Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Thương mại điện tử???

Kho¸ luËn tèt nghiÖp
khác (nay xuất hiện cả hình thức tự động chuyển tiền mặt thông qua các “túi tiền
điện tử”: electronic purse). Thanh toán điện tử sử dụng rộng rãi các máy rút tiền tự
động (ATM: Automatic Teller Machine), thẻ tín dụng (credit card) các loại, thẻ
mua hàng (purchasing card), thẻ thông minh (smart card: thẻ từ có gắn vi chip điện
tử mà thực chất là một máy tính điện tử rất nhỏ) v.v.
- Mạng nội bộ và liên mạng nội bộ:
Theo nghĩa rộng, mạng nội bộ là toàn bộ mạng thông tin của một xí nghiệp và
các liên lạc đủ kiểu giữa các máy tính điện tử trong cơ quan xí nghiệp đó, cộng với
liên lạc di động. Theo nghĩa hẹp, đó là mạng kết nối nhiều máy tính ở gần nhau
(gọi là mạng cục bộ: Local Area Network - LAN); hoặc nối kết các máy tính trong
một khu vực rộng lớn hơn (gọi là mạng miền rộng: Wide Area Network - WAN).
Hai hay nhiều mạng nội bộ liên kết với nhau sẽ tạo thành liên mạng nội bộ (cũng có
thể gọi là “mạng ngoại bộ” - extranet) và tạo ra một cộng đồng điện tử liên xí
nghiệp (inter-enterprise electronic community).
- Internet và Web:
Năm 1969, Cơ quan các dự án nghiên cứu cao cấp thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ
bắt đầu nghiên cứu các tiêu chuẩn và công nghệ - thiết bị truyền gửi dữ liệu cho
phép lập một mạng toàn quốc, nối ghép các mạng cục bộ và miền rộng sử dụng các
chuẩn công nghệ khác nhau thành một mạng chung để trao đổi thông tin nhanh
chóng và kịp thời. Năm 1983 dự án này thành công, một mạng toàn cục ra đời, sau
đó tách thành hai mạng: MILnet chuyên dùng cho quân đội và ARPAnet dùng cho
nghiên cứu và giáo dục. Các mạng máy tính đều có thể kết nối với ARPAnet, vì thế
nó được đặt tên là Internet (tức “liên mạng”). Năm 1994 toàn thế giới có khoảng 3
triệu người kết nối Internet; năm 1996 con số đã lên trên 67 triệu người, năm 1997
đã có 110 quốc gia kết nối vào mạng Internet; năm 1998, toàn thế giới có khoảng
100 triệu người sử dung Internet/Web.
-5-
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Từ năm 1995, Internet được chính thức công nhận là mạng toàn cầu, nó là
“mạng của các mạng” (the network of the networks) một máy tính có địa chỉ
Internet thoạt tiên được nối vào mạng LAN, rồi tới mạng WAN, rồi vào Internet.
Nhờ đó các mạng và các máy tính có địa chỉ Internet có thể giao tiếp với nhau,
truyền gửi cho nhau các thông điệp (gọi là thư điện tử: electronic mail, tức e-mail),
và các dữ liệu thuộc hàng trăm ứng dụng khác nhau.
Việc kết nối các mạng như trên được thực hiện trên cơ sở các tiêu chuẩn
truyền dẫn dữ liệu trong môi trường Internet (Internet Standards), chủ yếu là giao
thức chuẩn TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol) do Bộ Quốc
phòng Mỹ (DOD: Department Of Defense) khởi thảo và phát triển (như đã nói ở
trên). Trong đó TCP chịu trách nhiệm đảm bảo việc truyền gửi chính xác dữ liệu từ
người sử dụng tới máy chủ (server) ở nút mạng, còn IP có trách nhiệm chuyển các
gói dữ liệu (packet of data) từ nút mạng này sang nút mạng khác theo địa chỉ
Internet.
Khi nói Internet, ta nói tới một phương tiện liên kết các mạng với nhau trên
phạm vi toàn cầu trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế TCP/IP. Công nghệ Internet
thực sự trở thành công cụ đắc lực khi áp dụng thêm giao thức chuẩn quốc tế HTML
(HyperText Transfer Protocol: Giao thức chuẩn truyền siêu văn bản) với các trang
siêu văn bản viết bằng ngôn ngữ HTML (HyberText Markup Language), tạo ra
nhiều dịch vụ khác nhau, mà tới nay nổi bật nhất là dịch vụ Word Wide Web ra đời
năm 1991 (thường gọi tắt là Web, và viết tắt là WWW hoặc W3) là công nghệ sử
dụng các siêu liên kết văn bản (hyberlink, hybertext) tạo ra các văn bản có chứa
nhiều tham chiếu tới các văn bản khác, cho phép người sử dụng tự động chuyển từ
một cơ sở dữ liệu này sang một cơ sở dữ liệu kia, bằng cách đó mà truy cập các
thông tin thuộc các chủ đề khác nhau và dưới các hình thái khác nhau (văn bản, đồ
hoạ, âm thanh), vừa phong phú về nội dung, vừa hấp dẫn về hình thức. Bằng dịch
vụ Web, người sử dụng đọc được các thông tin viết bằng ngôn ngữ HTML, và
-6-
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
truyền từ nơi này sang nơi khác trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế FTP (File
Transfer Protocol: giao thức chuẩn truyền tệp), POP (Post office Protocol: giao
thức chuẩn truyền thông điệp đơn giản), NNTP (Net News Transfer Protocol: giao
thức chuẩn truyền tin qua mạng; cho phép những người sử dụng mạng thảo luận
xung quanh một hoặc nhiều vấn đề cùng quan tâm).
Web giống như một thư viện khổng lồ có nhiều triệu cuốn sách, hay như một
cuốn từ điển khổng lồ có nhiều triệu trang, mỗi trang (gọi là “trang web”- Web
page) chứa một gói thông tin có nội dung nhất định: một trang quảng cáo, một bài
viết v.v. mà số trang không ngừng tăng lên, và không theo một trật tự nào cả. Tính
phức tạp và hỗn độn đó của Web dẫn tới việc nghiên cứu và cho ra đời các phần
mềm công cụ tìm kiếm (search engine) chỉ dẫn người sử dụng tìm ra địa chỉ của
thông tin theo chủ đề trong “biển thông tin” mênh mông của Web. Các “trình duyệt
Web” được dùng phổ biến nhất hiện nay là Netscape Navigator (chiếm trên 50% thị
trường), Microsoft Internet Explorer (chiếm gần 23% thị trường), và American
Online (AOL: chiếm trên 16% thị trường).
Ngày nay, do công nghệ Internet được áp dụng rộng rãi vào việc xây dựng các
mạng nội bộ và mạng ngoại bộ, nên ngày nay người ta càng hiểu mạng nội bộ và
mạng ngoại bộ là các “phân mạng” (subnet) của Internet. Và sau này, khi đã chấp
nhận Internet như một công cụ giao tiếp chung, ta sẽ hiểu Internet như bao gồm cả
các phân mạng ấy. Internet ra đời và phát triển đã tạo đà thúc đẩy mạnh mẽ quá
trình toàn cầu hoá.
Internet với tới mọi nơi trên thế giới, nên nó mang ý nghĩa toàn cầu rõ rệt. Các
xu hướng hội tụ (convergence), tương tác (interactivity), và di động (mobility)
được thúc đẩy mạnh mẽ sẽ làm thay đổi một cách căn bản tính chất và phẩm chất
hoạt động của từng người, quan hệ người-với-người, người-với-vật thể trong những
năm sắp tới. Khái niệm nền “kinh tế trực tuyến” (Online Economy, cũng gọi nền
“kinh tế tại tuyến”) trong từng quốc gia, từng khu vực, và toàn thế giới ngày nay
-7-
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
gắn liền với Internet. Gọi là “trực tuyến” (hay “tại tuyến”) vì tất cả các tế bào xã
hội, con người cũng như phương tiện sản xuất và sản phẩm hàng hoá đều có thể
liên lạc trực tiếp với nhau, và liên tục thông qua Internet với thời gian liên lạc gần
như bằng không, không cần đến giấy tờ, càng không cần đối mặt trực thể. Mọi
thông tin giao tiếp đều thông qua Internet/Web, và các phương tiện truyền thông
hiện đại khác. Vì thế, “kinh tế trực tuyến” còn có các tên gọi khác là “kinh tế ảo”
(virtual economy), “kinh tế điều khiển” (cybereconomy).
Internet tạo ra bước chuyển mới của ngành truyền thông, chuyển từ thế giới
“một mạng, một dịch vụ” sang thế giới “một mạng, nhiều dịch vụ” và đã trở thành
công cụ quan trọng nhất của thương mại điện tử. Dù rằng không dùng Internet/Web
vẫn có thể làm thương mại điện tử (qua các phương tiện điện tử khác, qua các
mạng nội bộ và liên mạng nội bộ). Song ngày nay, nói tới thương mại điện tử
thường có nghĩa là nói tới Internet và Web, vì thương mại đã và đang trong quá
trình toàn cầu hoá và hiệu quả hoá, và các xu hướng ấy đều đòi hỏi phải sử dụng
triệt để Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hoá cao độ và có hiệu
quả sử dụng cao.
4. Các hình thức hoạt động thương mại điện tử.
- Thư tín điện tử:
Các đối tác (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) sử dụng hòm
thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng, gọi là thư
tín điện tử (electronic mail, gọi tắt là e-mail). Đây là một thứ thông tin dưới dạng
“phi cấu trúc” (unstructured form), nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu
trúc đã thoả thuận (là điều khác với “trao đổi dữ liệu điện tử” sẽ nói dưới đây).
- Thanh toán điện tử:
Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua
thông điệp điện tử (electronic message) thay cho việc trao tay tiền mặt, việc trả
-8-
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ
mua hàng, thẻ tín dụng v.v. đã quen thuộc lâu nay thực chất đều là các dạng thanh
toán điện tử.
+ Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange,
gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao
dịch với nhau bằng điện tử.
+ Tiền mặt Internet (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát
hành (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do sang các
đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong phạm vi cả một nước cũng như
giữa các quốc gia. Tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hoá, vì thế tiền mặt
này còn có tên gọi là “tiền mặt số hoá” (digital cash). Công nghệ đặc thù chuyên
phục vụ mục đích này có tên gọi là “mã hoá khoá công khai/bí mật” (Public/Private
Key Cryptography). Tiền mặt Internet được người mua hàng mua bằng đồng nội tệ,
rồi dùng Internet để chuyển cho người bán hàng.
+ Túi tiền điện tử (electronic purse; còn gọi tắt là “ví điện tử”) nói đơn giản
là nơi để tiền mặt Internet mà chủ yếu là thẻ khôn minh (smart card, còn có tên gọi
là thẻ giữ tiền: stored value card). Tiền được trả cho bất cứ ai đọc được thẻ đó. Kỹ
thuật của túi tiền điện tử về cơ bản là kỹ thuật “mã hoá khoá công khai/bí mật”
tương tự như kỹ thuật áp dụng cho “tiền mặt Internet”.
+ Thẻ khôn minh (smart card, còn gọi là “thẻ thông minh”) nhìn bề ngoài
tương tự như thẻ tín dụng, nhưng ở mặt sau của thẻ, thay vì cho dải từ, lại là một
chip máy tính điện tử có một bộ nhớ nhỏ để lưu trữ tiền số hoá. Tiền ấy chỉ được
“chi trả” khi người sử dụng và thông điệp (ví dụ như xác nhận thanh toán hoá đơn)
được xác thực là “đúng”.
+ Giao dịch ngân hàng số hoá (digital banking), và giao dịch chứng khoán số
hoá (digital securities trading). Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một
đại hệ thống, gồm nhiều tiểu hệ thống: (1) thanh toán giữa ngân hàng với khách
-9-
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
hàng (qua điện thoại, các điểm bán lẻ, các ki-ốt, giao dịch cá nhân tại nhà, giao dịch
tại trụ sở khách hàng, giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, vấn
tin ), (2) thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu
thị ), (3) thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng, (4) thanh toán giữa hệ
thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác.
- Trao đổi dữ liệu điện tử
Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, gọi tắt là EDI) là việc
trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (structured form) từ máy tính điện tử
này sang máy tính điện tử khác, giữa các công ty hay tổ chức đã thoả thuận buôn
bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của
con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thoả thuận từ trước
khuôn dạng cấu trúc của các thông tin).
EDI này càng được sử dụng rộng rãi trên bình diện toàn cầu, chủ yếu phục vụ
cho mua và phân phối hàng (gửi đơn hàng, các xác nhận, các tài liệu, hoá đơn v.v.),
nhưng cũng dùng cho cả các mục đích khác nữa như thanh toán tiền khám bệnh,
trao đổi các kết quả xét nghiệm v.v. EDI chủ yếu được thực hiện thông qua các
mạng ngoại bộ (extranet) và thường được gọi là “thương mại võng mạng” (net-
commerce). Cũng có cả hình thức “EDI hỗn hợp” (Hybrid EDI) dùng cho trường
hợp chỉ có một bên đối tác dùng EDI, còn bên kia vẫn dùng các phương thức thông
thường (như fax, thư tín qua bưu điện).
EDI được áp dụng từ trước khi có Internet. Khi ấy, người ta dùng “mạng giá
trị gia tăng” (Value Added Network: VAN) để liên kết các đối tác EDI với nhau;
cốt lõi của VAN là một hệ thống thư tín điện tử cho phép các máy tính điện tử liên
lạc được với nhau, và hoạt động như một phương tiện lưu trữ và tìm gọi. Khi nối
vào VAN, một doanh nghiệp có thể liên lạc được với nhiều nghìn máy tính điện tử
nằm ở nhiều trăm thành phố trên khắp thế giới. Nay EDI chủ yếu được thực hiện
thông qua Internet.
-10-
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Thương mại điện tử qua biên giới (Cross-border electronic commerce) về bản
chất chính là trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các doanh nghiệp mà được thực
hiện giữa các đối tác ở các quốc gia khác nhau, với các nội dung:
• giao dịch kết nối
• đặt hàng
• giao dịch gửi hàng (shipping)
• thanh toán
Trên bình diện này, nhiều khía cạnh còn phải tiếp tục xử lý, đặc biệt là buôn
bán giữa các nước có chính sách, và luật pháp thương mại khác nhau về căn bản,
đòi hỏi phải có từ trước một dàn xếp pháp lý trên nền tảng thống nhất quan điểm về
tự do hoá thương mại và tự do hoá việc sử dụng Internet. Chỉ như vậy mới đảm bảo
được tính khả thi, tính an toàn, và tính có hiệu quả của trao đổi dữ liệu điện tử
(EDI).
- Giao gửi số hoá của các dung liệu: (Dung liệu (content) là các hàng hóa mà
người ta cần đến nội dung của nó (chính nội dung là hàng hoá). Các ý kiến tư vấn,
vé bán máy bay, vé xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểm v.v. nay cũng được đưa
vào danh mục các dung liệu).
Trước đây dung liệu cũng được trao đổi dưới dạng hiện vật (physical form)
bằng cách đưa vào đĩa, vào băng, in thành sách báo, thành văn bản, đóng gói bao bì
chuyển đến tay người sử dụng, hoặc đến điểm phân phối (như cửa hàng, quầy báo
v.v.) để người sử dụng đến mua và nhận trực tiếp. Ngày nay, dung liệu được số hoá
và truyền gửi theo mạng, gọi là “giao gửi số hoá” (digital delivery). Ở Mỹ hiện nay
90% dân số dùng Web/ Internet để thu nhận tin tức và thông tin, khoảng 80,5% sử
dụng Web/ Internet làm công cụ phục vụ cho nghiên cứu.
Các tờ báo, các tư liệu công ty, cataloge sản phẩm lần lượt được đưa lên Web
(gọi chung là “xuất bản điện tử”). Các chương trình phát thanh, truyền hình, giáo
-11-
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
dục, ca nhạc, kể truyện v.v được số hoá, truyền qua Internet để người tiêu thụ sử
dụng thông qua màn hình và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử (hoặc của “sách
điện tử” chuyên dụng). Các chương trình phần mềm được chuyển qua mạng, rồi
được người sử dụng tải xuống (download). Đặt chỗ trên máy bay, rạp hát qua
Internet (gọi là vé điện tử: electronic ticket) ở Mỹ đã chiếm tỷ trọng tới 70%.
Người tiêu thụ dùng Internet để liên lạc trực tuyến với các cơ quan tín dụng ngân
hàng để biết các thông tin về bảo hiểm và số liệu phút chót về tài chính của mình
(tiền tiết kiệm, tiền gửi, tiền sắp phải trả v.v.).
Trên giác độ kinh tế thương mại, các loại thông tin kinh tế và kinh doanh trên
Internet đều có ở mức phong phú, và một nhiệm vụ quan trọng của công tác thông
tin ngày nay là khai thác Web và phân tích tổng hợp.
- Bán lẻ hàng hoá hữu hình:
Cho tới năm 1994-1995, hình thức bán hàng này còn chưa phát triển, ngay ở
Mỹ cũng chỉ có vài cửa hàng có mặt trên Internet, chủ yếu là các cửa hàng bán đồ
chơi, thiết bị tin học, sách, rượu. Nay, danh sách các hàng hoá bán lẻ qua mạng đã
mở rộng ra, từ hoa tới quần áo, ôtô và xuất hiện hẳn một loại hoạt động gọi là “mua
hàng điện tử” (electronic shopping), hay “mua hàng trên mạng”. Ở một số nước
Internet đã bắt đầu trở thành công cụ để cạnh tranh bán lẻ hàng hoá hữu hình
(Retail of tangible goods). Tận dụng tính đa năng phương tiện (multimedia) của
môi trường Web và Java, người bán hàng xây dựng trên mạng các “cửa hàng ảo”
(virtual shop) để thực hiện việc bán hàng. Người sử dụng Internet/Web tìm trang
Web của cửa hàng, xem hàng hoá hiển thị trên màn hình, xác nhận mua hàng, và
trả tiền bằng thanh toán điện tử. Lúc đầu, việc mua bán như vậy còn ở dạng sơ
khai: người mua chọn hàng rồi đặt hàng thông qua mẫu đơn (form) cũng đặt ngay
trên Web. Nhưng có trường hợp muốn lựa chọn giữa nhiều hàng hoá ở các trang
Web khác nhau (của cùng một cửa hàng) thì hàng hoá miêu tả nằm ở một trang,
đơn đặt hàng lại nằm ở trang khác, gây ra nhiều phiền toái. Để khắc phục, các hãng
-12-
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
đưa ra loại phần mềm mới gọi là “xe mua hàng” (shopping cart, shopping trolley),
hoặc “giỏ mua hàng” (shopping basket, shopping bag) mà trên màn hình cũng có
dạng tương tự như giỏ mua hàng hay xe mua hàng thật mà người mua thường dùng
khi vào cửa hàng, siêu thị. Xe hoặc giỏ mua hàng này đi theo người mua suốt quá
trình chuyển từ trang Web này sang trang Web khác để chọn hàng, khi chọn được
món hàng vừa ý, người mua ấn phím “hãy bỏ vào xe/giỏ” (Put into shopping
cart/bag”, các xe/giỏ này có nhiệm vụ tự động tính tiền (kể cả thuế, cước vận
chuyển) để thanh toán với khách mua. Nay, các hãng bán hàng đã chuyển sang hệ
thống phần mềm mới hơn nữa (gọi là “thương điểm điện tử”: store-front, hay:
store-building) có tính năng cao hơn, cho phép người mua giao tiếp thoải mái hơn
nữa với cửa hàng và hàng hoá v.v. Vì là hàng hoá hữu hình, nên tất yếu sau đó các
cửa hàng phải dùng tới các phương tiện gửi hàng truyền thống để đưa hàng tới tay
khách. Điều quan trọng nhất là: khách hàng có thể mua hàng tại nhà (home
shopping), mà không phải đích thân đi tới cửa hàng.
5. Giao dịch thương mại điện tử.
Giao dịch thương mại điện tử (electronic commerce transaction), với chữ
“thương mại” được hiểu với đầy đủ các nội dung như đã ghi trong Đạo luật mẫu về
thương mại điện tử của Liên hiệp quốc, bao gồm bốn kiểu:
- Người với người: qua điện thoại, máy Fax, và thư điện tử (electronic mail)
- Người với máy tính điện tử: trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử
(electronic form), qua “võng thị toàn cầu” (World Wide Web).
- Máy tính điện tử với Máy tính điện tử: qua trao đổi dữ liệu điện tử (EDI:
electronic data interchange), thẻ khôn minh (smart card), các dữ liệu mã hoá bằng
vạch (barcode data, cũng gọi là dữ liệu mã vạch)
- Máy tính điện tử với người: qua thư tín do máy tính tự động sản xuất ra,
máy fax, và thư điện tử.
-13-
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
6. Các bên tham gia thương mại điện tử.
Giao dịch thương mại điện tử (electronic commerce transaction) diễn ra bên
trong và giữa ba nhóm tham gia chủ yếu: (1) doanh nghiệp; (2) chính phủ; và (3)
người tiêu thụ. Các giao dịch này được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau, bao
gồm:
- Giữa các doanh nghiệp với người tiêu thụ: mục đích cuối cùng là dẫn tới việc
người tiêu thụ có thể mua hàng tại nhà mà không cần tới cửa hàng (home
shopping).
- Giữa các doanh nghiệp với nhau: trao đổi dữ liệu, mua bán, thanh toán hàng
hoá và dịch vụ, mục đích cuối cùng là đạt được hiệu quả cao trong sản xuất và kinh
doanh.
- Giữa các doanh nghiệp với các cơ quan chính phủ: nhằm vào các mục đích: (1)
mua sắm chính phủ theo kiểu trực tuyến (online goverment procurement), (2) các
mục đích quản lý (thuế, hải quan v.v.), (3) thông tin.
-14-
NGƯỜI TIÊU DÙNG
CHÍNH PHỦ
CHÍNH PHỦ
DOANH NGHIỆP
DOANH NGHIỆP
Điện thoại, các biểu mẫu điện
tử, thư điện tử, FAX
Điện thoại, thư điện tử
FAX, các biểu mẫu điện tử
Điện thoại, FAX,
thư điện tử
Điện thoại, các
biểu mẫu điện
tử, thư điện tử
EDI, các biểu mẫu
điện tử, thẻ khôn
minh, mã vạch
Điện thoại, các biểu mẫu điện
tử, thư điện tử, FAX

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét