Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Biện pháp quản lí việc đổi mới phương pháp dạy học của hiệu trưởng ở trường trung cấp kinh tế- công nghệ cai lậy

Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
Mặc dù chưa có ý kiến thống nhất về định nghĩa PPDH, các tác giả
đều thừa nhận rằng, PPDH có những dấu hiệu đặc trung sau đây:
+ Nó phản ảnh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh
nhằm đạt được mục đích đặt ra.
+ Phản ảnh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định.
+ Phản ảnh cách thức thông tin giữa thầy và trò.
+ Phản ảnh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức: kích thích và
xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết
quả hoạt động.
Nếu để cho đơn giản và dễ hiểu, khái niệm PPDH có thể được định
nghĩa là: “ PPDH học là tổ hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và
học sinh trong sự phối hợp, thống nhất dưới vai trò chủ đạo của giáo viên
nhằm thực hiện được những nhiệm vụ dạy học”.
- Quan niệm về đổi mới PPDH: Đổi mới không phải là thay đổi toàn
bộ PPDH đã có, mà phải trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của
PPDH hiện nay, từng bước áp dụng những PPDH tiên tiến và phương tiện
dạy học( PTDH) hiện đại nhằm thay đổi cách thức dạy của thầy, thay đổi
phương pháp học tập của học sinh, chuyển từ học tập thụ động sang học tập
tích cực, chủ động, sáng tạo, tùng bước chuyển dần PPDH theo hướng biến
quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biến quá trình dạy học thành
quá trình tự học.
1.3. Hệ thống các PPDH truyền thống
1.3.1. Nhóm các phương pháp sử dụng ngôn ngữ:
Là những phương pháp sử dụng lời nói và chữ viết để truyền đạt, lĩnh
hội thông tin. Lời nói và chữ viết với tư cách là nguồn tri thức và là phương
tiện dạy học. Bao gồm các phương pháp thuyết trình, vấn đáp, sử dụng tài
liệu.
1.3.1.1. Phương pháp thuyết trình (PPTT).
Là phương pháp giáo viên dùng lời để trình bài, giải thích, thông báo
thông tin của bài học. Đây là phương pháp hay dùng khi giảng dạy một
chương trình lý thuyết cho nhiều học sinh. Là phương pháp đã được sử dụng
lâu đời nhất trong lịch sử dạy học.
Thuyết trình là phương pháp không đòi hỏi nhiều về phương tiện kĩ
thuật, giáo viên lựa chọn nội dung lý thuyết và thực tế, phân tích và soạn
chúng thành giáo án. Bài giảng được trình bài theo lối thông báo, giải thích,
bằng cách quy nạp hay diễn dịch. Học sinh lắng nghe, nghi chép, suy nghĩ,
ghi nhớ và tái hiện.
PPTT có những đặc điểm như:
+ Được dùng để truyền đạt, thông báo, trình bài cho học sinh những
tri thức khoa học mới một cách tập trung và nhanh. Những tri thức này được
- 5 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
sắp xếp một cách có hệ thống theo một trình tự logic nhất định, nhờ đó mà
phát triển cho học sinh trí nhớ và cách ghi nhớ, kĩ năng nghe và hiểu ý nghĩ
của người khác.
+ Việc truyền đạt tri thức được tiến hành thông qua lời nói sinh động
của giáo viên để tường thuật, mô tả, nêu đặc điểm hay giải thích, nhận xét,
đánh giá, bình luận hoặc biện luận một câu chuyện, một hiện tượng hay một
vấn đề nào đó. Các dạng thuyết trình này có thể được dùng phối hợp với
nhau.
Các PPTT bao gồm: giảng thuật, giảng giải, giảng diễn.
- Giảng thuật: Là phương pháp giáo viên dùng lời nói để mô tả, tường
thuật, kể lại, nêu đặc điểm của sự vật, hiện tượng, trong đó chứa đựng nội
dung tri thức. Học sinh nghe, ghi chép, suy nghĩ để lĩnh hội tri thức. Phương
pháp này hay sử dung trong những giờ học lý thuyết, nhất là các môn khoa
học xã hội. Các môn khoa học tự nhiên cũng có thể sử dụng khi cần thông
báo nội dung lý thuyết, những quan điểm, học thuyết, tiểu sử các nhà khoa
học. Có thể sử dụng phương pháp ở tất cả các cấp học.
- Giảng giải: Là phương pháp giáo viên dùng các luận cứ, dẫn chứng
sự kiện, số liệu để giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, phân loại làm
sáng tỏ các vấn đề, các quy tắc, định lý, định luật, công thức, khái niệm,
thuật ngữ…Giảng giải chứa đựng cả cách thức suy luận, phán đoán cho nên
có thể phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh.
- Giảng diễn: Là phương pháp giáo viên dùng lời nói để trình bài một
vấn đề có tính trừu tượng cao, có hệ thống, trọn vẹn, hoàn chỉnh của nội
dung dạy học tương đối phức tạp và khái quát. Phương pháp này có khi phải
sử dụng một khoảng thời gian tương đối dài. Cho nên đòi hỏi người học phải
có sự tập trung chú ý, có khả năng tư duy khái quát, trừu tượng. Vì vây,
không nên sử dụng nhiều ở các lớp đầu cấp và nên kết hợp với các phương
pháp khác để có hiệu quả hơn.
Muốn sử dụng PPTT có hiệu quả cao cần chú ý những mặt ưu điểm và
hạn chế của nó.
+ Ưu điểm cơ bản: Giúp cho học sinh nắm vững tri thức một cách có
hệ thống; phát triển được tư duy trừu tượng cho học sinh; giáo viên có thể
chủ động và tiết kiệm về thời gian; giảng được cho nhiều học sinh; có thể tác
động vào tư tưởng, tình cảm của học sinh; nều sử dụng khéo léo kết hợp với
nêu vấn đề thì có thể phát huy được tính tích cực, độc lập suy nghĩ của học
sinh; học sinh có thể học tập được cách diễn đạt, trình bài của giáo viên.
+ Nhược điểm cơ bản: Khó thu được thông tin ngược, khó kiểm soát
được trình độ nhận thức và kết quả lĩnh hội của học sinh, do đó không thể
đều chỉnh kịp thời. Nếu thuyết trình chỉ dừng lại ở việc thông báo tri thức thì
không phát huy được tính tích cực, tự lực tìm tòi của học sinh, dễ gây ra tâm
- 6 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
lý thụ động, đợi sẵn giáo viên cung cấp thông tin. Sự phân hoá – cá thể hoá
trong dạy học yếu do giáo viên khó có thể chú ý đầy đủ đến từng học sinh.
Nếu sử dụng không khéo thì giờ học sẽ nặng nề, nhàm chán, không sôi nổi,
dễ gây tâm lý mệt mỏi cho học sinh.
Để nâng cao hiệu quả của PPTT cần chú ý những vấn đề cơ bản sau
đây:
+ Nội dung thuyết trình cần được chọn lọc, tránh lan man, tuỳ tiện,
khi trình bài nên giới thiệu trước vấn đề cần giải quyết, có trọng tâm, ví dụ
minh hoạ, xác định nội dung theo dàn ý, tốc độ vừa phải.
+ Ngôn ngữ rõ ràng, chính xác, dễ hiểu, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi
cuốn học sinh.
+ Nên hướng dẫn trước cho học sinh ghi chép, kết hợp với nghe và
suy nghĩ.
+ Kết hợp với các phương pháp khác như: sử dụng các phương tiện
trực quan, vấn đáp, thảo luận và thực hành, vận dụng lý thuyết để giải các
bài tập, hoặc là chuyển sang thuyết trình nêu vấn đề.
1.3.1.2. Phương pháp vấn đáp (PPVĐ)
Vấn đáp là phương pháp hỏi – đáp trong dạy học (còn gọi là phương
pháp đàm thoại, đối thoại) để có thể giúp học sinh lĩnh hội kinh nghiệm.
Thường có các dạng đàm thoại như:
- Vấn đáp mở đầu được sử dụng trước khi bắt đầu học một phần
(chương, mục, chủ đề mới). Mục đích của đàm thoại này là nhằm tìm hiểu
hoặc tái hiện lại những biểu tượng, kinh nghiệm mà học sinh đã có về nội
dung bài học, làm cho vốn kiến thức đã có trở thành chổ dựa cho việc tiếp
thu kiến thức mới, kích thích hứng thú học tập, phát triển nhu cầu hoạt động
nhận thức.
- Vấn đáp thông báo tài liệu mới được tiến hành trong quá trình truyền
thụ nội dung học tập, phát triển tư duy độc lập, tìm tòi của học sinh mang
tính chất nghiên cứu. Để từ đó học sinh biết tự lực suy nghĩ để thu nhận
thông tin mới.
- Vấn đáp ôn tập được tiến hành sau khi học xong một chương, một
chủ đề, dùng để củng cố, khắc sâu và hoàn thiện, khái quát hoá và tổng kết
nội dung đã học, giúp giáo viên kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh.
Trong quá trình sử dụng PPVĐ để thực hiện các mục đích trên, giáo
viên có thể tiến hành vấn đáp gợi mở bằng hệ thống câu hỏi có quan hệ với
nhau (câu hỏi chính được phân thành các câu hỏi phụ) để gợi mở cho học
sinh phát hiện được vấn đề, tự học có thể rút ra được những kết luận cần
thiết.
- 7 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
- Vấn đáp kiểm tra được sử dụng để kiểm tra hiểu biết của người học,
những thông tin thu được từ kiểm tra có thể đánh giá trình độ của học sinh
để đưa ra những quyết dịnh nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
PPVĐ cũng có những ưu điểm và hạn chế của nó:
+ Ưu điểm: Có thể củng cố và phát triển khả năng giao tiếp (nghe,
nhận xét ý kiến của người khác và trình bài ý kiến của mình); hình thành ở
học sinh tính độc lập, óc phê phán, kĩ năng lựa chọn ý kiến; Giúp học sinh
nhận thấy rõ hơn kết quả học tập, sự tiến bộ của bản thân; do đó tạo điều
kiện để hoàn thiện quá trình dạy học; tạo điều kiện để tăng cường giao tiếp
giữa giáo viên và học sinh, nhờ đó giáo viên nhận thấy rõ những vấn đề cần
bổ khuyết trong việc giảng dạy của mình và trong việc học của học sinh;
kích thích tính tích cực, độc lập tư duy; bồi dưỡng cho học sinh năng lực
diễn đạt bằng lời nói, hứng thú học tập qua việc trả lời câu hỏi; giúp giáo
viên thu được tín hiệu ngược để điều chỉnh hoạt động dạy học, tạo không khí
làm việc sôi nổi, sinh động trong giờ học.
+ Hạn chế: Giáo viên khó chủ động về thời gian, dễ “cháy giáo án”;
khó chú ý đến tính vừa sức chung; nếu sử dụng không khéo có thể làm cho
học sinh lĩnh hội tri thức thiếu tính hệ thống, logic, mức độ khái quát hoá
thấp, sự liên kết giữa các tri thức không rõ ràng…
Để sử dụng PPVĐ có hiệu quả cao, trong quá trình dạy học cần chú ý
những vấn đề sau:
+ Việc đặt câu hỏi trong đàm thoại có ý nghĩa rất quan trọng, vì vây
phải xây dựng hệ thống câu hỏi chính có những câu hỏi phụ để gợi ý khi cần
thiết; câu hỏi phải có nội dung rõ ràng, dễ hiểu, chính xác, phù hợp với trình
độ học sinh.
+ Khi đặt câu hỏi cho toàn lớp, cần chú ý thu hút sự tập trung của từng
học sinh và câu hỏi phải vừa sức, sau khi học sinh trả lời cần có sự nhận xét
của giáo viên hoặc của học sinh khác.
+ Có thể phối hợp với các PPDH khác như thuyết trình, trực quan, đọc
sách…để phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế của PPVĐ.
1.3.1.3. Phương pháp dùng sách giáo khoa và các tài liệu học tập:
Sách phản ánh những kinh nghiệm đã được hệ thống hoá và khái quát
hoá mà loài người đã tích luỹ được qua bao đời nay, nhất là phản ánh những
thành tựu khoa học, kĩ thuật văn hoá. Đó là nguồn tri thức phong phú, đa
dạng. Trong nhà trường phổ thông học sinh cần phải biết sử dụng sách giáo
khoa và học tập với các tài liệu khác.
Sách giáo khoa là một phương tiện để học sinh chuẩn bị bài, để làm
các bài tập thực hành, nó góp phần đắc lực cho việc tiếp thu kiến thức và
hình thành kĩ năng học tập trên lớp.
- 8 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
Nếu được sử dụng đúng phương pháp, sách sẽ có tác dụng lớn: Mở
rộng, đào sâu vốn hiểu biết một cách có hệ thống và sinh động, rèn luyện kĩ
năng, thói quen sử dụng sách, bồi dưỡng vốn ngữ pháp, kinh nghiệm viết
văn, óc nhận xét, phê phán, bồi dưỡng hứng thú đọc sách, hứng thú học tập
qua sách.
Học sinh dùng sách ở lớp và ở nhà. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh
biết sử dụng sách và cần phải nghiên cứu kĩ bài học trong sách để xác định
những phần học sinh có thể tự đọc và hiểu được, những phần khó cần hướng
dẫn hợp lí cho việc tự học.
1.3.2. Nhóm các phương pháp dạy học trực quan
1.3.2.1. Phương pháp quan sát của học sinh: là phương pháp nhận thức cảm
tính tích cực, là tri giác trực tiếp đối tượng để thu thập thông tin hoặc kiểm
chứng thông tin.
- Quan sát trong quá trình học tập của học sinh là một hoạt động có
mục đích, có kế hoạch và được tiến hành có hệ thống theo những phương
thức nhất định, thông tin cần được ghi chép theo cách thức nhất định và
được kiểm tra về độ ổn định và ý nghĩa.
1.3.2.2. Phương pháp trình bày trực quan: được dùng khi giảng bài mới và
có thể dùng để củng cố, ôn tập hay kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
Trong thực tiễn dạy học, có thể sử dụng nhiều phương pháp trực quan
khác nhau như:
* Các vật thật như động vật, thực vật, khoáng vật… gần gũi với cuộc
sống, với tự nhiên, dễ gây ấn tượng sâu sắc và hứng thú tìm tòi, học tập.
* Các vật trượng trưng như bản đồ, sơ đồ, đồ thị, bảng biểu… để học
sinh thấy được các sự vật, hiện tượng được thể hiện dưới dạng khái quát,
làm nổi bật cái chủ yếu, bản chất.
* Các vật tạo hình như tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, phim, cho phép
học sinh quan sát được những sự vật, hiện tượng khó thấy trực tiếp hoặc
không thể trông thấy, khó hay không kiếm được, hoặc quá phức tạp.
Cách thực hiện phương pháp trực quan:
- Lựa chọn cẩn thận các loại phương tiện trực quan cho phù hợp với
mục đích, nội dung học tập, chuẩn bị đầy đủ số lượng.
- Trình bày theo trình tự nhất định.
- Phương tiện trực quan phải được trình bày làm sao cho học sinh dễ
thấy, rõ ràng, đạt yêu cầu về thẩm mỹ.
- Chú ý hướng dẫn cho học sinh quan sát, phát hiện vần đề.
- Kết hợp với lời nói để hướng dẫn và nâng cao khả năng học tập của
học sinh.
- Kết hợp với các phương pháp thuyết trình, vấn đáp để thống nhất
được cái cụ thể với cái trừu tượng.
- 9 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
1.3.3. Nhóm các phương pháp dạy học thực hành
1.3.3.1. Phương pháp thí nghiệm: giúp học sinh tự lực tìm kiếm tri thức, vận
dụng, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành và sử dụng các dụng cụ và máy
móc khác nhau; góp phần giáo dục thái độ và văn hoá lao động.
Khi tiến hành phương pháp này giáo viên cần phải:
Xác định rõ đề tài, mục đích, yêu cầu thí nghiệm; chỉ dẫn nội dung và
các giai đoạn tiến hành, xác định rõ công cụ và các thiết bị cần thiết; giới
thiệu cho học sinh biết cách sử dụng các công cụ thí nghiệm, các nguyên tắc
bảo đảm an toàn khi sử dụng các vật thí nghiệm và khi làm thí nghiệm, các
vấn đề bảo quản và tiết kiệm nguyên vật liệu…; phân chia học sinh thành
từng nhóm khi cần thiết; hướng dẫn học sinh ghi chép, quan sát, vẽ hình;
theo dỏi học sinh để kịp thời điều chỉnh; hướng dẫn học sinh viết báo cáo
tổng kết kết quả thí nghiệm.
1.3.3.2. Phương pháp luyện tập: là lặp đi lặp nhiều lần những hành động
nhất định nhằm hình thành và củng cố những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, qua
đó củng cố kiến thức.
1.3.3.3. Phương pháp ôn tập để củng cố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo: Ôn tập theo
bài, chương, phần có tính chất tổng kết theo đề tài; cần có kế hoạch, hệ
thống và kịp thời với nhiều hình thức khác nhau; ôn rải và ôn xen kẻ; ôn cái
cơ bản, cần có đối chiếu so sánh, phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập; có
thể sử dụng các phương pháp trình bày ở trên để tiến hành ôn tập.
1.3.4. Phương pháp kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong quá
trình dạy học.
Kiểm tra là để thu được tín hiệu ngược phản ảnh chất lượng và hiệu
quả quá trình dạy học để kịp thời điều chỉnh và còn để củng cố tri thức, tạo
điều kiện phát triển trí tuệ cho học sinh.
Kiểm tra có nhiều dạng:
- Kiểm tra thường xuyên (hàng ngày)
- Kiểm tra định kỳ
- Kiểm tra tổng kết vào cuối năm học
- Kiểm tra và thi hết môn, hết học phần
Các hình thức kiểm tra:
- Kiểm tra miệng: được sử dụng trước khi, trong khi, sau khi và cả
trong các kỳ thi cuối học kỳ, cuối năm học, hoặc kết thúc học
phần. Giúp thu được tín hiệu ngược nhanh chóng và có tác dụng
thúc đẩy người học tích cực học tập thường xuyên và có hệ thống.
- Kiểm tra viết: được sử dụng sau khi kết thúc một học trình, một
chương mục nào đó. Có tác dụng kiểm tra trình độ nắm vững tri
thức của người học và giúp người học rèn luyện năng lực trình bài
bằng ngôn ngữ viết.
- 10 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
- Kiểm tra thực hành: Nhằm kiểm tra kĩ năng, kĩ xảo thực hành các
môn học. Có thể được tiến hành trên lớp, trong phòng thí nghiệm,
vườn trường, xưởng trường, cơ sở sản xuất.
Yêu cầu giáo viên đánh giá trình độ của học sinh phải chính xác,
khách quan, toàn diện, hệ thống và công khai, phản ánh đúng năng lực, trình
độ hiện có của người học, có thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại
để kiểm tra đánh giá. Cần phải xác định đúng trọng tâm của vấn đề cần kiểm
tra và tìm ra câu hỏi xác đáng, bao quát được nội dung vấn đề, tổ chức cho
học sinh làm bài thật sự nghiêm túc, tránh các hiện tượng tiêu cực trong khi
làm bài. Có thể sử dụng câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra.
1.4. Các hệ thống PPDH hiện đại
Trên đây, là các PPDH thường dùng trong nhà trường. Những phương
pháp ấy ít khi đứng độc lập, mà thường được các thầy giáo sử dụng kết hợp
với nhau trong quá trình dạy học. Trong những năm gần đây, các thầy giáo
thường hay nói đến: dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học nêu vấn đề
và giải quyết vấn đề, dạy học theo lý thuyết kiến tạo, dạy học theo quan
điểm sư phạm học tương tác, các phương pháp tích cực trong dạy học…Các
hệ thống phương pháp này còn tương đối mới ở Việt Nam và chúng cũng là
xu thế chung của thế giới hiện nay, nên có thể đặt cho chúng cái tên chung là
Các hệ thống PPDH hiện đại.
Dạy học nêu và giải quyết vấn đề, dạy học lấy học sinh làm trung tâm,
dạy học theo quan điểm sư phạm học tương tác…không phải là những
PPDH, mà là những tư tưởng về PPDH. Để vận dụng những tư tưởng này
vào thực tiễn phải sử dụng một hệ thống phương pháp tương ứng.
1.4.1. Dạy học nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề là một tư tưởng dạy học chủ trương làm cho học
sinh nắm kiến thức trên cơ sở tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm tòi nghiên
cứu chứ không phải bị động chờ thầy giáo truyền thụ cho. Làm được như thế
không những các em nắm được kiến thức một cách bền vững và sâu sắc, mà
còn giúp các em biết phương pháp, có kỹ năng và thói quen nghiên cứu, tìm
tòi, sáng tạo, những phẩm chất quan trọng nhất của con người hiện đại.
Khi vận dụng dạy học nêu vấn đề vào thực tiễn nhà trường, nên chú ý
một số điểm sau:
- Dạy học nêu và giải quyết vấn đề có tác dụng tốt trong việc tích
cực hoá hoạt động nhận thức của các em, làm tăng tính năng động,
sáng tạo của thầy và trò trong dạy học, tương đối dễ sử dụng…Nên
đó là một trong những phương pháp được thầy giáo hay sử dụng
khi dạy học.
- 11 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
- Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là tốn thời gian, đòi hỏi thầy
giáo phải có chuyên môn cao và nhiều tâm huyết, và phải xác định
đúng điều kiện dạy học nêu vấn đề có hiệu quả.
1.4.2. Dạy học hướng vào người học (lấy học sinh làm trung tâm)
Có thể hiểu nội dung tư tưởng này qua một số ý kiến sau đây:
- Lấy học sinh làm trung tâm là một xu thế hiện đại trong việc đổi
mới phương pháp dạy học, có tính nhân văn cao.
- Lấy học sinh làm trung tâm là giúp học sinh tìm tòi chân lí và qua
đấy mà có kiến thức mới.
- Cần chú ý đến hoạt động tích cực, độc lập của học sinh.
- Đổi mới phương pháp phải toàn diện, không tách rời các yếu tố
khác của quá trình dạy học (mục tiêu, nội dung, SGK, thiết bị dạy
học, thầy giáo…).
- Cần nêu lên một hệ thống biện pháp về đổi mới PPDH để thầy giáo
có thể lựa chọn và áp dụng vào thực tiễn đa dạng của quá trình dạy
học.
- Nên phân tích những phương pháp truyền thống; những mặt hay,
mặt dở để kế thừa và điều chỉnh.
Nội dung của tư tưởng hướng vào người học có thể cụ thể hoá như
sau:
- Chú ý đến đối tượng dạy về các mặt sau:
o Nhu cầu, nguyện vọng, định hướng giá trị của họ;
o Kinh nghiệm và trình độ kiến thức hiện có;
o Đặc điểm nhận thức của người học;
o Khả năng và điều kiện làm việc cụ thể;
- Tìm mọi biện pháp và hình thức khác nhau để kích thích hứng thú,
tính tích cực nhận thức của người học.
- Tìm cách làm cho người học tự suy nghĩ, tìm tòi, hoạt động nhận
thức độc lập.
- Tăng cường cá nhân hoá hoạt động học tập. Trong vấn đề này cần
chú ý đến việc vận dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ
thuật và công nghệ hiện đại.
- Thường xuyên kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
- Phát huy sức mạnh, ý chí của người học bằng nhiều biện pháp khác
nhau. Điều đáng chú ý là không phải những điều cần phải học đều
thú vị cả, mà có nhiều vấn đề không thích nhưng cần thiết cho
cuộc sống và phải chiếm lĩnh nó bằng sức mạnh của ý chí. Vì vậy,
không nên quá đề cao những mong muốn, sở thích cá nhân học
- 12 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
sinh, nhất là với học sinh nhỏ tuổi, chưa có đủ trình độ để lựa chọn
độc lập những nội dung học tập.
- Môi trường có ảnh hưởng rất lớn, nhiều khi có ảnh hưởng quyết
định đến kết quả dạy học. Nhưng khi dạy nhiều khi người thầy
không để ý đến tác động của môi trường. Môi trường có thể ảnh
hưởng trực tiếp đến người học, nhưng trong nhiều trường hợp, ảnh
hưởng của môi trường chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua việc
tổ chức dạy học của người thầy. Vì vậy, khi triển khai tư tưởng dạy
học hướng vào người học, người thầy cần chú ý đến việc tổ chức
các hoạt động nhằm tăng cường ảnh hưởng của môi trường.
Tư tưởng dạy học hướng vào người học là một tư tưởng giáo dục
hiện đại và mang tính nhân văn sâu sắc. Để thực hiện được tư tưởng
này cần tiến hành kiên trì và có kế hoạch lâu dài nhằm đưa việc đổi
mới phương pháp trong nhà trường tiến lên một cách vững chắc và có
hiệu quả.
1.4.3. Dạy học kiến tạo
Dạy học kiến tạo là đi sâu vào tìm hiểu sự chuyển hoá bên trong của
quá trình nhận thức, tìm hiểu cơ chế tiếp nhận nhận thức.
Dạy học kiến tạo đã đưa ra một vài khái niệm mới như: đồng hoá và
điều ứng trong giáo dục, và cho rằng: người học phải tự xây dựng cho mình
một hệ thống kiến thức có cấu trúc riêng.
Dựa vào bản chất của lý thuyết kiến tạo, có thể phân kiến tạo trong
dạy học làm hai loại:
- Kiến tạo cơ bản: Kiến tạo cơ bản đề cao vai trò của mỗi cá nhân
trong quá trình nhận thức và cách thức cá nhân xây dựng kiến thức
cho bản thân. Kiến tạo cơ bản quan tâm đến quá trình chuyển hoá
bên trong của cá nhân trong quá trình nhận thức. Kiến tạo cơ bản
coi trọng kinh nghiệm của người học trong quá trình người học
hình thành thế giới quan khoa học cho mình.
- Kiến tạo xã hội: là quan điểm nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố
văn hoá, các điều kiện xã hội và sự tác động của các yếu tố đó đến
sự hình thành kiến thức. Kiến tạo xã hội xem xét cá nhân trong mối
quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội. Nhân cách của chủ thể
được hình thành thông qua tương tác của họ với những người khác.
Kiến tạo xã hội cũng nhìn nhận chủ thể nhận thức trong mối quan
hệ sống động với môi trường xã hội.
Tư tưởng dạy học kiến tạo chỉ có thể thực hiện được trong thực tiễn
dạy học vận dụng một hệ thống PPDH
- 13 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
Nỗ lực của thầy giáo sẽ tập trung vào việc hoàn thiện cơ chế tiếp nhận
kiến thức, sự chuyển hoá bên trong của quá trình nhận thức mà hai khái
niệm then chốt của nó là: đồng hoá và điều ứng.
- Đồng hoá: là làm cho hệ thống kiến thức mới tiêu hoá được, hoà
nhập được với hệ thống kiến thức cũ. Muốn thế, khi tổ chức quá
trình dạy học thầy giáo phải:
o Nắm được trình độ học sinh, nắm được hệ thống kiến thức
và kinh nghiệm của người học.
o Tổ chức học sinh tiếp nhận kiến thức mới.
o Làm phong phú, phát triển hệ thống kiến thức.
- Điều ứng: là thay đổi, điều chỉnh, bổ sung, tổ chức vận dụng kiến
thức để giải quyết các vấn đề lý thuyết và thực tiễn.
Thật vậy, nếu làm cho kiến thức mới tiêu hoá được trong hệ thống
kiến thức đã có và ứng dụng được trong tình huống mới thì quá trình nhận
thức sẽ có hiệu quả cao hơn.
Nhìn chung, để dạy học kiến tạo có hiệu quả phải chú ý đến cách tổ
chức hoạt động dạy của thầy giáo, mà thông thường phải sử dụng một hệ
thống các câu hỏi và bài tập. Hệ thống câu hỏi và bài tập này phải chú ý đến
các việc sau:
- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức, kinh nghiệm cũ;
- Rút ra được những nét độc đáo, cơ bản của kiến thức mới;
- Kết hợp cái mới với cái cũ bằng cách thường xuyên hệ thống hoá
kiến thức, xây dựng lại cấu trúc hệ thống kiến thức;
- Vận dụng hệ thống kiến thức bằng cách sử dụng hệ thống bài tập
đa dạng;
- Tổ chức hệ thống bài tập sáng tạo để củng cố và phát triển kiến
thức.
1.4.4. Sư phạm học tương tác
Hoạt động dạy học – giáo dục là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố:
người dạy – người học và môi trường, theo sơ đồ sau:
Sơ đồ cấu trúc hoạt động dạy - học: bộ ba người học-người dạy-môi trường
- 14 -
Người học
Người dạy Môi trường

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét