5
CHƯƠNG 1 :
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về tín dụng Ngân hàng:
1.1.1, Khái niệm về tín dụng:
Tín dụng xuất phát từ gốc chữ Latinh: Credittum – tức là sự tin tưởng, tín
nhiệm. Tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam là sự vay mượn.
Tín dụng là một quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới
hình thức giá trị hay hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng
để sau một
thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn ban đầu [6].
Sơ đồ 1.1 :Sơ đồ biểu hiện tín dụng
Nguồn: Giáo trình tiền tệ - Ngân hàng, TS. Nguyễn Đăng Dờn [6]
1.1.2, Bản chất – Chức năng của tín dụng:
1.1.2.1, Bản chất của tín dụng:
Tín dụng là quá trình vận động của giá trị vốn tín dụng từ chủ
thể này sang
chủ thể khác rồi sau một thời gian lại vận động về nơi xuất phát. Do vậy, để hiểu rõ
bản chất tín dụng chúng ta phải xem xét mối quan hệ kinh tế trong quá trình vận
động của nó, thể hiện qua 3 giai đoạn sau :
- Giai đoạn phân phối tín dụng: Tương ứng với giai đoạn cho vay, tức vốn
tiền tệ hay hàng hóa được chủ thể cho vay chuyển sang chủ thể
đi vay trên cơ sở tin
tưởng chủ thể này sẽ thực hiện cam kết.
- Giai đoạn sử dụng vốn tín dụng: Ở giai đoạn này, sau khi nhận được vốn tín
dụng, chủ thể đi vay được quyền sử dụng giá trị đó trong một khoảng thời gian đã
CHỦ THỂ
CHO VAY
CHỦ THỂ
ĐI VAY
(1) Cho vay vốn
(2) Hoàn trả vốn
6
thỏa thuận vào mục đích nhất định. Tuy nhiên, quyền sở hữu giá trị vốn tín dụng vẫn
thuộc về chủ thể cho vay.
- Giai đoạn hoàn trả vốn tín dụng: Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần
hoàn tín dụng. Sau khi kết thúc thời gian sử dụng vốn tín dụng, chủ thể vay vốn
chuyển trả chủ thể cho vay giá trị vốn gốc và một phần giá trị
tăng thêm, gọi là lợi
tức tín dụng.
Sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín
dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù khác [10].
1.1.2.2 , Chức năng của tín dụng:
- Phân phối lại vốn tiền tệ trong nền kinh tế: Nhờ vào sự vận động của tín
dụng mà các chủ thể
vay vốn nhận được một phần vốn tiền tệ từ các chủ thể khác
trong xã hội để phục vụ sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng. Vốn tín dụng có thể
được phân phối dưới 2 hình thức :
+ Phân phối trực tiếp: Là việc phân phối từ chủ thể tạm thời thừa vốn sang
chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó đề sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.
+ Phân phố
i gián tiếp: Việc phân phối vốn được thực hiện thông qua các
định chế tài chính trung gian như Ngân hàng, Quỹ tín dụng, Công ty tài chính…
- Chức năng tiết kiệm tiền mặt: Do đặc điểm của lưu thông tiền mặt là
thường hay gặp rủi ro và phí lưu thông cao. Vì thế, các hình thức thanh toán không
dùng tiền mặt của Ngân hàng thương mại ngày càng trở nên phổ biến. Điều này sẽ
làm giảm khối lượng tiền mặt trong lư
u thông, làm giảm chi phí lưu thông tiền mặt
và hạn chế rủi ro trong thanh toán. Đồng thời cho phép nhà nước điều tiết linh hoạt
khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và lưu thông hàng
hóa.
- Tạo ra các công cụ lưu thông tiền tệ và tiền tín dụng cho nền kinh tế:
Thông qua hoạt động tín dụng đã làm phát sinh các công cụ lưu thông tín dụng như
7
thương phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu,…. Các công cụ này có thể lưu thông, chuyển
nhượng, có thể thay thế một khối lượng lớn tiền mặt lưu hành.
Ngày nay tiền giấy được phát hành vào lưu thông đã tách rời với dự trữ vàng
của Ngân hàng. Nhưng việc phát hành tiền vẫn thực hiện thông qua con đường tín
dụng như: tái cấp vốn cho các Ngân hàng trung gian, cho vay đối với Ngân hàng nhà
nước… Đây là cơ sở
đảm bảo cho lưu thông tiền tệ ổn định, đồng thời đảm bảo đủ
phương tiện thanh toán phục vụ lưu thông hàng hóa được bình thường [6] .
1.2. Tín dụng Ngân hàng , phân loại và vai trò của tín dụng Ngân hàng:
1.2.1, Khái niệm tín dụng Ngân hàng :
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ
Ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản phí nhất
định, tín dụng Ngân hàng chứa đự
ng ba nội dung sau:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử
dụng
- Sự chuyển nhượng này mang tính chất tạm thời hay có thời hạn.
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo phí.
Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín
dụng với các chủ thể kinh tế, các cá nhân thì Ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là
người cho vay.
+ Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng cấp tín dụ
ng cho các chủ thể kinh
tế, các cá nhân bằng việc thiết lập các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ…
+ Với tư cách là người đi vay, Ngân hàng nhận tiền gửi của các chủ thể kinh
tế, các cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi: Kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng
để huy động vốn. [8]
1.2.2, Phân loại tín dụng Ngân hàng:
8
1.2.2.1, Dựa vào mục đích của tín dụng :
+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân.
+ Cho vay bất động sản .
+ Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu.
1.2.2.2, Dựa vào thời hạn tín dụng :
+ Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm. Mục đích của
loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động.
+ Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1
đến 5 năm. Mục đích
của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
+ Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại
cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào các dự án đầu tư.
1.2.2.3, Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:
+ Cho vay không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc bả
o lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay
vốn để quyết định nợ vay.
+ Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền
vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của 1 bên thứ ba nào khác.
1.2.2.4, Dựa vào phương thức cho vay:
+ Cho vay theo món vay.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng.
1.2.2.5, Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay:
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn g
ọi là cho vay trả nợ 1 lần khi
đáo hạn.
+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
9
+ Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng
tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
1.2.2.6 , Dựa vào loại khách hàng:
+ Tín dụng cá nhân: Là loại đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân như cho vay
sinh hoạt tiêu dùng, xây dựng và sửa chữa nhà, sản xuất kinh doanh, cho vay hỗ trợ
du học…Những người tiêu dùng cá nhân đã nhận thức được việc vay mượn không
chỉ
được cần đến như một phương thức giải quyết những nhu cầu cấp bách mà còn
được coi như một phương tiện để cải thiện mức sống của họ.
Nhu cầu về tín dụng cá nhân thường gắn liền với mức thu nhập của người dân
. Nhìn chung tín dụng cá nhân bao gồm tín dụng trả góp và tín dụng thanh toán ngay
( thẻ tín dụng…).
Tín dụng cá nhân đơn giản hơn so với khách hàng doanh nghiệp vì s
ố tiền
cho vay tương đối nhỏ, hồ sơ không phức tạp, không cần phân tích đánh giá báo cáo
tài chính.
+ Tín dụng doanh nghiệp: Là hình thức cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế
có nhu cầu về vốn. Những nhu cầu vay tiền của khách hàng doanh nghiệp chủ yếu
là: cung cấp vốn lưu động cho công việc kinh doanh mới hoặc đã có hoặc cho dự án
kinh doanh, mua nhà máy, máy móc hoặc các phương tiện vận tải, tài trợ kinh doanh
xuất nhập kh
ẩu, thu mua nguyên liệu thô để chế xuất
Các nghiệp vụ tín dụng đối với các doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu
riêng biệt của họ thường là: thấu chi, tín dụng chứng từ, cho vay nhập khẩu….
1.2.3, Vai trò của tín dụng Ngân hàng:
- Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội:
+ Tín dụng Ngân hàng giúp điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ đó
góp phần duy trì, thúc đẩy quá trình mở
rộng, phát triển sản xuất kinh doanh được
thường xuyên, liên tục với một chi phí hợp lý.
10
+ Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, từ đó kích thích
quá trình tiết kiệm và gia tăng vốn đầu tư phát triển cho xã hội.
- Tín dụng Ngân hàng là kênh truyền tải tác động của Nhà nước đến các mục
tiêu vĩ mô:
+ Ngày này, các nhà nước đều sử dụng tín dụng của hệ thống Ngân hàng để
điều tiết quá trình kinh tế thông qua chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.
+ Chính sách tín dụng của Nhà n
ước cho phép hệ thống Ngân hàng thắt chặt
hay mở rộng tín dụng để đạt được một tốc độ phát triển kinh tế như ý muốn. Với
chính sách tín dụng, Nhà nước có thể hình thành cơ cấu nền kinh tế theo sự hoạch
định trước.
+ Ngày nay, việc thực hiện các chính sách xã hội bằng ngân sách luôn được
giảm thiểu, mà thay vào đó là các công cụ tín dụng như tín dụng đối với người
nghèo, tín dụng đối v
ới sinh viên…; các chính sách phát triển kinh tế nông thôn,
miền núi, vùng sâu, vùng xa, phát triển các thành phần kinh tế,…đều được thực hiện
thông qua chính sách tín dụng.
- Tín dụng Ngân hàng góp phần thực hiện các chính sách xã hội của nhà
nước: Thông qua việc nới lỏng các điều kiện tiếp cận vốn tín dụng Ngân hàng, cũng
như ưu đãi về mặt lãi suất, thời hạn tín dụng cho các đối tượng cần hưởng chính
sách xã hội, nhà nước có thể nâng cao hiệ
u quả trong việc thực hiện các chính sách
của mình.
- Tạo điều kiện để mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại: Thông
qua việc cung cấp tín dụng tài trợ hoạt động xuất nhập khẩu, thu hút nguồn vốn tín
dụng nước ngoài… tín dụng Ngân hàng đã thúc đẩy việc mở rộng và phát triển kinh
tế đối ngoại, đẩy mạnh quá trình CNH – HĐH đất nước [10].
1.3. Các vấn đề chung về tín dụng doanh nghiệp:
1.3.1, Các khái niệm:
a. Khái niệm về cấp tín dụng :
11
Theo Khoản 10 Điểu 20 Luật các tổ chức tín dụng số 07/2007 do Quốc Hội
ban hàng qui định: “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách sử
dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, và các nghiệp vụ khác”.
b. Khái niệm cho vay:
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho
khách hàng một khoả
n tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây chính là
thời hạn cho vay.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng nhận vốn
vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp
đồng tín d
ụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng [3].
1.3.2, Các phương thức cho vay doanh nghiệp:
Dựa vào thời hạn cho vay, cho vay chia thành cho vay ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn
a) Cho vay ngắn hạn doanh nghiệp:
Hiện nay trong cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp, các Ngân hàng
thương mại thỏa thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phương thức cho vay.
Hai phương thức cho vay ngắn hạn áp dụng phổ biến hiện nay là :
+ Cho vay từng lần: Mỗ
i lần vay vốn, khách hàng và Ngân hàng thương
mại thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng thương mại và khách hàng
xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian
nhất định.
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn
nhất định mà Ngân hàng và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
12
Khác với loại vay thông thường, Ngân hàng không xác định kỳ hạn nợ cho từng
món vay mà chỉ khống chế theo hạn mức tín dụng; có nghĩa là vào một thời điểm
nào đó nếu dư nợ cho vay của khách hàng lên đến mức tối đa cho phép, thì khi đó
Ngân hàng sẽ không phát tiền vay cho khách hàng.
Trong phạm vi hạn mức tín dụng, thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng
(không quá 12 tháng), mỗi lần rút vốn vay khách hàng và Ngân hàng nơi cho vay l
ập
giấy nhận nợ kèm theo các chứng từ phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp
đồng tín dụng .
+ Ngoài ra, còn có phương thức cho vay ngắn hạn khác là: Cho vay theo hạn
mức thấu chi :
Hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận thỏa thuận
bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số có trên tài khoản thanh toán
của khách hàng phù hợp với các quy đị
nh của Chính Phủ và Ngân hàng Nhà Nước
Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán [3]
b) Cho vay trung và dài hạn doanh nghiệp :
Mục đích của cho vay trung và dài hạn nhằm giúp khách hàng đủ vốn đầu tư
vào tài sản cố định. Dựa vào mục đích vay, Ngân hàng có thể cho khách hàng vay
vốn dài hạn để mua sắm tài sản cố định như máy móc thiết bị hoặc cho khách hàng
vay vốn dài hạn đầu tư
vào một dự án đầu tư. Cho nên, về phương thức cho vay dài
hạn có thể là.
+ Cho vay mua sắm máy móc thiết bị.
+ Cho vay đầu tư dự án.
1.3.3, Qui định về hoạt động tín dụng doanh nghiệp:
Được thực hiện theo theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31
tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành qui chế
cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; và Quyết định số 127/2005/QĐ-
13
NHNN ngày 03/02/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi bổ
sung một số điều trong Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN [3].
1.3.3.1, Nguyên tắc và điều kiện cấp tín dụng:
* Nguyên tắc cấp tín dụng: Việc vay vốn ngắn hạn là nhu cầu tự nguyện của
khách hàng và là cơ hội để Ngân hàng cấp tín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động
của mình. Tuy nhiên, cấ
p tín dụng liên quan đến việc sử dụng vốn huy động của
khách hàng nên phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Nói chung, khách
hàng vay vốn của Ngân hàng phải đảm bảo hai nguyên tắc :
- Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp
đồng tín dụng.
* Điều ki
ện cấp tín dụng: Ngân hàng chỉ xem xét và chấp nhận cấp tín dụng
với những khách hàng thỏa các điều kiện cơ bản sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật.
- Có mục đích vay vốn hợp pháp.
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
- Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ
khả thi và có hiệu quả.
- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của chính phủ và
hướng dẫn của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam.
1.3.3.2, Hồ sơ tín dụng :
Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho các tổ chức tín dụng giấy đề
nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn. Khách hàng
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp c
ủa các tài liệu
phải gửi cho tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng hướng dẫn các loại tài liệu khách
14
hàng cần gửi cho tổ chức tín dụng phù hợp với từng loại khách hàng, loại cho vay và
khoản vay. Thông thường bộ hồ sơ vay vốn gồm có :
+ Giấy đề nghị vay vốn.
+ Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng: như giấy phép
thành lập; quyết định bổ nhiệm giám đốc; điều lệ hoạt động.
+ Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc d
ự án đầu tư.
+ Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất.
+ Các giấy tờ liên quan đến thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay.
+ Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.
1.3.3.3, Trường hợp không được cho vay và hạn chế cho vay:
* Trường hợp không được cho vay: Ngân hàng không được cho vay trong
những trường hợp sau đây :
- Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc),
Phó t
ổng giám đốc (Phó giám đốc) của tổ chức tín dụng.
- Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thức hiện nhiệm vụ thẩm
định, quyết định cho vay.
- Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,
Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc).
* Trường hợp hạn chế cho vay: Ngân hàng không được cho vay không có
đảm bảo, cho vay với những điề
u kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với
những đối tượng sau đây :
- Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chức tín
dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho
vay; Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét