa bàn Hà Nội
Đơn vị: %
Đơn vị Năm 2006 Năm 2007 Tăng/giảm
Agribank Hà Nội 7,6 7,7 0.1
NHNT Hà Nội 11,87 12,3 0,43
ACB 10,9 12 1,1
BIDV 9,1 9,2 0,1
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Chi nhánh Hà Nội)
Chất lượng tài sản có
Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu tài chính về chất lượng tài sản có của Chi nhánh
NHNo&PTNT Hà Nội năm 2005 - 2007
Đơn vị: %
Chỉ tiêu
Chi nhánh NHNo Hà Nội
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
NHNT HN
Năm 2007
Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ 3,8 1,7 0,6 1,2
Tỷ lệ Dư nợ/Vốn huy động 21,25 19,65 22,38 71,8
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh 2005 - 2007)
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là chỉ số cho biết chất lượng tín dụng của một tổ
chức tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của Chi nhánh NHNo Hà Nội có chiều
hướng giảm năm 2005 là 3,8%, năm 2007 đạt 0,6%, chủ yếu là nợ của doanh nghiệp
ngoài quốc doanh và cho vay tiêu dùng, đời sống, và tỷ lệ nợ xấu có chiều hướng
tăng là do Chi nhánh đã thay đổi cơ cấu dư nợ từ cho vay phụ thuộc vào các Tổng
công ty lớn với dư nợ từng lần lớn sang cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, dư nợ
từng món nhỏ song tính ổn định hơn. Tuy nhiên so với các NHTM khác như Ngân
Chuyên đề tốt nghiệp Sinh viên: Ngô Anh Sơn
8
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
hàng ngoại thương Hà Nội (đạt 1,2%), thì tỷ lệ này ở mức thấp hơn. Điều này cho
thấy, Chi nhánh NHNo Hà Nội đã rất nỗ lực trong việc giải quyết nợ xấu.
Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động ở mức trung bình của ngành là 80%. Nếu tỷ lệ
này quá cao, có thể ngân hàng có chính sách thiếu thận trọng trong quản lý tín dụng,
kinh doanh với mức rủi ro cao, dựa nhiều vào nguồn vốn huy động. Ngược lại, nếu tỷ
lệ này quá thấp, có thể ngân hàng chưa sử dụng tốt vốn huy động. Tỷ lệ dư nợ trên
vốn huy động năm 2007 của các Chi nhánh Hà Nội đạt 22,38%, do đó, có thể thấy
Chi nhánh có chính sách quản lý tín dụng chặt chẽ.
Khả năng thanh khoản
Trong việc thực hiện chính sách quản lý thanh khoản, Chi nhánh luôn đảm
bảo tuân thủ đúng quy định về an toàn thanh khoản của NHNN và NHNo & PTNT
Việt Nam. Hiện nay, Chi nhánh NHNo Hà Nội quản lý thanh khoản hàng ngày, dựa
trên sự phê duyệt của Ban lãnh đạo, các hạn mức và giới hạn thanh khoản được Ban
lãnh đạo thông qua.
Khả năng sinh lời
Với sự giúp đỡ từ phía Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á,
NHNo & PTNT nói chung và Chi nhánh Hà Nội ngày càng lớn mạnh, và khẳng định
vị trí cũng như tên tuổi của mình. Những năm qua hoạt động kinh doanh của Chi
nhánh đều tăng trưởng:
Bảng 1.3 Kết quả kinh doanh của NHN0 & PTNT HN từ năm 2005 đến 2007
Đơn vị tính: tỷ VNĐ
Chỉ tiêu 31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007
Tăng/giảm
2006/2005
Tăng/giảm
2007/2006
Tổng thu 1722 2553 3464
Tổng chi 1614 2377 3208
Lợi nhuận
trước thuế
108 176 256 68 80
(Nguồn: Phòng Kế toán - Ngân quỹ Chi nhánh NHNo Hà Nội)
Qua bảng ta thấy kết quả hoạt động kinh doanh luôn đảm bảo tổng thu lớn hơn
tổng chi năm sau lại tăng hơn năm trước nên lợi nhuận tăng đều qua các năm thể
hiện lợi nhuận trước thuế năm 2005 là 108 tỷ VNĐ, năm 2006 là 176 tỷ và tăng 68 tỷ
Chuyên đề tốt nghiệp Sinh viên: Ngô Anh Sơn
9
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
so năm 2005, đến năm 2007 lợi nhuận đạt 256 tỷ VNĐ tăng 80 tỷ so với năm 2006
thể hiện sự tăng trưởng bền vững và ổn định.
Tiềm lực tài chính của Chi nhánh ngày càng tăng hỗ trợ rất lớn cho việc triển
khai các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế khi mà các
ngân hàng nước ngoài có tiềm lực vốn lớn. Bởi vì, phát triển dịch vụ ngân hàng luôn
đi liền với đổi mới, phát triển công nghệ, phát triển công nghệ luôn đòi hỏi một lượng
vốn lớn.
1.2.1.2 Nguồn nhân lực
Hiện nay Chi nhánh Hà Nội gồm 500 cán bộ nhân viên, nữ chiếm 60%; kế
toán 17%; tín dụng 32%; giám định viên 3%; ngân quỹ 11%; tin học 1,5%; lao công
bảo vệ, lái xe, hành chính 7%; nghiệp vụ khác 3,5%. Nhân lực trình độ chuyên môn:
Nghiệp vụ Tiến Sĩ; Thạc sĩ 1%; Đại học, Cao đẳng 31%; Trung học 46%; Chứng chỉ
9%; Sơ cấp 13%. Độ tuổi bình quân của các cán bộ của Chi nhánh là khoảng 35 tuổi.
Sau đây là cơ cấu về lao động của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn Hà Nội tính đến hết năm 2007:
Qua “Báo cáo số lượng chất lượng cán bộ của Chi nhánh năm 2007” cho thấy
đây là một trong những ngân hàng có cơ cấu lao động trẻ. Điều này vừa tạo ra thuận
lợi cũng như gây khó khăn trong mọi mặt hoạt động của Ngân hàng. Về mặt thuận
lợi: do còn trẻ, các nhân viên của chi nhánh rất nhiệt tình, tháo vát và năng động, có
trách nhiệm với công việc mình đảm nhận. Họ luôn không ngừng tìm tỏi, học hỏi để
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, họ cũng có không ít những khó khăn
như mới ra trường, kiến thức nhiều nhưng kinh nghiệm thực tiễn thì rất ít , gây khó
khăn trong khi xử lý và giải quyết công việc. Và điều này cho thấy nguồn nhân lực
của Chi nhánh chưa thật sự mạnh, ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển dịch vụ.
1.2.1.3 Năng lực về công nghệ
Nhận thức được yêu cầu tin học hóa ngân hàng là chiếc chìa khóa giúp ngân
hàng tham gia vào tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới, chỉ có ứng dụng công nghệ
hiện đại thì ngân hàng mới có thể nâng cao được chất lượng quản lý, bảo đảm an toàn
trong hoạt động, giảm được chi phí, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh
tranh , đối phó với thách thức trong quá trình hội nhập. Chi nhánh đã sẵn sàng thực
hiện mô hình phục vụ các khách hàng lớn sử dụng mạng VCB – Online ( là mạng dịch
Chuyên đề tốt nghiệp Sinh viên: Ngô Anh Sơn
10
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
vụ cho phép khách hàng thực hiện giao dịch ngay tại công ty hay ở nhà riêng thông
qua hệ thống máy ATM hoặc Internet) và thực hiện chương trình Hiện đại hóa ngân
hàng của WB từ năm 2003. Mô hình công nghệ mới với hệ thống IPCAS đã đưa hệ
thống trong ngân hàng chuyển từ xử lý phân tán sang xử lý tập trung, tăng khả năng
kiểm soát từ trung ương, và đa chức năng giao dịch tại quầy và đa kênh phân phối, tạo
điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng trong việc giao dịch và lập tài khoản tại mọi
Chi nhánh của Ngân hàng. Các lệnh thanh toán được xử lý dứt điểm trong ngày, qua
đó tăng nhanh tốc độ thanh toán do đó chất lượng dịch vụ thanh toán được nâng cao.
1.2.1.4 Hoạt động Marketing
Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO là sự kiện quan trọng làm cho môi trường
kinh doanh nước ta thay đổi. Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, những cam kết của
Việt Nam khi gia nhập WTO đã làm cho các điều kiện kinh doanh, môi trường pháp
lý ở lĩnh vực này thay đổi, đòi hỏi ngân hàng phải đổi mới để giữ vững thị trường,
đặc biệt trong công tác tiếp thị marketing là rất quan trọng. Hiện nay, Chi nhánh chỉ
mới có Tổ tiếp thị, chưa có Phòng Marketing. Công việc của tổ tuy không trực tiếp
giao dịch với khách hàng bằng nghiệp vụ chuyên môn bởi nhiệm vụ của tổ chỉ dừng
lại ở việc đề xuất và triển khai kế hoạch tiếp thị thông tin, hình ảnh của Chi nhánh,
thực hiện lưu trữ, khai thác các ấn phẩm sự kiện hoạt động quan trọng đối với Chi
nhánh, nhưng lại mang tính đặc biệt và quan trọng hơn nhiều, đó là bước khởi đầu để
tạo dựng một nền móng để tiếp cận thị trường, tìm hiểu khách hàng, khai thác, lôi
kéo, thuyết phục khách hàng để rồi chính khách hàng lại là người tìm đến Ngân hàng
và cần Ngân hàng. Tự nhận thấy Marketing là một trong những yêu cầu hàng đầu để
Chi nhánh Hà Nội có thể vững bước hội nhập đi lên thì trong thời gian tới, tổ tiếp thị
sẽ sát nhập với tổ thẻ thành Phòng dịch vụ sản phẩm mới và Marketing.
1.2.2 Các nhân tố khách quan
1.2.2.1 Môi trường địa lý
Những thay đổi căn bản của pháp luật ngân hàng Việt Nam được bắt đầu từ
năm 1988, đó là sự ra đời của 2 pháp lệnh về ngân hàng chuyển hoạt động của hệ
thống ngân hàng Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang hoạt động
kinh doanh theo cơ chế thị trường. Tiếp đó là việc thực thi hai Luật ngân hàng và các
tổ chức tín dụng từ 01/10/1998 đã mở ra một thời kỳ phát triển mới cho các tổ chức
Chuyên đề tốt nghiệp Sinh viên: Ngô Anh Sơn
11
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
tín dụng. Từ đó tạo điều kiện cho nhiều loại hình sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới ra
đời và phát triển mạnh mẽ như cho vay tiêu dùng, cho vay tín chấp với các điều kiện
cụ thể, dịch vụ bảo lãnh và dịch vụ thanh toán thẻ. Do đó danh mục sản phẩm của
các Ngân hàng Việt Nam nói chung đang thay đổi theo hướng phát triển hệ thống sản
phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, góp phần vào sự hội nhập thị trường tài chính khu
vực và quốc tế của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, trong đó có Chi nhánh
NHNo & PTNT Hà Nội.
Ngoài những điều kiện thuận lợi đó thì trong những năm qua, một số cơ chế
chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng khi triển khai còn nhiều vướng mắc như
thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hướng dẫn về thủ tục đăng ký
của một số loại giấy (giấy trắng về đất, giấy hồng mới) trong việc thế chấp…
1.2.2.2 Môi trường kinh tế
Chi nhánh NHNo Hà Nội nằm trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, là trung tâm kinh
tế của cả nước. Vì thế, đây là môi trường địa lý thuận lợi cho các doanh nghiệp tham
gia kinh doanh. Do vậy, các Ngân hàng không chỉ phục vụ nhu cầu của khách hàng
trên địa bàn Hà Nội mà còn trở thành trung tâm giao dịch, chu chuyển tiền tệ cho các
cá nhân, tổ chức từ nơi khác đến, điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
các dịch vụ của ngân hàng.
Năm 2007, nền kinh tế nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng 8,44%. Tỷ trọng xuất
khẩu đạt hơn 48 tỷ USD, thu hút nước ngoài đạt kỷ lục trên 20 tỷ USD. Tỷ lệ hộ
nghèo giảm từ 19% xuống 14,87% và 1,68 triệu lao động được giải quyết việc làm.
Giá dầu thô tăng mạnh, và giá các mặt hàng nông nghiệp, thủy sản nằm ở mức cao,
triển vọng kinh tế Việt Nam còn có nhiều yếu tố thuận lợi khác, trong đó phải kể đến
số ngoại tệ khổng lồ mà khối người Việt ở hải ngoại gửi về hàng năm cùng với
những khoản thu nhập khá lớn từ những chương trình xuất khẩu lao động. Các khoản
tiền này góp một phần đáng kể vào hoạt động huy động vốn của các NHTM nói
chung và NHNo & PTNT Hà Nội nói riêng.
Riêng Hà Nội, năm 2007 là năm kinh tế thủ đô tăng trưởng cao nhất trong
thập kỷ qua. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2007 ước tăng 12,1%. Giá trị sản
xuất công nghiệp tăng 21,1%, trong đó khu vực đầu tư nước ngoài và kinh tế ngoài
nhà nước có mức tăng 31,8% và 27,7%. Lĩnh vực dịch vụ tiếp tục phát triển. Hoạt
Chuyên đề tốt nghiệp Sinh viên: Ngô Anh Sơn
12
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
động thương mại nội địa và xuất nhập khẩu đều có bước phát triển tốt, kim ngạch
xuất khẩu tăng 20%, nhiều hoạt động tổ chức thương mại được xúc tiến thành công.
Hà Nội vẫn là một trong hai thành phố đứng đầu về thu hút FDI. Các trung tâm
thương mại, siêu thị tiếp tục duy trì mức tăng trưởng. Hoạt động dịch vụ diễn ra sôi
động, nhiều ngành, lĩnh vực đã gặt hái nhiều thắng lợi. Thành phố đã đón trên 1,2
triệu khách du lịch. Đặc biệt, các hoạt động tín dụng, ngân hàng tăng trưởng khá với
tốc độ tăng vốn huy động và cho vay cao. Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
đã phát huy được vai trò là kênh thu hút vốn đầu tư của thành phố. Giá trị tăng thêm
của dịch vụ tài chính ngân hàng cũng ở mức kỷ lục: hơn 20%; thu ngân sách khoảng
45.709 tỷ đồng. Nền kinh tế thủ đô đang dần khẳng định mình trong cơ chế thị
trường, chính sự phát triển vượt bậc này của Hà Nội đã tạo điều kiện không nhỏ đến
sự phát triển của các NHTM trên địa bàn, trong đó có Chi nhánh NHNo Hà Nội. Tất
cả những điều kiện đó giúp cho Chi nhánh NHNo Hà Nội có một môi trường kinh
doanh thuận lợi và ổn định hơn, tạo điều kiện cho việc phát triển các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng.
Tuy nhiên, giá cả tăng cao, chỉ số giá tiêu dùng ước tăng 12,4% so với tháng
12/2006. Đây là tốc độ tăng giá cao nhất trong những năm gần đây, vượt qua tốc độ
tăng GDP, điều đó làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh
doanh, dẫn đến việc không có khả năng trả nợ vay ngân hàng. Thêm vào đó, tình hình
hoạt động tiền tệ - tín dụng với tỷ giá USD và lãi suất huy động vốn có biến động ảnh
hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng.
1.2.2.3 Môi trường cạnh tranh
Hà Nội là thủ đô và là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, thương
mại và du lịch quan trọng của Việt Nam. Chính vì vậy mà tất cả các NHTM cũng
như các tổ chức tín dụng khác đều có trụ sở hoặc chi nhánh đặt tại đây. Đối thủ cạnh
tranh của NHNo & PTNT Hà Nội là hơn 100 tổ chức tín dụng (các ngân hàng
thương mại quốc doanh, ngân hàng nước ngoài và ngân hàng cổ phần) cùng với hệ
thống hơn 200 các phòng giao dịch trực thuộc của các TCTD này đang cùng hoạt
động trên địa bàn thủ đô. Trong đó, Chi nhánh NHNo Hà Nội xác định 3 đối thủ
cạnh tranh lớn truyền thống là: Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng công thương,
Ngân hàng đầu tư và phát triển.
Chuyên đề tốt nghiệp Sinh viên: Ngô Anh Sơn
13
Trường ĐHKTQD Khoa QTKD
So với các đối thủ truyền thống này, Chi nhánh NHNo & PTNT Hà Nội có
điểm yếu là đi sau trong lĩnh vực đưa ra các sản phẩm mới. Khi cả 3 đối thủ này đều
đã có ngân hàng trực tuyến, bước đầu cung cấp cho khách hàng các dịch vụ ngân
hàng qua mạng Internet thì Chi nhánh NHNo & PTNT Hà Nội cũng như NHNo &
PTNT Việt Nam mới bắt đầu triển khai. Tuy nhiên, Chi nhánh NHNo & PTNT Hà
Nội cũng có thế mạnh như: mạng lưới chi nhánh dày đặc, thương hiệu quen thuộc từ
lâu đời, mức phí trung bình phù hợp với khách hàng.
Bên cạnh đó, NHNo & PTNT Hà Nội cũng không thể xem thường các đối thủ
cạnh tranh tiềm ẩn như ngân hàng cổ phần, ngân hàng nước ngoài… Hiện nay, tại
Việt Nam có 40 NHTM cổ phần đang hoạt động và con số này sẽ tiếp tục gia tăng
trong thời gian tới. Mặc dù tuổi đời của các ngân hàng này còn ngắn, khoảng trên
dưới 10 năm song không thể phủ nhận những bước phát triển vượt bậc của họ trong
thời gian gần đây. Nổi lên trong đó phải kể đến Ngân hàng Cổ phần Kỹ thương
Techcombank với những hoạt động khá nhạy bén và năng động; Ngân hàng ACB với
vốn lớn và kỹ thuật vượt trội.
Ngoài ra, Chi nhánh NHNo & PTNT Hà Nội cũng phải đối mặt với các ngân
hàng nước ngoài và liên doanh, công ty liên doanh cho thuê tài chính, các liên doanh
giữa công ty bảo hiểm và NHTM khác trên địa bàn Hà Nội.
Do vậy, trong môi trường cạnh tranh gay gắt này, Chi nhánh NHNo Hà Nội
cần tìm kiếm phát triển các dịch vụ mới, nâng cao trình độ công nghệ, phong cách
phục vụ với phí dịch vụ hợp lý, đồng thời có thể hỏi học từ các đối thủ cạnh tranh
của mình để đem lại nhiều tiện ích nhất cho khách hàng.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ TẠI
CHI NHÁNH NHNo & PTNT HÀ NỘI
Chuyên đề tốt nghiệp Sinh viên: Ngô Anh Sơn
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét