Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Quyết định 01/2006/QĐ-UBDSGĐTE ban hành Chiến lược truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi về dân số, sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006-2010 do Bộ trưởng Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em ban hành

Đội ngụ làm công tác DSGĐTE cơ sở với trên 140.000 người đã tích cực tham gia công tác
truyền thông về DS, SKSS/KHHGĐ cho các đối tượng tại cộng đồng. Kiến thức về truyền
thông DS, SKSS/KHHGĐ của đội ngũ cán bộ nói trên còn chưa hoàn thiện, chưa sâu và chưa
theo kịp sự chuyển hướng theo cách tiếp cận chuyển đổi hành vi về SKSS/KHHGĐ, hơn 95%
cán bộ vẫn chỉ chú trọng truyền thông các nội dung về KHHGĐ. Một tỷ lệ đáng kể còn thiếu
hiểu biết về SKSS VTN và TN, thậm chí không tán thành cung cấp thông tin về SKSS cho nhón
khách hàng này. Hình thức tư vấn trực tiếp mới được 40,8% cán bộ truyền thông sử dụng
5

Những người lãnh đạo, người có uy tín trong cộng đồng
Công tác vận động đã tạo được dư luận xã hội rộng rãi, đồng thuận, và ủng hộ việc thực hiện
chính sách DS-KHHGĐ, sự cam kết, ủng hộ của lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp, các đại
biểu dân cử, các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng tiếp
tục được nâng cao. Ủy ban DSGĐTE đã ký kết 10 chương trình phối hợp hoạt động tăng cường
công tác DSGĐTE giai đoạn 2004-2010 với các Bộ, ban ngành, đoàn thể liên quan.
Hầu hết các cấp ủy Đảng, chính quyền đã xác định công tác DS, SKSS/KHHGĐ là một bộ phận
quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Do vậy nhiều cấp ủy
Đảng và chính quyền đã ban hành Nghị quyết, Chỉ thị, Chương trình hành động để thực hiện
các mục tiêu về DS, SKSS/KHHGĐ; một số địa phương tuy còn nhiều khó khăn về kinh tế,
nhưng đã đầu tư thêm nguồn lực cho công tác DS, SKSS/KHHGĐ.
Tuy vậy, vẫn còn một số cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương nhận thức chưa đầy đủ về vị
trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác DS, SKSS/KHHGĐ. Một số nơi xuất hiện tư tưởng
chủ quan, thỏa mãn với kết quả giảm sinh đạt được. Do vậy, đã buông lỏng sự lãnh đạo, chỉ
đạo, quản lý cũng như đầu tư nguồn lực cho công tác này.
Mặc dù ngân sách dành cho chương trình truyền thông DS, SKSS/KHHGĐ tăng dần nhưng còn
thấp, chưa đáp ứng một nửa nhu cầu. Bên cạnh đó, một số địa phương còn cắt giảm kinh phí, sử
dụng dàn trải, chưa đúng mục đích.
Di dân
Di dân nội địa tiếp tục gia tăng, đặc biệt là di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị. Cường độ
di dân được duy trì ở mức 2,55%
6
. Tốc độ đô thị hóa chưa cao nhưng có dấu hiệu tăng nhanh
trong giai đoạn 2001-2004. Tỷ lệ dân số thành thị tăng từ 24,18% năm 2000 lên 26,23% năm
2004. Đối với nhóm di cư, mức độ hiểu biết về các bệnh LTQĐTD thấp hơn từ 4-5 điểm phần
trăm so với người không di cư, tới một phần tư số người di cư hiểu sai về đường lây nhiễm các
bệnh LTQĐTD; tỷ lệ số người hiểu biết đúng về các con đường lây nhiễm HIV thấp hơn so với
nhóm không di cư và nguy cơ lây nhiễm cũng cao hơn; trong nhóm di cư, nữ lại hiểu biết ít hơn
5
Kết quả khảo sát nhanh do Trung tâm Phát triển sức khỏe cộng đồng và ánh sáng thực hiện.
6
Báo cáo 5 năm thực hiện chiến lược dân số, 2001-2010 của UBDSGĐTE
nam giới. Bên cạnh đó, tỷ lệ sử dụng các BPTT của nhóm di cư cũng thấp hơn nhiều so với
nhóm không di cư. Sự khác biệt này cao nhất ở Tây Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh và Khu
công nghiệp Đông Nam Bộ, đặc biệt là đối với phụ nữ hiện có chồng trong nhóm 15-24 tuổi
7
Bình đẳng giới
Bình đẳng giới ở Việt Nam ngày càng được cải thiện. Tuy vậy. còn một số vấn đề cần được
quan tâm giải quyết, đặc biệt trong lĩnh vực dân số, chăm sóc SKSS và KHHGĐ. Phụ nữ vẫn là
đối tượng chính sử dụng các BPTT hiện đại. Quan niệm truyền thống không phù hợp về vai trò,
vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội còn tồn tại; thông tin liên lạc đến giới còn chưa được
chú ý thu thập, lưu trữ và sử dụng.
Phần thứ nhất
CĂN CỨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC
I. ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính sách ds-
KHHGĐ đã khẳng định công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền là một trong những giải
phóng quan trọng vận động nhân dân thực hiện công tác DS-KHHGĐ, “làm cho mọi người,
trước hết là lớp trẻ, chuyển biến sâu sắc nhận thức, hiểu rõ sự cần thiết và lợi ích của KHHGĐ,
chấp nhận gia đình ít con”; Nghị quyết số 47/NQ-TW ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Bộ Chính
trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ xác định đẩy mạnh tuyên truyền, vận
động, giáo dục là một trong các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu giảm sinh,
từng bước nâng cao chất lượng dân số.
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 ghi: “Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân
có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ trẻ em; thực hiện chương trình dân số và KHHGĐ”
8
.
Luật Bảo vệ Sức khỏe Nhân dân quy định: “Nhà nước có chính sách, biện pháp khuyến khích và
tạo điều kiện cần thiết cho mọi người thực hiện KHHGĐ… Các cơ quan y tế, văn hóa, giáo dục,
thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục kiến thức về
dân số và kế hoạch hóa gia đình cho nhân dân. Nghiêm cấm hành vi gây trở ngại hoặc cưỡng
bức trong việc thực hiện KHHGĐ”
9
; Pháp lệnh Dân số cũng quy định cụ thể một số điều liên
quan đến truyền thông, vận động, giáo dục và tư vấn
10
; Chiến lược Đời sống Việt Nam, Chiến
lược chăm sóc sức khỏe sinh sản, Chiến lược Gia đình Việt Nam và Chương trình hành động
quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của
truyền thông giáo dục trong việc thực hiện các mục tiêu về dân dân số, gia đình trẻ em.
7
Tổng cục Thống kê, Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Những kết quả chủ yếu. NXB Thống kê. Hà Nội, 2005
8
Điều 40 Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam sửa đổi năm 1992
9
Điều 43 của Luật bảo vệ Sức khỏe Nhân dân
10
Điều 9, 11, 21, 29 của Pháp lệnh Dân số
II. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC CHUYỂN
ĐỔI HÀNH VI VỀ DS, SKSS/KHHGĐ GIAI ĐOẠN 2001-2005
1. Đánh giá tổng quan việc thực hiện mục tiêu
Kết quả
Chiến lược truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi về DS, SKSS/KHHGĐ giai đoạn 2001-
2005 đã chuyển cách tiếp cận từ KHHGĐ sang SKSS, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề
cơ bản mà Chiến lược Dân số đặt ra. Kết quả cụ thể như sau:
Đã góp phần tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân
trong việc thực hiện KHHGĐ và chăm sóc SKSS. Các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có
hiểu biết chung về các BPTT hiện đại khá cao, tỷ lệ sử dụng tăng từ 61,1% năm 2001 lên 65,7%
năm 2005
11
. Nam giới ngày càng tham gia tích cực hơn trong việc thực hiện KHHGĐ như cùng
trao đổi, bàn bạc, ủng hộ vợ thực hiện BPTT; tỷ lệ sử dụng BCS, triệt sản nam, xuất tinh ngoài
là 17,7%
12
. NCCDV SKSS/KHHGĐ ở các cơ sở y tế nhà nước được cung cấp kiến thức, kỹ
năng truyền thông, tư vấn và bước đầu thực hiện chuẩn quốc gia về dịch vụ chăm sóc SKSS,
phục vụ tốt hơn cho người sử dụng dịch vụ.
Công tác giáo dục DS, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường cho VTN,
TN bước đầu giúp các em có hiểu biết và hành vi đúng đắn trong quan hệ tình bạn, tình yêu lành
mạnh, tình dục an toàn, phòng ngừa có thai ngoài ý muốn và các bệnh LTQĐTD, HIV/AIDS.
Hạn chế
13
Công tác truyền thông giáo dục giai đoạn 2001-2005 chưa nắm bắt kịp thời những diễn biến về
nhận thức, tâm lý, tập quán của một xã hội nông nghiệp truyền thống muốn nhiều con, có con
trai của một bộ phận dân cư, trong đó có cán bộ, Đảng viên. Vẫn còn khoảng cách rất lớn giữa
hiểu biết chung với hiểu biết cụ thể, đầy đủ về DS, SKSS/KHHGĐ; giữa kiến thức với kỹ năng
thực hành và hành vi cụ thể của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ để xây dựng gia đình ít
con, no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc. Nam giới chưa thực sự ủng hộ và chia sẻ trách nhiệm
với phụ nữ trong KHHGĐ và chăm sóc SKSS. Hiểu biết, nhận thức của VTN, TN về
SKSS/KHHGĐ chưa đầy đủ, dẫn đến hành vi tình dục không an toàn. Quyền lựa chọn của
khách hàng chưa được thực sự được tôn trọng, công tác tư vấn chưa đầy đủ.
2. Đánh giá thực hiện các giải pháp:
Kết quả:
11
Điều tra biến động DS-KHHGĐ 01/4/2005
12
Điều tra biến động DS-KHHGĐ 01/04/2004
13
Báo cáo kiểm điểm 5 năm thực hiện Chiến lược Dân số 2001-2010, giai đoạn 2001-2005. UBDSGĐTE. Hà
Nội, 2005
Năng lực đội ngũ làm công tác truyền thông DSGĐTE đã được nâng lên thông qua các chương
trình đào tạo TTCĐHV về DS, SKSS/KHHGĐ, chú trọng đến việc chuyển đổi hành vi của các
nhóm đối tượng. Về cơ bản, công tác truyền thông DS, SKSS/KHHGĐ được quản lý thống nhất
trong phạm vi cả nước; định kỳ giám sát để nâng cao hiệu quả quản lý. Hệ thống tổ chức làm
công tác truyền thông DSGĐTE từ Trung ương đến cơ sở bước đầu được củng cố; 100% xã,
phường có cán bộ và cộng tác viên DSGĐTE.
Các hoạt động truyền thông giáo dục thường xuyên ở các tuyến đã được duy trì và đẩy mạnh,
thu hút đông đảo các lực lượng trong toàn xã hội tham gia vào các hoạt động vận động, truyền
thông, giáo dục về DS, SKSS/KHHGĐ. Các phương tiện truyền thông đại chúng đã tăng cả về
thời lượng, số lượng cũng như chất lượng thông tin truyền tải. Truyền thông trực tiếp ở cơ sở đã
có đổi mới theo hướng tiếp cận chuyển đổi hành vi về SKSS dưới nhiều hình thức, đem lại hiệu
quả thiết thực. Mô hình chiến dịch truyền thông gắn với cung ứng dịch vụ SKSS/KHHGĐ tại
vùng đông dân có mức sinh tăng trở lại, vùng khó khăn đã góp phần tích cực vào việc hoàn
thành mục tiêu giảm sinh và cải thiện tình trạng SKSS, mang lại hiệu quả rõ rệt về kinh tế và xã
hội. Bước đầu một số Trung tâm Tư vấn và dịch vụ về DS, GĐ, TE cấp tỉnh được thành lập và
hoạt động có kết quả. Giáo dục DS, SKSS/KHHGĐ, giới tính được tính hợp vào chương trình
giảng dạy khóa chính và ngoại khóa trong hệ thống các trường phổ thông; lồng ghép thí điểm
trong chương trình đào tạo giáo sinh của các trường Đại học Sư phạm. Truyền thông, tư vấn về
DS, SKSS/KHHGĐ ngoài nhà trường bước đầu đã thu hút được đông đảo VTN, TN tham gia
dưới nhiều hình thức như tọa đàm, câu lạc bộ, hội trại… Sản phẩm truyền thông đã được sản
xuất và cung cấp cho đối tượng số lượng lớn, nội dung phong phú, hình thức đa dạng, chất
lượng được nâng cao.
Ngân sách nhà nước dành cho chương trình truyền thông DS-KHHGĐ tăng dần qua các năm, từ
30,3 tỷ năm 2001 lên 50,7 tỷ năm 2005. Tất cả các tuyến về cơ bản được trang bị đủ phương
tiện truyền thông theo quy định. Bên cạnh đó, hiệu quả sử dụng hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ
các nước, tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ được nâng lên trên cơ sở phát huy thế
mạnh của từng nhà tài trợ.
Hạn chế:
Tổ chức bộ máy công tác truyền thông DSGĐTE ở địa phương chưa thống nhất, một số nơi
chưa có phòng truyền thông. Đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông thiếu về số lượng, năng
lực quản lý hạn chế, một số huyện thị thiếu cán bộ chuyên trách truyền thông. Một nửa số cán
bộ chuyên trách và cộng tác viên cơ sở còn hạn chế về trình độ học vấn, lại thường xuyên thay
đổi. Công tác đào tạo và đào tạo lại chưa đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật tư vấn, giáo dục, vận
động, lập kế hoạch, giám sát và đánh giá… Nghiên cứu khoa học về truyền thông còn yếu, chưa
triển khai được các nghiên cứu đánh giá sự chuyển đổi nhận thức, thái độ và hành vi của các
nhóm đối tượng.
Sản phẩm truyền thông chưa đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng cho các nhóm đối
tượng; thiếu các sản phẩm dành cho đồng bào các dân tộc ít người và các đối tượng có trình độ
văn hóa thấp. Việc cung cấp và phân phối tài liệu truyền thông chưa kịp thời và đầy đủ.
Công tác kế hoạch còn hạn chế; giám sát, đánh giá chưa được chú trọng và chưa được tiến hành
thường xuyên; việc thống kê và lưu trữ thông tin, tư liệu phục vụ cho công tác truyền thông
chưa đáp ứng yêu cầu, sự phối hợp liên ngành giữa các đoàn thể, tổ chức xã hội các cấp đã được
củng cố nhưng còn yếu về lồng ghép.
Mô hình tư vấn động còn nhiều hạn chế về chuyên môn, kỹ năng tư vấn, đặc biệt là các hoạt
động tư vấn diễn ra tại các chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS ở các vùng đông dân có mức sinh tăng trở lại, vùng sâu, vùng xa, vùng khó
khăn.
Nội dung tích hợp giáo dục DS-SKSS cho VTN, TN chưa được điều chỉnh trong sách giáo khoa
mới theo “phương án phân ban ở trung học phổ thông”. Chương trình và tài liệu “Tự học có
hướng dẫn” về DS, SKSS/KHHGĐ, giới thiệu và giới tính đã được xây dựng nhưng chưa được
thử nghiệm. Các điểm, đội tư vấn cho VTN, TN trong và ngoài nhà trường mới dừng ở mức độ
nghiên cứu thử nghiệm.
Ngân sách nhà nước cho chương trình truyền thông DS, SKSS/KHHGĐ thấp, chưa đáp ứng một
nửa nhu cầu. Ngân sách đầu tư cho các hoạt động truyền thông bình quân đạt 15% (bao gồm cả
đầu tư thêm của địa phương) nhưng dao động lớn giữa các tỉnh. Trong khi đó việc sử dụng kinh
phí còn dàn trải, chưa đúng mục đích. Do vậy, công tác truyền thông giai đoạn 2001-2005 gặp
nhiều khó khăn. Trang thiết bị truyền thông ở các cấp còn thiếu, 50% đã hỏng, cần trang bị mới.
III. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
1. Cơ hội
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác DS, SKSS/KHHGĐ, đã ban hành
nhiều văn bản nhấn mạnh tới vị trí, vai trò của công tác truyền thông trong việc thực hiện chính
sách DS, SKSS/KHHGĐ.
Hệ thống truyền thông đa phương tiện được phát triển mạnh mẽ. Diện phủ sóng phát thanh,
truyền hình được mở rộng đến vùng sâu, vùng xa và được tăng cường về nội dung, thời lượng
cho công tác truyền thông DSGĐTE.
Các nước, tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ tiếp tục hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật.
2. Thách thức
Nước ta chưa ra khỏi tình trạng kém phát triển và vẫn tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với
các nước trong khu vực và trên thế giới, GDP bình quân đầu người thấp và về cơ bản vẫn là một
nước nghèo. Nhiều người vẫn còn muốn đông con, nhiều cháu, muốn có con trai. Ngay một bộ
phận cán bộ, Đảng viên cũng có tư tưởng và tâm lý đó. Ngoài ra những tập tục lạc hậu khác
cũng cản trở đến việc thực hiện chăm sóc SKSS/KHHGĐ.
Kỹ năng gia tăng dân số tiềm ẩn còn lớn, mỗi năm dân số tăng thêm khoảng 1,1 đến 1,2 triệu
người. Sự khác biệt về mức sống, tình trạng SKSS còn chênh lệch nhiều giữa các vùng gây khó
khăn cho việc xây dựng thông điệp và xác định những hành vi mong muốn thay đổi phù hợp với
từng vùng miền.
Một số chính sách hiện hành còn có những điểm bất cập, gây khó khăn cho công tác truyền
thông giáo dục, sự nới lỏng quản lý của các cấp chính quyền cũng ảnh hưởng tiêu cực đến công
tác truyền thông. Kinh phí đầu tư cho công tác truyền thông chưa đáp ứng các nhu cầu tối thiểu.
IV. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐẶT RA CHO GIAI ĐOẠN 2006-2010:
1. Công tác vận động:
Cần đẩy mạnh hơn nữa sự cam kết ủng hộ của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đại biểu dân
cử, các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng. Tăng
cường đầu tư nguồn lực cho các hoạt động TTCĐHV. Vận động sự tham gia tích cực, tự
nguyên của các đơn vị và cá nhân.
2. Công tác truyền thông:
Thông điệp truyền thông cần tập trung vào SKSS, phù hợp hơn với từng nhóm đối tượng, vùng
miền, khu vực (vùng có mức sinh sản cao, vùng đã đạt mức sinh thay thế…). Từng bước khắc
phục những rào cản về nhận thức, tâm lý, tập quán sinh đẻ lạc hậu, khác biệt ngôn ngữ đối với
các vùng đông dân có mức sinh tăng trở lại, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Tăng cường
giám sát, hỗ trợ kỹ thuật, đánh giá các can thiệp truyền thông. Nân gcao năng lực chuyên môn
và kỹ năng của đội ngũ cán bộ truyền thông về DS, SKSS/KHHGĐ.
3. Kiến thức, thái độ và hành vi
Tăng cường kiến thức và hiểu biết về DS, SKSS/KHHGĐ cho mọi đối tượng, đặc biệt là các
cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ. Khắc phục ảnh hưởng của tâm lý, tập quán và hành vi
không có lợi đối với SKSS.
4. Công tác giáo dục cho VTN, TN:
Nâng cao hiểu biết và nhận thức đầy đủ, đúng đắn của VTN, TN về SKSS/KHHGĐ cũng như
các kỹ năng cần thiết về chăm sóc SKSS (kỹ năng thuyết phục, sử dụng bao cao su…); Hạn chế
các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, nạo thai không an toàn, các bệnh LTQĐTD và
HIV/AIDS trong vVTN, TN. Đẩy mạnh sự ủng hộ của xã hội đối với truyền thông giáo dục DS,
SKSS/KHHGĐ cho VTN, TN trong và ngoài nhà trường.
5. Các công tác tư vấn:
Cung cấp và tư vấn đầy đủ thông tin về các vấn đề SKSS ưu tiên và KHHGĐ. Thực hiện đúng,
đầy đủ các bước tư vấn theo chuẩn quốc gia và theo nhu cầu của đối tượng, lấy khách hàng làm
trung tâm. Tăng cường các dịch vụ tư vấn thân thiện cho VTN, TN.
6. Truyền thông lồng ghép DSGĐTE
Các chương trình truyền thông về DS, SKSS/KHHGĐ, gia đình và trẻ em của các Bộ, ban
ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội cần đổi mới sự điều phối và lồng ghép và về nội dung và
phương pháp truyền thông, lấy gia đình làm trung tâm, tập trung vào nâng cao chất lượng cuộc
sống gia đình theo các tiếp cận vòng đời (từ khi trẻ em nhỏ, vị thanh niên, trung niên đến tuổi
già), nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, kỹ năng, vai trò và trách nhiệm của mọi thành viên
trong gia đình.
Phần Thứ hai
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP
I. QUAN ĐIỂM
1. Truyền thông, đặc biệt TTCĐHV là một trong những giải pháp cơ bản để thực hiện thắng lợi
chiến lược dân số, tạo môi trường thuận lợi về chính sách, nguồn lực và dư luận xã hội để mọi
người chủ động và tự nguyện thực hiện chính sách DS-KHHGĐ của Đảng và Nhà nước.
2. Trọng tâm của công tác TTCĐHV là tạo sự chuyển biến nhận thức, thái độ cho các cặp vợ
chồng, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, nam giới, VTN, TN để họ có những quyết định và thực
hiện những hành vi có lợi cho SKSS của bản thân, gia đình và cộng đồng.
3. Đáp ứng đủ nhu cầu về nguồn lực cho công tác truyền thông là góp phần trực tiếp thực hiện
có hiệu quả các mục tiêu về DS, SKSS/KHHGĐ của Đảng và Nhà nước. Ngân sách Nhà nước
là chủ đạo; Nhà nước khuyến khích các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước hỗ trợ nguồn lực
cho công tác truyền thông DS, SKSS/KHHGĐ. Quản lý có hiệu quả nguồn lực đầu tư cho công
tác truyền thông.
4. Thực hiện đồng bộ việc triển khai các hoạt động truyền thông, vận động, giáo dục, tư vấn với
việc đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ SKSS/KHHGĐ của nhân dân. Tập trung các hoạt động
truyền thông lồng ghép với các dịch vụ SKSS/KHHGĐ vào các vùng đông dân có mức sinh
tăng trở lại, vùng có tình trạng SKSS kém, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.
5. Huy động có hiệu quả sự tham gia của các Ban ngành đoàn thể, các tổ chức chính trị, xã hội,
các tổ chức phi chính phủ, các đơn vị và cá nhân vào công tác truyền thông; lấy nội dung DS,
SKSS/KHHGĐ là trọng tâm; gắn kết chặt chẽ các nội dung về gia đình, trẻ em, bình đẳng giới,
phòng chống HIV/AIDS vào các hoạt động truyền thông DS, SKSS/KHHGĐ.
II. MỤC TIÊU ĐẾN NĂM 2010
1. Mục tiêu tổng quát
Tạo môi trường thuận lợi về chính sách, nguồn lực, dư luận xã hội để mỗi cá nhân, gia đình,
cộng đồng có nhận thức, thái độ, hành vi có lợi và bền vững về DS, SKSS/KHHGĐ, từng bước
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần thực hiện mục tiêu của Chiến lược dân
số Việt Nam giai đoạn 2001-2010.
2. Mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu 1:
Nâng cao hiểu biết, kiến thức và thái độ góp phần chuyển đổi hành vi về DS, SKSS/KHHGĐ
theo hướng có lợi và bền vững cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, kể cả người chưa kết
hôn.
Các chỉ tiêu cần đạt:
 95% các cặp vợ chồng, nam giới và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, kể cả người chưa kết hôn
nêu được các vấn đề SKSS ưu tiên và lợi ích của việc thực hiện SKSS/KHHGĐ.
 85% các cặp vợ chồng, nam giới và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, kể cả người chưa kết hôn
ủng hộ và cam kết thực hiện các vấn đề SKSS ưu tiên.
 Góp phần tăng tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại lên 70%; đặc biệt tăng tỷ lệ sử dụng bao cao
su.
 Góp phần tăng bình quân mỗi năm 5% số bà mẹ mang thai đi khám thai ít nhất 3 lần, sinh con
tại cơ sở y tế hoặc được những người đã qua đào tạo đỡ
Mục tiêu 2:
Nâng cao hiểu biết, kiến thức và kỹ năng sống cơ bản về DS, SKSS/KHHGĐ, tình dục an toàn,
phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dân nhằm góp phần tạo hành vi đúng đắn, có lợi cho
SKSS VTN, TN, kể cả thanh niên đã kết hôn.
Các chỉ tiêu cần đạt
 95% VTN, TN, kể cả thanh niên đã kết hôn được những kiến thức, kỹ năng sống cơ bản liên
quan đến chăm sóc SKSS VTN, TN, giới, giới tính và tình dục an toàn.
 90% VTN, TN, kể cả thanh niên đã kết hôn chấp nhận thực hiện các hành vi có lợi thế chăm
sóc SKSS VTN, TN, giới, HIV/AIDS, tình dục và tình dục an toàn.
 Góp phần giảm tỷ lệ VTN, TN mang thai ngoài ý muốn, sinh con ở tuổi VTN.
 Góp phần giảm tỷ lệ VTN, TN mắc các bệnh LTQĐTD, HIV/AIDS.
 Góp phần giảm dần và tiến tới xóa bỏ tình trạng kết hôn trước tuổi Luật định.
Mục tiêu 3:
Nâng cao hiểu biết, kiến thức, kỹ năng về truyền thông, tư vấn và trách nhiệm của đội ngũ
những NCCDV SKSS/KHHGĐ nhằm đảm bảo đối tượng được nhận dịch vụ theo chuẩn quốc
gia về chăm sóc SKSS và được tư vấn đầy đủ.
Các chỉ tiêu cần đạt:
 95% NCCDV SKSS/KHHGĐ nêu được các bước cơ bản tư vấn và các yêu cầu cấp dịch vụ
SKSS/KHHGĐ theo chuẩn quốc gia về dịch vụ chăm sóc SKSS.
 90% NCCDV ủng hộ và cam kết tư vấn và cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ theo chuẩn quốc
gia về dịch vụ chăm sóc SKSS.
 75% NCCDV thực hiện tư vấn và cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ theo chuẩn quốc gia về
dịch vụ chăm sóc SKSS.
Mục tiêu 4:
Góp phần tăng cường sự ủng hộ và cam kết mạnh mẽ của Lãnh đạo Đảng, chính quyền, các tổ
chức xã hội các cấp, những người có uy tín trong cộng đồng đối với công tác DS,
SKSS/KHHGĐ; tiếp tục đẩy mạnh dư luận xã hội, tạo sự đồng thuận và ủng hộ việc thực hiện
chính sách DS, SKSS/KHHGĐ.
Các chỉ tiêu cần đạt:
 100% các cấp ủy Đảng, chính quyền ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, các văn bản pháp quy
để thúc đẩy việc thực hiện chính sách DS, SKSS/KHHGĐ;
 100% các tổ chức chính trị - xã hội, các ngành đoàn thể có liên quan ban hành các văn bản
hướng dẫn chỉ đạo về thực hiện công tác DS, SKSS/KHHGĐ;
 95% những người có uy tín trong cộng đồng ủng hộ việc thực hiện công tác DS,
SKSS/KHHGĐ;
 95% người dân ủng hộ và tham gia thực hiện chính sách DS, SKSS/KHHGĐ;
 Góp phần tăng kinh phí đầu tư từ ngân sách nhà nước và sự ủng hộ nguồn lực của các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước cho chương trình DS SKSS/KHHGĐ.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢ6C
1. Lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý:
Xây dựng và triển khai chương trình, kế hoạch vận động Lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp,
các tổ chức dân cử, lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể, những người có uy tín trong cộng đồng
về công tác DS, SKSS/KHHGĐ.
Phát triển hệ thống cung cấp thông tin có chất lượng và tham mưu thường xuyên, kịp thời về
dân số, SKSS/KHHGĐ cho lãnh đạo các cấp ủy Đảng, các cơ quan dân cử, chính quyền, các tổ
chức chính trị xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng, bao gồm cả việc xây dựng
mạng lưới truyền thông vận động chia sẻ thông tin và thống nhất kế hoạch hành động về DS,
SKSS/KHHGĐ.
Phối hợp với các ban ngành liên quan thực hiện củng cố, ổn định ổn định tổ chức bộ máy, bố trí
đủ cán bộ truyền thông chuyên trách làm công tác truyền thông DS, SKSS/KHHGĐ ở ban
ngành, đoàn thể và các địa phương.
Cải tiến cơ chế và đẩy mạnh phối hợp giữa các tổ chức, ban ngành đoàn thể các cấp… trong
công tác vận động nguồn lực (nhân lực, kinh phí, tài liệu, phương tiện…) cho công tác truyền
thông DS, SKSS/KHHGĐ.
Ban hành và thực hiện chính sách, quy chế động viên, khuyến khích những cá nhân, tập thể thực
hiện và làm tốt công tác truyền thông DS, SKSS/KHHGĐ.
Tạo nhiều cơ hội hơn cho VTN, TN, vợ/chồng trong độ tuổi sinh đẻ, người cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS được tham gia vào các hoạt động truyền thông và các hoạt động liên quan tới
hoạch định chính sách, xây dựng chương trình, kế hoạch truyền thông DS, SKSS/KHHGĐ.
Cập nhật và phát triển các chỉ báo TTCĐHV về DS, SKSS/KHHGĐ trên cơ sở thực hiện hệ
thông tin quản lý DSGĐTE các cấp.
Điều phối có hiệu quả các hoạt động truyền thông về DS, SKSS/KHHGĐ thông qua việc phối
hợp xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch và giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch trong
khuôn khổ chương trình phối hợp tăng cường hoạt động công tác DSGĐTE đến năm 2010.
Xây dựng và thực hiện nội dung, cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá dựa trên kết quả hoạt
động truyền thông DS, SKSS/KHHGĐ của các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội…
2. Nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác truyền thông các cấp
Cập nhật, cải tiến và phát triển chương trình, nội dung tài liệu đào tạo về TTCĐHV DS,
SKSS/KHHGĐ hiện có đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cấp và người làm công tác
truyền thông, giáo dục và tư vấn trên cơ sở giám sát đánh giá kết quả và nhu cầu đào tạo về
TTCĐHV, đồng thời thực hiện phân cấp đào tạo.
Xây dựng và thực hiện các tiêu chí tuyển chọn đối tượng đào tạo đối với đội ngũ giảng viên,
học viên và người làm công tác truyền thông, giáo dục và tư vấn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét