3.3.2.2. Xây dựng và hồn thiện mơi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh
siêu thị 65
3.3.2.3. Thiết lập các cơ chế chính sách nhằm hổ trợ và khuyến khích phát triển
siêu thị 66
3.3.2.4. Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển siêu thị 67
3.3.2.5. Khuyến khích phát triển hiệp hội các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị
tại Bình Dương. 68
3.3.2.6. Hình thành phát triển mạng lưới siêu thị trong tỉnh BD 68
3.3.2.7. Thiết lập chính sách phát triển hệ thống phân phối hàng hóa 69
3.4. Một số kiến nghị. 70
3.4.1. Một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước. 70
3.4.2. Một số kiến nghị đối với các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị. 71
PHẦN KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
PHẦN PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài.
Siêu thị đã xuất hiện trên thế giới từ hơn 70 năm qua, là loại hình kinh doanh
bán lẻ văn minh hiện đại, hình thành và phát triển trong mối quan hệ mật thiết với
q trình Cơng nghiệp hóa-Đơ thị hóa mạnh mẻ với cấp độ quy mơ thế giới.
Q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành thương mại bán lẻ Việt Nam
diển ra trong bối cảnh nước ta đang tiến hành cơng cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh
tế thị trường và chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới.
Loại hình kinh doanh siêu thị ra đời đã làm thay đổi diện mạo ngành thương
mại bán lẻ của khu vực, mở ra một loại cửa hàng văn minh, hiện đại và tiện nghi
cho người tiêu dùng Việt Nam, hơn nữa làm thay đổi cả thói quen mua sắm truyền
thống và góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
nói chung.
Tỉnh Bình Dương là một trong những tỉnh phát triển năng động, dân số ngày
một đơng, dân nhập cư từ khắp mọi miền đất nước đến để tìm kiếm việc làm ngày
càng nhiều. Các siêu thị lần lượt hình thành nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm thiết
thực hàng ngày của người dân, bước đầu đã tạo được nền móng cho sự phát triển hệ
thống siêu thị của khu vực.
Tuy nhiên siêu thị vẫn còn là một loại hình kinh doanh khá mới đối với
người dân Việt Nam và như nghiên cứu của Giáo sư Marc Dupuis(Đại học thương
mại Paris) thì ở các nước đang phát triển như Châu Mỹ la tinh và Châu Á, siêu thị
mới đang ở giai đoạn hình thành hoặc đang bắt đầu phát triển.
Nhìn chung sự hình thành và phát triển hệ thống siêu thị ở Việt Nam thời
gian qua còn mang tính tự phát, nhận thức và hiểu biết về siêu thị chưa thật sự sâu
sắc trong tồn dân, thiếu sự chỉ đạo và thống nhất quản lý từ phía nhà nước, cho nên
kinh doanh siêu thị chưa đạt được hiệu quả cao, chưa bảo đảm được tính văn minh
hiện đại của thương nghiệp.
2
Xuất phát từ những vấn đề bất cập nêu trên, một nhu cầu cấp bách được đặt
ra là cần phải định hướng, phải có những giải pháp đột phá để giúp hệ thống siêu thị
tỉnh Bình Dương phát triển có hiệu quả và mang tính bền vững. Chính vì lý do đó,
tơi đã chọn đề tài “Giải pháp để phát triển siêu thị tại tỉnh Bình Dương đến năm
2015 “.
2. Nội dung nghiên cứu.
- Về phương pháp luận, luận văn có những nội dung sau:
+ Hệ thống hóa những lý luận chung về siêu thị bao gồm: Khái niệm, đặc trưng,
phân loại, vị trí và vai trò của siêu thị.
+ Khái qt lịch sử phát triển hệ thống siêu thị trên thế giới và q trình hình
thành siêu thị ở Việt nam.
+ Nhận định triển vọng phát triển siêu thị tại tỉnh Bình Dương, thơng qua đó
đánh giá những mặt đạt được và những hạn chế còn tồn tại-Những thuận lợi và
những khó khăn.
- Về thực tiễn, luận văn cố gắng bảo đảm:
+ Phân tích mơi trường kinh doanh siêu thị tại Việt Nam.
+ Phân tích tình hình hoạt động của các siêu thị tại tỉnh Bình Dương trong thời
gian qua.
+ Đưa ra một số định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển siêu thị tại
tỉnh Bình Dương từ nay đến năm 2015.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Trong q trình thực hiện luận văn, chúng tơi sử dụng kết hợp một số phương
pháp nghiên cứu như : Phương pháp lịch sử, phương pháp mơ tả, thống kê, dự báo
và phỏng vấn.
- Phương pháp lịch sử : Là phương pháp điều tra thu thập có hệ thống và đánh
giá một cách khách quan các dữ liệu của những hiện tượng xảy ra trong q khứ,
nhằm mục đích kiểm tra những giả thuyết liên quan đến ngun nhân, tác động, xu
hướng phát triển cuả hiện tượng trong q khứ. Thơng qua đó sẽ tiến hành dự báo
cho tương lai.
3
- Phương pháp mơ tả : Là phương pháp có liên quan đến việc thu thập thơng
tin để kiểm chứng các giả thuyết, câu hỏi liên hệ đến tình trạng hiện tại của đối
tượng nghiên cứu. Thường trong phương pháp mơ tả thì các số liệu được thu thập
thơng qua các cuộc điều tra bằng các bảng câu hỏi, quan sát, phỏng vấn.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn tập trung nghiên cứu đến lĩnh vực hoạt động siêu thị trong phạm vi
tỉnh Bình Dương trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2015, đối tượng nghiên
cứu chính là các siêu thị đã và đang phát triển tại tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, siêu
thị vẫn là loại hình kinh doanh khá mới mẻ đối với Việt Nam nói chung và đối với
tỉnh Bình Dương nói riêng, hơn nửa do thời gian, khả năng và trình độ của người
viết có hạn nên vấn đề nghiên cứu chưa được sâu sắc. Vì thế bản luận văn này sẽ
khơng tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp
thiết thực của qúy Thầy Cơ cùng tồn thể bạn đọc để bản luận văn này được hồn
thiện hơn.
5. Kết cấu của luận văn.
Với mục đích và phạm vi nghiên cứu như trên, nội dung của luận văn được trình
bày theo bố cục sau đây :
PHẦN MỞ ĐẦU.
Chương 1: Tổng quan về sự phát triển siêu thị trên thế giới và ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng phát triển siêu thị tại tỉnh Bình Dương trong thời gian
qua.
Chương 3: Giải pháp phát triển siêu thị tại tỉnh Bình Dương đến năm 2015.
KẾT LUẬN.
4
CHƯƠNG I.
TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN SIÊU THỊ TRÊN THẾ
GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SIÊU THỊ.
1.1.1. Khái niệm và phân loại siêu thị.
1.1.1.1. Khái niệm về siêu thị.
Vào năm 1930 lần đầu tiên siêu thị ra đời tại Hoa Kỳ, với những hình thức
mới mẻ và những ưu thế nổi trội của mình, đã tạo ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực
thương mại bán lẻ của thế giới hiện đại. “Siêu thị” là từ được dịch ra từ tiếng nước
ngồi-“Supermarket” (Theo tiếng Anh), “Supermarché” (Theo tiếng Pháp). Cho tới
nay, siêu thị được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào từng nước,
ví dụ như:
+ Tại Hoa Kỳ: Siêu thị được định nghĩa: “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương
đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận khơng cao và khối lượng hàng hóa
bán ra lớn, bảo đảm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm,
bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa” (Philips Kotler,
“Marketing căn bản”).
+ Tại Pháp: Siêu thị được định nghĩa: “Siêu thị là cửa hàng bán lẻ theo phương
thức tự phục vụ, có diện tích từ 400m
2
đến 2500m
2
chủ yếu bán hàng thực phẩm và
vật dụng gia đình” (Marc Benoun, “Marketing: Savoir et savoir-faire”, 1991).
+ Tại Anh: Siêu thị được định nghĩa: “Siêu thị là cửa hàng bách hóa bán thực
phẩm, đồ uống và các loại hàng hóa khác”.
+ Tại Việt Nam: Siêu thị được định nghĩa: “Siêu thị là loại cửa hàng hiện đại,
kinh doanh tổng hợp hoặc chun doanh, có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú,
đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang
bị kỹ thuật và trình độ quản lý tổ chức kinh doanh; có phương thức phục vụ văn
minh thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng” (Trong
quy chế “Siêu thị, trung tâm thương mại”, Bộ Thương mại VN).
5
Nói chung, có thể là có rất nhiều khái niệm khác nhau về siêu thị nhưng chúng
ta có thể thấy được một số nét cơ bản sau đây, để phân biệt siêu thị với các dạng cửa
hàng bán lẻ khác, đó là:
- Dạng cửa hàng bán lẻ.
- Áp dụng phương thức tự phục vụ.
- Chủ yếu là hàng hóa tiêu dùng phổ biến.
1.1.1.2. Phân loại siêu thị.
Nhằm có hướng phân loại siêu thị cho thích hợp, chúng ta cần nghiên cứu hệ
thống phân phối hàng hóa tiêu dùng sau đây:
Sơ đồ 1.1: Siêu thị trong hệ thống phân phối hàng hóa tiêu dùng hiện đại
NGƯỜI BÁN LẺ
Cửa
hàng
tiện
dụng
Siêu
Thò
Đại
siêu
thò
Cửa
hàng
bách
hoá
Cửa
hàng
đại
hạ
giá
Cửa
hàng
bách
hoá
thông
thường
Trung
tâm
thương
mại
Cửa
hàng
chuyên
doanh
NHÀ SẢN XUẤT
Đại lý môi giới
Người bán buônNgười bán buôn
NGƯỜI TIÊU DÙNG
Sơ đồ 1.1: Siêu thị trong hệ thống phân phối hàng hóa tiêu dùng hiện
6
Theo sơ đồ 1.1 ở trên thì siêu thị là một dạng cửa hàng bán lẻ thuộc mắt xích
trung gian gần với người tiêu dùng nhất. Tuy vậy khi đề cập đến siêu thị người ta
ngầm hiểu đó là cách tiếp cận từ góc độ phân loại mang tính tổ chức đối với những
cửa hàng bán lẻ theo phương thức hiện đại. Hệ thống các cửa hàng này bao gồm:
Cửa hàng tiện dụng(convenience tore), Siêu thị nhỏ(mini-super), Siêu
thị(supermarket), Đại siêu thị(hypermarket), Cửa hàng bách hóa tổng
hợp(department store), Cửa hàng bách hóa thơng thường(popular store), Cửa hàng
đại hạ giá(hard discounter), Trung tâm thương mại(commercial center).
Phải nói rằng có nhiều cách phân loại siêu thị dựa trên các tiêu chí khác nhau và
tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, tuy nhiên có hai cách phân loại rất phổ
biến đó là phân loại theo quy mơ và phân loại theo hàng hóa kinh doanh :
1.1.1.2.1. Phân loại siêu thị theo quy mơ.
Siêu thị nhỏ: Theo cách phân loại của Pháp thì những siêu thị có diện tích nhỏ hơn
400 m
2
được gọi là siêu thị nhỏ. Những siêu thị nhỏ này thường chỉ chun bán
một số loại hàng hóa như: Đồ chơi trẻ em, quần áo dày dép, dụng cụ thể thao.
Siêu thị: Các siêu thị ở Pháp thường có diện tích từ 400 m
2
đến 2500 m
2
, còn các
siêu thị ở Hoa Kỳ có diện tích trung bình là 1250 m
2
. Tập hợp hàng hóa bày bán tại
siêu thị thường từ 2000 đến trên dưới 20.000 sản phẩm khác nhau.
Đại siêu thị: Đại siêu thị là đơn vị thương mại bán lẻ với quy mơ lớn có diện tích
trên 2.500 m
2
, có khi lên đến vài chục ngàn m
2
.Ở Anh đại siêu thị là cửa hàng có
diện tích trên 50.000 bộ vng, ở Pháp và Hoa Kỳ thì đại siêu thị có diện tích lên
đến 100.000 bộ vng. Đại siêu thị thường thuộc sở hữu một tập đồn thương mại,
được tổ chức như một khu tổ hợp bán lẻ với đủ mọi loại hàng hóa, tập hợp danh
mục hàng hóa có thể lên tới 50.000 sản phẩm các loại.
1.1.1.2.2. Phân loại siêu thị theo hàng hóa kinh doanh.
Ngày nay siêu thị là những cửa hàng bán lẻ tổng hợp, bán hàng hóa phục vụ cho
nhu cầu tiêu dùng phổ biến của người dân từ thực phẩm đến vật dụng gia đình, quần
áo, giày dép, chất tẩy rửa, hàng vệ sinh, dẫu rằng thực phẩm vẫn là mặt hàng kinh
doanh quan trọng nhất tại các siêu thị. Tuy nhiên với cách hiểu thơng thường thì
7
siêu thị gồm mọi dạng cửa hàng bán lẻ áp dụng phương thức kinh doanh hiện đại,
chúng ta có thể chia siêu thị thành hai loại sau đây:
Siêu thị tổng hợp: Siêu thị tổng hợp là siêu thị bán nhiều loại hàng hóa cho nhiều
loại khách hàng. Hiện nay siêu thị tổng hợp đang ngày càng thịnh hành, có những
siêu thị có danh mục hàng hóa vừa rộng và vừa sâu có thể lên tới hàng chục ngàn
loại sản phẩm. Tại những siêu thị tổng hợp lớn như vậy, khách hàng có thể mua
được hầu hết tất cả các loại hàng hóa đáp ứng đủ nhu cầu phục vụ cho sinh hoạt và
cuộc sống, mà khơng cần phải bước ra khỏi siêu thị để đến một siêu thị khác, thật là
tiện lợi.
Siêu thị chun doanh: Theo cách hiểu thơng thường thì siêu thị chun doanh
chính là các cửa hàng áp dụng phương thức bán hàng tự chọn. Tập hợp hàng hóa tại
siêu thị chun doanh hẹp nhưng sâu, có khả năng thỏa mãn cao nhu cầu của người
tiêu dùng, đó có thể là các cửa hàng chun bán quần áo, giày dép, trang trí nội thất,
kim khí điện máy, đồ chơi trẻ em, . . .
1.1.2. Đặc trưng của loại hình kinh doanh siêu thị.
Siêu thị là một mơ hình phân phối văn minh hiện đại, cho nên có nhiều đặc
trưng, đặc thù so với các loại hình kinh doanh thương mại khác. Những đặc trưng
cơ bản đó bao gồm:
Là một dạng cửa hàng bán lẻ: Siêu thị được tổ chức dưới hình thức những cửa
hàng do thương nhân đầu tư và quản lý, được nhà nước cấp phép hoạt động. Siêu thị
thực hiện chức năng bán lẻ- bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng
để họ sử dụng chứ khơng phải để bán lại.
Áp dụng phương thức tự phục vụ: Siêu thị sáng tạo và áp dụng phương thức tự
phục vụ(self service), khi đề cập đến siêu thị người ta khơng thể khơng nghĩ tới mơ
hình “tự phục vụ”, một phương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra và là phương
thức kinh doanh chủ yếu của xã hội văn minh cơng nghiệp hóa. Siêu thị chính thức
ra đời vào những năm 1930, mơ hình tự phục vụ đã trở thành cơng thức chung cho
ngành cơng nghiệp phân phối ở các nước phát triển và ngày nay hình thức này được
áp dụng phổ biến cho tất cả các cửa hàng hiện đại. Sự thành cơng của siêu thị đã
8
khích lệ việc phổ cập mơ hình tự phục vụ của siêu thị trong hệ thống bán lẻ hiện
hành nhằm tiết kiệm chi phí lao động. Có thể nói rằng phương thức tự phục vụ là
sáng tạo diệu kỳ của kinh doanh siêu thị và là một cuộc đại cách mạng trong lĩnh
vực thương mại bán lẻ.
Siêu thị sáng tạo nghệ thuật trưng bày hàng hóa: Ngồi việc sáng tạo ra phương
thức bán hàng tự phục vụ, siêu thị còn sáng tạo ra nghệ thuật trưng bày hàng hóa.
Siêu thị đã nghĩ đến việc nghiên cứu cách thức vận động của người tiêu dùng khi
bước vào cửa hàng, nhằm tối đa hóa hiệu quả của khơng gian bán hàng. Điều đó có
nghĩa là hàng hóa trưng bày trong siêu thị phải có khả năng tự quảng cáo và lơi
cuốn người mua, siêu thị làm được điều này thơng qua các ngun tắc sắp xếp, phân
chia khơng gian, bố trí khu vực thích hợp, trưng bày hàng hóa nhiều khi được nâng
lên thành những thủ thuật nhằm kích thích tiêu dùng cao nhất Ví dụ: Hàng hóa có tỷ
suất lợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí dễ thấy nhất, được trưng bày với
diện tích lớn, những hàng hóa có liên quan với nhau được xếp gần nhau, hàng hóa
có trọng lượng lớn phải xếp bên dưới để khách hàng dễ lấy, định hình phân chia rõ
ràng thành khu vực hàng tạp phẩm, thực phẩm, nơng sản, quần áo, rau quả tươi
sống một cách khoa học, nhằm tạo nên sự thuận tiện cho khách hàng mua hàng hóa
một cách thoải mái và hiệu quả nhất. Bởi vì nghệ thuật trưng bày hàng hóa có ảnh
hưởng rất lớn đối với số lượng hàng hóa bán ra, vì vậy mà các siêu thị đã khai thác
tối đa lợi thế này. Thơng qua việc sắp xếp bố trí hàng hóa, khơng gian, ánh sáng, . . .
. phù hợp với đặc tính của sản phẩm sẽ tạo ra trạng thái hấp dẫn, thu hút khách
hàng, tạo cho khách hàng hình dung và quan sát tốt được hàng hóa. Cũng từ đó dẫn
đến việc thúc đẩy mạnh mẻ hành vi mua hàng hóa của khách hàng.
Hàng hóa bán tại siêu thị: Chủ yếu là hàng hóa tiêu dùng hàng ngày từ lương
thực, thực phẩm, quần áo, giày dép, chất tẩy rửa, hàng vệ sinh, cho đến hàng kim
khí điện máy, hàng điện tử gia dụng. Hàng hóa được trưng bày trên các giá kệ theo
từng chủng loại, giá cả phải chăng và được niêm yết một cách cơng khai rõ ràng, có
hướng dẫn chi tiết về cách thức sử dụng và ghi rõ thời hạn sử dụng.
9
Trang thiết bị và cơ sở vật chất: Siêu thị thường được trang bị cơ sở vật chất
tương đối hiện đại. Ngồi ra hình thức thanh tốn tại các siêu thị rất thuận tiện, hàng
hóa được gắn mã vạch, mã số sau khi khách hàng chọn xong thì được đem ra quầy
tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy qt scanner để ghi giá, tính tiền bằng máy và tự
động in hóa đơn. Tạo cảm giác thoải mái, hài lòng, tự tin và sự thỏa mãn cao nhất
cho người tiêu dùng.
1.1.3. Vị trí và vai trò của siêu thị trong hệ thống phân phối hiện đại:
1.1.3.1. Vị trí của siêu thị:
Theo sơ đồ 1.1 đã trình bày thì siêu thị đóng một vai trò quan trọng trong hệ
thống phân phối hàng tiêu dùng hiện đại, siêu thị được xếp ở vị trí cao hơn cửa hàng
tiện dụng, siêu thị nhỏ và thấp hơn so với đại siêu thị, cửa hàng bách hóa, cửa hàng
đại hạ giá, trung tâm thương mại, cửa hàng chun doanh xét về quy mơ và
phương thức kinh doanh. Tuy nhiên hệ thống siêu thị thường được dùng để chỉ tất
cả các cửa hàng bán lẻ hiện đại áp dụng phương thức kinh doanh tự phục vụ. Khơng
tính đến các nước cơng nghiệp phát triển như Châu âu, Bắc mỹ nơi mà thương mại
hiện đại chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng doanh số bán lẻ tồn xã hội, thì ngay cả
trường hợp của các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia,
Indonesia, . . . thương mại hiện đại cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng
doanh số bán lẻ xã hội.
1.1.3.2. Vai trò của siêu thị:
Sự xuất hiện của siêu thị là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực lưu thơng hàng
hóa, siêu thị đóng vai trò là cầu nối đồng thời cũng giải quyết được rất nhiều mâu
thuẩn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Khi nền kinh tế phát triển thu nhập của
người dân tăng lên, nhu cầu cho tiêu dùng ngày càng đa dạng và phong phú. Nếu
như người tiêu dùng có nhu cầu hàng ngày về nhiều loại hàng hóa với số lượng nhỏ,
thì nhà sản xuất để sản xuất có hiệu quả, bảo đảm lợi nhuận phải sản xuất một hoặc
một số loại hàng hóa với khối lượng lớn. Sản xuất khối lượng lớn với một vài chủng
loại sản phẩm sẽ mâu thuẩn với nhu cầu số lượng nhỏ nhưng chủng loại sản phẩm
lại đa dạng của người tiêu dùng. Hệ thống siêu thị sẽ giải quyết tốt mâu thuẩn này
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét