+ Các chính sách trợ giúp phát triển công nghiệp
+ Các ưu đãi về tài chính cho đầu tư
+ Chương trình đầu tư công cộng
+ Dự trữ của khu vực công cộng
+ Trợ cấp tài chính cho R & D
+ Chống độc quyền
+ Lập luận ngàn công nghiệp non trẻ
+ Các biện pháp khuyến khích ưu đãi các doanh nghiệp quy mô vừa và
nhỏ
+ Chính sách phát triển vùng
+ Các biện pháp bảo hộ mậu dịch
1.2. Khái niệm chính sách phát triển công nghiệp
Trên phương diện lý thuyết, chính sách công nghiệp được xem xét dưới
nhiều góc độ khác nhau. Một chính sách công nghiệp có thể có phạm vi tổng
quát hay mục tiêu cụ thể, nhấn mạnh vào sử dụng các công cụ theo chiều dọc
hay chiều ngang, và có thể có tác dụng tiêu cực hoặc tích cực đối với tăng
trưởng kinh tế .
Một chính sách công nghiệp có phạm vi rộng nhằm vào khuyến khích tất
cả các ngành công nghiệp , trong khi đó một chính sách công nghiệp có phạm vi
hẹp thì chỉ tập trung vào một hay một số khu vực công nghiệp được lựa chọn
theo những tiêu thức nhất định .
Như vậy, chính sách phát triển công nghiệp được hiểu là sự can thiệp trực
tiếp hay gián tiếp của Chính phủ hướng vào những ngành nhất định để đạt được
những ngành nhất định để đạt được mục tiêu cụ thể (Mục tiêu này có thể là tăng
trưởng, xây dựng năng lực cạnh tranh, tạo công ăn việc làm). Chính sách công
nghiệp thường được thể hiện dưới dạng tổ chức ngành, chọn ngành ưu tiên,
chính sách tài chính và tín dụng (thuế, tợ cấp, đầu tư trực tiếp của Nhà nước, tín
dụng ưu đãi) đối với ngành, chính sách phát triển nguồn nhân lưc của ngành,
chính sách tăng tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm của ngành, chính sách đầu tư
5
nước ngoài vào các ngành, chính sách kinh tế đối với các ngành , chính sách đối
với các khu vực chế xuất và khu công nghiệp tập trung.
2. Nội dung và mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp
2.1 Nội dung
Một là, chính sách phát triển công nghiệp bao gồm toàn bộ những hoạt
động hoạch định của một nước ngằm phát triển công nghiệp, liên quan tới những
hoạt động hoạch dịnh này là những vấn đề điều chỉnh cơ cấu sản xuất và đầu tư ,
hiện đại hoá và cải tổ cơ cấu công nghiệp, chính sách thị trường và xuất nhập
khẩu, chính sách khuyến khích R & D , chính sách đối với sản xuất quy mô nhỏ
và các chính sách có liên quan đến phát triển nguồn lực và năng lượng.
Hai là, trong chính sách công nghiệp cần định rõ các ngành công nghiệp
cụ thể sẽ được khuyến khích và dành cho nhừng lĩnh vực này những ưu tiên
khác nhau trong một thời gian nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực của đất nước vào việc đẩy nhanh tốc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế .
Ba là, xây dựng đồng bộ hệ thống các phương tiện khuyến khích phát
triển các ngành công nghiệp đã dược lựa chọn . Liên quan đến các phương tiện
này là khuyến khích về tài chính, xây dựng hệ thống kiểm soát thích hợp hỗ trợ
hoạt động R & D, đặc biệt quan tâm tới các mục tiêu và kế hoạch dài hạn ,
2.2. Mục tiêu.
Vấn đề có ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu của chính sách phát
triển công nghiệp. Phần lớn ở các nước khi xây dựng chính sách phát triển công
nghiệp thường đưa ra nhiều mục tiêu. Tuy nhiên, có thể nêu lên 2 mục tiêu chính
là : phát triển công nghiệp cân đối và công bằng.
- Phát triển công nghiệp cân đối đòi hỏi phải đảm bảo được sự cân đối
giữa ngành công nghiệp, giữa các địa phương và vùng lãnh thổ. Hầu hết các
nước trong quá trình phát triển công nghiệp đều không tập trung đầu tư quá mức
vào một ngành công nghiệp nào và tìm cách để duy trì được các thị trường có
khả năng cạnh tranh lớn.
6
Ngoài ra, mục tiêu phát triển cân đối còn được thể hiện ở chỗ : Bên cạnh
các trung tâm công nghiệp của các thành phố lớn, nhiều nước ddax khuyến
khích phát triển các vùng nông thôn và coi việc định vị lại công nghiệp như là
phương tiện quan trọng cho mục tiêu này.
Để thiết lầp được một cơ cấu công nghiệp cân đối, các cước chú ý vào hai
vấn đề là thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp quy mô nhỏ và lựa chọn, phát
triển một số ngành công nghiệp mũi mhọn.
- Mục tiêu công bằng là một trong hai mục tiêu chính của chính sách công
nghiệp. Nó bao gồm các mặt như công bằng xã hội và công bằng giữa các nhà
đầu tư trong và ngoài nước. Việc thực hiện mục tiêu này có ý ngiã đảm bảo cho
sự phát triển bền vững của công nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói
chung.
Ngoài hai mục tiêu trên còn có những mục tiêu khác như: đảm bảo “chất
lượng cuộc sống” thông qua việc thiết lập các quy tắc xã hội để kiểm soát ô
nhiễm và chất thải, ban hạnh luật về lương thực, thực phẩm, hoặc cũng có nước
đặt mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp là nhằm tăng thu nhập về
ngoại hối nhằm cải thiện cán cân thanh toán. Trong những năm gần đây, gới xu
thế gia tăng về hội mhaapj kinh tế, các nước còn coi mục tiêu tăng cường hợp
tác kinh tế với thế giới và khu vực là mục tiêu của chính sách phát triển công
nghiệp…
3. Trọng tâm của chính sách phát triển công nghiệp.
Chính sách công nghiệp đặt trọng tâm vào phát triển khu vực chế tạo của
nền kinh tế. Những người ủng hộ chính sách công nghiệp cho rằng hiện tượng
phi công nghiệp hoá ở Anh và Mỹ trong khoảng 3 thập kỷ qua xuất phát từ việc
coi nhẹ vai trò của khu vực chế tạo, lam giảm đóng góp của khu vực này vào
GDP và tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Theo Cohen và Zysman (1987): với tầm quan trọng của khu vực chế tạo
thì đây là một sự sai lầm về định hướng chính sách. Thêm vào đó, các biện pháp
điều chỉnh kinh tế vĩ mô có thể lầ chưa đủ để có thể thúc đẩy sự phát triển của
7
khu vực chế tạo vì đối với tăng trưởng năng suất của khu vực này, sự phân bổ
vốn còn có ý nghĩa quan trọng hơn là tổng giá trị vốn đầu tư. Chính vì vậy,
Chính phủ cần can thiệp trực tiếp để thúc đẩy phát triển công nghiệp.
Tuy nhiên, đó cũng là trong tâm gây nhiều tranh cãi. Những người phản
đối quan điển chính sách công nghiệp cho rằng tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ
hậu công nghiệp ở các nước tư bản phát triển đặt trọng tâm vào khu vực dịch vụ,
dịch vụ trở thành trung tâm của các hoạt động kinh tế. Vì vậy, các biện pháp can
thiệp của Chính phủ theo hướng ưu tiên khu vực công nghiệp mà không tập
trung cho phát triển khu vực dịch vụ không nhưngx là không cần thiết mà còn có
ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế. Chính sách công nghiệp sẽ cản trở cơ
chế chọn lọc tự nhiên của thị trường và ngăn cản việc tái phân bổ các nguồn lực
khan hiếm của nền kinh tế cho khu vực dịch vụ, vì vậy ảnh hưởng tiêu cực đến
triển vọng tăng trưởng lâu dài của nên kinh tế (quan điểm của Burtơn-1983).
Song sự thay đổi về cơ cấu theo hướng phát triển dịch vụ không phải chỉ
đơn thuần là vì con người mong muốn tiêu dùng nhiều dịch vụ khi đới sống
được cải thiện. Lý do chủ yếu nhất của sự dịch chuyển về cơ cấu này là do chi
phí lạm phát tương đối của khu vực dịch vụ tăng trưởng chậm trong năng suất
của khu vực này, chứ không phải là do sự dịch chuyển thật sự của nhu cẩu thị
trường về phía khu vực dịch vụ khi thu nhập gia tăng.
Bên cạnh đó, xu hướng phi công nghiệp hoá quan sát được ở một số nước
công nghiệp phát triển là một kết quả tất yếu trong dài hạn của sự chênh lệch
năng suất lao động giữa hai khu vực này chứ không nhất thiết là do khu vực
công nghiệp suy giảm sức cạnh tranh. Ngay cả các nền kinh tế hướng mạnh vào
xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp như Nhật Bản, Đức cũng chịu những ảnh
hưởng nhất định của phi công nghiệp hoá. Nói cách khác, phi công nghiệp hoá
và sự suy giảm của khu vực công nghiệp là hai khái niệm khác nhau, mặc dù sự
giảm sút của khu vực công nghiệp có thể ảnh hưởng đến mức độ phi công
nghiệp hoá. Vì vậy, không thể kết luận rằng khu vực công nghiệp của một nền
8
kinh tế nào đó đang xuống dốc nếu chỉ căn cứ vào những biểu hiện của phi công
nghiệp hoá mà nó đang phải trải qua theo định nghĩa ở trên.
4. Tính tất yếu của chính sách công nghiệp.
Chính sách bao hàm ý nghĩa có sự can thiệp của Chính phủ dưới bất cứ
hình thức nào. Cần phải có chính sách là vì thị trường có những khiếm khuyết
nhất định:
4.1. Do những thất bại của thị trường và vai trò can thiệp của Chính phủ
Lý thuyết phổ biến nhất lý giải cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền
kinh tế là lý thuyết về sự thất bại của thị trường. Tư tưởng trong tâm của trường
phái này tập trung vào thất bại của cơ chế thị trường trong việc cân bằng giữa
chi phí và lợi ích giữa cá nhân và xã hội, đồng thời cho rằng Chính phủ có thể
can thiệp để khắc phục khuyết tật của thị trường.
Hàng hoá công cộng là một thất bại hay được nhắc đến nhất của cơ chế thị
trường. Vì tính không ngoại trừ của hàng hoá công cộng, các cá nhân luôn có
đông lực thực hiện hành vi của những người ăn theo, ảnh hưởng của vấn đề
những người ăn theo là các hàng hoá công cộng sẽ được cung cấp ít hơn mức xã
hội mong muốn. Vì vậy Chính phủ cần can thiệp thông qua trực tiếp cung cấp
hàng hoá công cộng.
Tiếp nữa, sự tồn tại của tính kinh tế nhờ quy mô có thể là một yếu tố dẫn
đến những cơ cấu thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Trong một cơ cấu thị
trường như vậy, mức giá cung cấp sẽ cao hơn mức giá cạnh tranh hoàn hảo dẫn
đến tổn thất thặng dư tiêu dùng. Phần tổn thất này được chuyển một phần vào
thặng dư sản xuất dưới dạng lợi nhuận độc quyền, phần còn lại là lợi ích mất
không của xã hội. Mặc dù lý thuyết “Điều tốt thứ nhì”và quan điểm cho rằng
can thiệp của Chính phủ có thể là nguyên nhân của thị trường cạnh tranh không
hoàn hảo, sự tồn tại của cơ cấu thị trường này vẫn là một lý do quan trọng biện
minh cho vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường.
9
4.2. Xuất phát từ lý thuyết về sự thất bại của Chính phủ
Trong thực tế, cũng như khả năng thị trường tự do có những khuyết tật, sự
can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế cũng có thể không thành công vì bản
thân Chính phủ cũng có những thát baị của nó.
Có hai yếu tố chính cản trở Chính phủ có thể đạt được mục tiêu can thiệp
vào nền kinh tế.
Thứ nhất, chi phí cần thiết để Chính phủ có thể thu thập đủ và xử lý tốt
các thông tin về thất bại thị trường trong nhiều trường hợp có thể còn lớn hơn cả
lợi ích mà các biện pháp khắc phục khuyết tật thị trường mang lại.
Thứ hai, vì có sự xuất hiện của việc thu thập , xử lý thông tin, sự can
thiệp của Chính phủ có thể lại dẫn đến những chi phí nhất định đối với xã hội,
và chi phí này cũng có thể lớn hơn lợi ích mà nó mang lại.
4.3. Lý thuyết thể chế mới về sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế
Như đã phân tích trong phần trên, can thiệp của Chính phủ để khắc phục
những khuyết tật củâ thị trường sẽ dẫn đến những chi phí nhất định mà những
chi phí này có thể lớn hơn cả lợi ích thu được từ sự can thiệp của Chính phủ.
Tuy nhiên, điều đó không đủ để có thể kết luận rằng Chính phủ không thể can
thiệp có hiệu quả vào nền kinh tế.
Lý thuyết thể chế mới cho rằng chi phí về thông tin có thể giảm thong qua
những thay đổi thichs hợp trong hệ thống tổ chức của bộ náy hành chính và
trong quan niệm về giá trị của các cá nhân là thành viên của bộ váy chính quyền
và xã hội. Những chi phí thu thập và xử lý thông tin sẽ có thể được loại bỏ thông
qua việc cho phép cạnh tranh giữa các Đảng phái và sử dụng các công cụ can
thiệp thích hợp.
Ngoài ra, lý thuyết này còn cho rằng thị trường không phải là một cơ chế
điều phối duy nhất đối với sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế. Thị
trường,Chính phủ, các hãng, và các thể chế kinh tế khác đều có vai trò trong một
cơ chế phối hợp để dưa ra các quyết định chính sách. Những người ủng hộ quan
điểm này cho rằng Chính phủ có thể giải quyết vấn đề phối hợp giữa các tác
10
nhân ở trên với chi phí thấp hơn mức chi phí phối hợp của thị trường, thông qua
việc xác lập một hệ thống quyền sở hữu phù hợp, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ
mô, tái cấu trúc xã hội theo các nhóm, tầng lớp lớn, điều phối và định hướng đầu
tư, xây dựng tự hào và bản sắc dân tộc.
4.4. Quan điểm kinh tế chính trị
Lý thuyết thất bại thị trường biện minh cho sự can thiệp của Chính phủ
dựa trên giả định cho rằng mục tiêu của Chính phủ là phải can thiệp vào thị
trường, phục vụ lợi ích của xã hội.
Quan điểm kinh tế chính trị, ở một thái cực là các nhà kinh tế Marxist, ở
thái cực khác là trường phái Chicago xuất phát từ những quan điểm khác.
Chính phủ có thể có một mức độ độc lập nhất định đối với đai chúng, nhất
là khi không có giai cấp nào có đủ khả năng ảnh hưởng mạnh đến các quyết định
chính sách. Trong tình huống này Chính phủ có thể hành động theo mục tiêu tối
đa hoá nguồn thu vào ngân sách.
Theo Findlay (1990), Chính phủ có thể được coi như là một lực lượng độc
lập đưa ra các quyết định không nhất thiết phải xuất phát từ lợi ích của xã hội.
Quan điểm về nhóm lợi ích coi Chính phủ như là chiếc hộp đen mà các
nhóm lợi ích trong xã hội có thể đối kháng, hay liên minh với nhau để đưa ra các
quyết định về chính sách. Khi một khu vực công nghiệp nào đó có tầm quan
trọng đối với nền kinh tế, sức ép của nhóm lợi ích này có thể dẫn đến các quyết
định về chính sách thuận lợi đối với nhóm lợi ích đó mà có thể gây phương hại
đến những nhóm lợi ích khác trong xã hội.
Một số nhà kinh tế Marxist cho rằng sự tồn tại của một Nhà nước phu
thuộc chặt chẽ vào phương thức tái sản xuất của xã hội, và vì vậy, Chính phủ
phải hành động vì lợi ích của giai cấp đóng vai trò chủ đạo về kinh tế trong cấu
trúc xã hội.
Nói tóm lại, khác với lý thuyết về thất bại của thị trường, quan điểm
kinh tế chính trị cho rằngcp có thể có sự can thiệp vào nền kinh tế nhưng có thể
11
đươc biện minh bởi những nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm, mức độ độc
lậpcủa từng hệ thống chính quyền.
Từ những lý do nói trên dẫn đến nền kinh tế nói chung và lĩnh vực công
nghiệp nói riêng cần phải có một chính sách để phát triển đó là Chính sách phát
triển công nghiệp.
5. Phân loại chính sách công nghiệp
Bản thân nền công nghiệp, đối tượng của chính sách, là thực thể luôn luôn
động. Hơn nữa, chính sách công nghiệp là cái luôn biến đổi từng giờ, từng phút
với sự biến động của thời đại của xã hội và có rất nhiều loại đối tượng. Không
có lý luận chung cho chính sách công nghiệp. Do vậy, phải phân loại chính sách
công nghiệp theo mục đích, chủng loại, và tính chất.
5.1. Phân loại theo vai trò của Nhà nước trong sự phân công giữa Nhà
nước và các doanh nghiệp
Theo cách phân loại này, chức năng của chính sách công nghiệp hướng
vào 3 mục đích chính:
- Hỗ trợ phát triển ngành: chính sách tạo khả năng đối kháng với doanh
nghiệp tư nhân (chỉ đạo hay quy chế cho pjhép công nghiệp hợp tác, bổ sung
hoặc hỗ trợ đối với doanh nghiệp tư nhân). Các chính sách này khác nhau ở chỗ
là dựa vào pháp luật (quyề lực hay chỉ đạo hướng dẫn, …).
- Khống chế các giao dịch bất chính: Bao gồm chính sách có mục đích
duy trì trật tự (chỉ đạo, ngăn cấm, cho phép) hay các chính sách có tính phán
quyết hình thức (đăng ký, thông báo,…).
- Dự thảo luật: gồm chính sách tạo lập môi trường mới hay chính sách
xuất phát từ thái độ thụ động tạo ra trật tự để đối phó với môi trường mới.
5.2. Phân loại theo đối tượng mục đích của chính sách
- Các vấn đề cơ cấu công nghiệp : gồm chính sách có đối tượng là toàn bộ
cơ cấu công nghiệp với chính sách có đối tượng là từng ngành (hay từng doanh
nghiệp ).
12
Chính sách điều chỉnh ngược với các ngành suy thoái hay chính sách chấn
hưng cho các ngành mới (tỷ trọng công nghệ cao trong cơ cấu công nghiệp ).
- Vấn đề thị trường.
+ Phân biệt chính sách bổ sung khắc phục các thất vại của thị trường với
chính sách bổ ưung hoàn thiện hạn chế của thị trường.
+ Phân biệt chính sách điều chỉnh trật tự thị trường bị lệch lạc (tổ chức
ngành sản xuất ) với chính sách điều chỉnh yếu tố bên ngoài bị lệch lạc(môi
trường tự nhiên, quyền lợi người tiêu dùng).
+ Phân biệt chính sách ngay trong bản thân trật tự sẵn có với chính sách
để tiến hành trật tự mới.
-Vấn đề phát triển công nghiệp có tính chiến lược .
Cần phân biệt rõ chính sách phát triển ngành có tính chiến lược (ngành
xuất khẩu, điện tử …) với chính sách phát triển các ngành sản xuất cơ sở hạ tầng
(sản xuất nguyên vật liệu chủ yếu, linh kiện, phụ kiện, …).
5.3. Phân biệt theo thủ pháp chính sách (theo cách thức để thực hiện
mục tiêu)
- Vấn đề hoàn thiện cơ sở hạ tầng.
+ Phân biệt chính sách hoàn thiện cơ sở hạ tầng phần cứng và chính sách
hoàn thiện cơ sở hạ tầng phần mềm (môi trưowngf công nghiệp).
+ Phân biệt chính sách phát triển cơ sở hạ tầng (như tài chính, tiền tệ,
thuế…) với chính sách phát triển kỹ thuật cho phần cơ sở hạ tầng (như nghiên
cứu , quy cách hoá, chế độ quyền sở hữu công nghiệp) và cả chính sách cơ cấu
công nghiệp cơ sở hạ tầng (như cơ cấu sản xuất phụ tùng của các doanh nghiệp
trong ngành cơ khí).
- Về kế hoạch triển vọng.
+ Phân biệt kế hoạch mang tính chất giáo dục, nhận thức, hay mục tiêu
chính sách, hay kế hoạch điều chỉnh định hướng.
+ Phân biệt kế hoạch được xây dựng bằng ý trí của Chính phủ hoặc được
xây dựng trên cơ sở của sự thoả thuận với người có lieen quan.
13
- Về phương pháp luận.
+ Phân biệt chính sách bất biến, chính sách tạm thời hay chính sách khẩn
cấp.
+ Phân biệt chính sách có tính uy quyền (chỉ huy, cơ chế,…) với các
chính sách hỗ trợ (tài trợ, cho vay vốn , chế độ thuế…) hoặc chính sách có tính
hoàn thiện môi trường (như cung cấp thông tin, đưa ra quy cách, phát triển kỹ
thuật,…) hay chính sách mang tính hướng đạo.
Tốm lại, có thể tổng kết chính sách phát triển công nghiệp như sau:
Chính sách nhằm ảnh hưởng tới cơ cấu của một nước. Tức là một chính
sách can thiệp vào hoạt động giao dịch với nước ngoài như : ngoại thương, đầu
tư trực tiếp, chính sách hỗ trợ phát triển và bảo hộ (trợ cấp thuế) chính sách điều
tiết và sử dụng nguồn lực.
Các chính sách sửa chữa các thất bại của thị trường do tính không hoàn
thiện của hoạt động kỹ thuật và thông tin. Tức là một chính sách khắc phục các
dạng thất bại của thị trường bằng cách cung cấp thông tin chính xác, sử dụng các
công cụ chính qua trợ cấp, thuế và chỉ đạo việc phân phối nguồn lực theo hướng
mông muốn.
Chính sách can thiệp về mặt hành chính vào tổ chức sản xuất theo từng
ngành nhằm nâng cao phúc lợi kinh tế. Cụ thẻ là chính sách nhằm trực tiếp can
thiệp vào cơ cấu cạnh tranh và phân bổ nguồn lực trong các nhành sản xuất
thông qua hình thức liên minh giảm giá, liên minh đầu tư thiết bị,…
Chính sách được hoạch định theo yêu cầu chính trị là củ yếu chứ không
phải mang tính kinh tế. Tức là chính sách bao gồm quy chế tự chủ xuất khẩu hay
hiệp định đa phương nhằm xử lý mâu thuẫn ngoại thương.
6. Khái quát về chính sách công nghiệp của Việt Nam
Như đã phân téch trong các phần ở trên, chính sách công nghiệp là một
khái niệm rộng, phức tạp và vòn tương đối mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu
trên thế giới, nhất là trên phương diện lý thuyết.
Trong bối cảnh như vậy:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét