- Điều tra nhóm 2: 10/45 học sinh lớp 9A3 ( 2008- 2009 ) có 2 cách trả
lời:
Cách 1: Sáng tạo, đúng chỗ
Cách 2: Vận dụng ca dao, có những câu thơ đúc kết những suy ngẫm sâu
sắc.
Những câu trả lời trên chép hoặc dựa vào cuốn “ Để học tốt…” nhưng
không hiểu. Khi giáo viên hỏi “ sáng tạo ở chỗ nào” học sinh không trả lời
được.
c. Điều tra qua thực tế giờ dạy:
* Kiểm tra phần đọc- tóm tắt văn bản.
- Với phần đọc thơ: Đa phần học sinh đọc đúng từ ngữ nhưng còn một
lượng không nhỏ đọc sai từ, sai nhịp điệu nhất là những bài thơ như: Con cò,
Bếp lửa, Nói với con…
- Với tác phẩm truyện: Kiểm tra việc đọc của học sinh và tóm tắt tác
phẩm thì: Có rất nhiều học sinh không trả lời được. Khi được hỏi lí do, 100 %
trả lời “đọc một lần”, “đọc qua”. Thực chất có khi không đọc.
* Kiểm tra bằng cách trả lời câu hỏi hoặc thảo luận.
Học sinh trả lời sơ sài hoặc vụn vặt, diễn đạt không tốt vì thực chất
không được chuẩn bị kĩ. Vì vậy giáo viên dạy rất hay bị thiếu thời gian bởi phải
dừng lại rất lâu để giảng giải cặn kẽ cho học sinh hiểu.
d. Điều tra qua kết quả kiểm tra:
- Kiểm tra miệng: Nếu giáo viên không kiểm tra miệng thường xuyên thì
tỉ lệ không học bài là 60%. Nếu thường xuyên kiểm tra thì tỉ lệ không học bài là
20-25%.
- Kiểm tra 15 phút: Số học sinh hiểu đúng bài không cao.
- Kiểm tra viết 1 tiết: Điểm kiểm tra không đạt kết quả cao, có ít bài viết
được theo cách hiểu sáng tạo, thực tế phụ thuộc văn mẫu hoặc thuộc văn mẫu để
làm bài hợp pháp. Do yêu cầu cho học sinh thi vào 10 và cũng là lương tâm
nghề nghiệp, tôi thấy việc dạy văn quả là vất vả.
Với tất cả thực tế trên, nếu dạy để đạt mục đích yêu cầu: “Phát huy trí
sáng tạo, khả năng độc lập, tư duy…” của học sinh là điều rất khó thực hiện.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
1. Yêu cầu để tạo sự hứng thú cho học sinh trong giờ dạy
Văn đối với người dạy học:
a. Giáo viên dạy văn phải là người luôn tâm huyết với nghề: Luôn trau
dồi, học hỏi đồng nghiệp. Đặc biệt người giáo viên phải có một tâm hồn thực sự
5
rung động trước một tác phẩm văn học, truyền được sự rung động văn chương
đó tới học sinh, tạo hứng thú yêu thích và niềm say mê môn học cho các em.
b. Trong quá trình giảng dạy phải có sự chuẩn bị bài kĩ lưỡng: Kết hợp
tốt các phương pháp trong giờ dạy. Phải thực sự có kĩ năng chuyên môn, có bản
lĩnh vững vàng để là người dẫn dắt, tổ chức học sinh khám phá cái hay, cái đẹp
của mỗi tác phẩm văn học.
c. Phải coi trọng tính chủ động tích cực của học sinh trong việc nhận thức
và cảm thụ tác phẩm văn học: Giáo dục các em lòng hứng thú say mê, yêu thích
học văn, giúp các em tìm tòi cảm nhận tác phẩm một cách chủ động sáng tạo.
Từ đó bồi dưỡng cho các em vốn sống, vốn hiểu biết về con người, về xã hội,
nâng cao đời sống tâm hồn tình cảm cho các em.
2. Các hình thức tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học
Ngữ văn
a. Hệ thống câu hỏi- một yếu tố then chốt tạo nên hứng thú cho học
sinh.
- Trước hết cần đánh giá đúng vai trò của câu hỏi trong giờ dạy học nói
chung và giờ ngữ văn nói riêng: Rõ ràng tư duy con người chỉ bắt đầu từ một
vấn đề hay từ một câu hỏi, từ một sự ngạc nhiên, thắc mắc hay mâu thuẫn. Vì
thế, hệ thống câu hỏi có nhiều thuận lợi để đánh thức, rèn luyện năng lực nhận
thức tư duy của học sinh. Một hệ thống câu hỏi tốt sẽ giúp cho năng lực chủ
quan của học sinh được phát huy. Khi đó việc chiếm lĩnh tri thức, thưởng thức
tác phẩm, hứng thú học tập mới thực sự có được và hiệu quả giảng dạy, học tập
mới thực sự bền lâu.
- Từ cơ sở lí luận đó, tôi đã sử dụng hệ thống câu hỏi trong bài dạy không
chỉ để nhằm mục đích chính: Đánh thức, rèn luyện tư duy nhận thức của học
sinh mà còn dùng nó như một phương tiện để gây hứng thú cho người học. Vậy
để làm được những điều đó, hệ thống câu hỏi ấy phải đạt được những yêu cầu gì
+ Trước hết câu hỏi phải mang “chất văn” để gợi những rung cảm
văn chương góp phần tạo hứng thú cho học sinh: Văn học là bộ môn vừa
mang tính nghệ thuật, vừa mang tính khoa học. Vì vậy, tôi nghĩ rằng hệ thống
câu hỏi trong giờ văn phải mang “ chất văn”, “ chất nghệ thuật”. Với người giáo
viên dạy văn, câu hỏi không chỉ đơn thuần là câu hỏi mà phải là “ nghệ thuật
hỏi”- hỏi để đánh thức tư duy, hỏi để học sinh tự nguyện trả lời, mong muốn
được trả lời. Vậy câu hỏi như thế nào là câu hỏi mang “chất văn” và mang “tính
nghệ thuật”?. Nếu như ở các môn khoa học khác câu hỏi chỉ cần độ chính xác,
sáng rõ, ngắn gọn kiểu như: Vì sao, tại sao, hãy giải thích, hãy chứng minh…
Đó là những kiểu câu hỏi mang tính chất mệnh lệnh thì đối với môn ngữ văn,
6
bên cạnh những yêu cầu về độ chính xác, sáng rõ, ngắn gọn, câu hỏi ấy còn phải
có sự dẫn dắt, có hình ảnh, khơi gợi cảm xúc cho người học.
Ví dụ: Câu hỏi có sự dẫn dắt: Trong bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá”-
Huy Cận, khi cho học sinh tìm hiểu những bức tranh đẹp về thiên nhiên và con
người theo hành trình của đoàn thuyền đánh cá, người dạy hỏi: “ Bài thơ là
những bức tranh đẹp lộng lẫy, lung linh sắc màu, đó là những cảnh nào ?
Câu hỏi khơi gợi cảm xúc: Trong bài thơ “ Sang thu”- Hữu Thỉnh, khi
hướng dẫn học sinh tìm hiểu cảm nhận không gian làng quê sang thu, giáo viên
hỏi: Con người cảm nhận thu sang bắt đầu bằng: Hương ổi- phả vào trong gió
se. Em có cảm nhận và hình dung như thế nào về hình ảnh đó ?
+ Tạo tình huống có vấn đề và cách giải quyết tình huống có vấn đề
thông qua các câu hỏi nêu vấn đề để học sinh được trao đổi, thảo luận là
yếu tố quan trọng trong phát triển hứng thú của học sinh trong giờ ngữ
văn. Theo quan điểm của tôi, tạo tình huống có vấn đề là “điểm nhấn” để thu
hút học sinh trong giờ học. Bởi lẽ, bản chất của câu hỏi nêu vấn đề là “mảnh đất
màu mỡ” để khơi gợi năng lực tư duy, là địa điểm để các em gặp gỡ các quan
điểm, ý kiến của cá nhân thông qua hình thức trao đổi, thảo luận. Bằng cách
này, giáo viên đã tạo ra được không khí tích cực trong giờ dạy. Bên cạnh đó, xét
về mặt tâm lí lứa tuổi, ở độ tuổi này, các em rất thích được tự khẳng định mình,
mong muốn được bày tỏ ý kiến cá nhân và được ghi nhận. Sau mỗi câu trả lời,
học sinh được cô động viên, khuyến khích thì các em rất hào hứng.
Tôi xin đưa ra một ví dụ về việc tạo tình huống có vấn đề như sau:
Trong văn bản: “ Chiếc lược ngà”- Nguyễn Quang Sáng, khi cho học sinh
tìm hiểu, phân tích thái độ bé Thu với ông Sáu, tôi cho học sinh khai thác điểm
nhấn tình huống của truyện bằng cách nêu vấn đề: “ Có ý kiến cho rằng: Khi bé
Thu hất miếng trứng cá ra khỏi bát là lúc em ghét ông Sáu nhất và cũng là lúc
em yêu ông Sáu nhất. Ý kiến của em như thế nào ?”
Rõ ràng đây là một câu hỏi khó, bởi lẽ để trả lời được câu hỏi này học
sinh phải là người có khả năng đi sâu vào thế giới tâm lí nhân vật thì mới có thể
hiểu được tâm trạng, cảm xúc, vừa mâu thuẫn, vừa nhất quán trong lòng bé Thu.
Song cũng chính từ câu hỏi khó này, mà học sinh của tôi hào hứng chinh phục
nó. Mỗi em góp một ý kiến. Có những câu trả lời thật sâu sắc ( của học sinh
giỏi), cũng có những câu trả lời thật ngô nghê ( của học sinh trung bình, yếu).
Sau các ý kiến đó tôi ghi nhận, đánh giá và đưa ra câu trả lời đầy đủ nhất, cả lớp
học lặng im, chú ý nghe giảng. Nhìn gương mặt của các em khi đó tôi thiết
nghĩ: Các em rất hứng thú với giờ học của mình rồi.Thậm chí tạo vấn đề để thảo
luận VD: So sánh hình ảnh cái bóng ở 2 văn bản Chuyện người con gái Nam
Xương và Chiếc lược ngà, nêu ý nghĩa nghệ thuật của 2 hình ảnh này?
7
+ Xây dựng hệ thống câu hỏi tối ưu cho giờ dạy- một cách duy trì
hứng thú cho học sinh.
Như trên đã nói về vai trò quan trọng của hệ thống câu hỏi trong giờ dạy
là để đánh thức, rèn luyện tư duy nhận thức của học sinh. Bên cạnh đó một hệ
thống câu hỏi tốt sẽ duy trì hứng thú của học sinh như thế nào? Nhận thức của
học sinh là một quá trình, hứng thú của học sinh cũng là cả một quá trình. Do
đó, để duy trì được quá trình đó thì câu hỏi không được tùy tiện, nó phải được
xây dựng thành một hệ thống logic có tính toán. Giáo viên phải dẫn dắt câu hỏi
từ mức độ thấp đến mức độ cao. Có thế, cả lớp mới thực sự được làm việc và
mới có hứng thú trong giờ học. Hệ thống câu hỏi phải từ quan sát đến phát hiện,
phân tích, từ phân tích đến nhận xét, đánh giá một cách riêng lẻ đến nhận xét
đánh giá ở phạm vi rộng hơn, khái quát hơn, nhằm giúp học sinh từng bước đi
sâu vào tác phẩm như một chỉnh thể.
Ngoài yêu cầu về hệ thống câu hỏi tối ưu, còn phải đạt các tiêu chuẩn
khác như: Câu hỏi chính xác, rõ ràng, có khả năng gợi tình cảm, xúc động thẩm
mỹ cho học sinh. Nên sử dụng phong phú các loại câu hỏi: Câu hỏi phát hiện,
câu hỏi giải thích, câu hỏi phân tích, câu hỏi so sánh, câu hỏi giảng bình, câu
hỏi gợi liên tưởng, tưởng tượng, câu hỏi nêu vấn đề… Ngoài ra cần có sự kết
hợp cân đối giữa các loại câu hỏi cụ thể và loại câu hỏi tổng hợp.
Thực tế giảng dạy đã cho thấy việc đặt hệ thống câu hỏi tối ưu đã giúp
học sinh tham gia tích cực, chủ động vào bài giảng, buộc học sinh phải suy nghĩ
tập trung vào vấn đề giáo viên hỏi để tìm tòi, khám phá, từng bước hiểu và cảm
thụ đúng tác phẩm. Và như thế có “hiểu”, có “cảm” được tác phẩm thì mới tạo
ra hứng thú cho các em.
b. Sáng tạo trong bài giảng – một cách gây hứng thú cho học sinh:
- Như chúng ta đã biết văn học là một bộ môn vừa mang tích khoa học,
vừa mang tính nghệ thuật. Ngoài tính chính xác của khoa học thì tính nghệ thuật
của bộ môn này được thể hiện qua cách tổ chức giờ dạy. Một giờ dạy văn không
hề có một công thức nhất định, các giờ dạy không phải nhất nhất dập khuôn
giống nhau. Nếu quan niệm như vậy thì giờ dạy văn sẽ trở nên cứng nhắc khô
khan, gượng ép và như thế sao có thể tạo hứng thú với học trò.
- Vậy để cho giờ văn mang tính nghệ thuật đồng nghĩa với việc người
giáo vên phải biết sáng tạo, luôn làm mới giờ dạy để mỗi giờ học là những “bí
mật” thú vị mà học sinh muốn khám phá. Qua kinh nghiệm giảng dạy, tôi thấy
có rất nhiều cách để sáng tạo bài giảng.
8
+ Sáng tạo trong cách đặt vấn đề: Giới thiệu bài mới.
Đây là hoạt động đầu tiên cho việc dạy bài mới. Nhưng ở hoạt động này
người dạy thường hay xem nhẹ, thậm chí nhiều giáo viên còn bỏ qua nó. Có
những thầy cô đơn giản hóa lời giới thiệu bài mới bằng điệp khúc muôn thủa:
“ Tiết trước chúng ta học bài… hôm nay chúng ta vào bài mới…”.Chính
sự thờ ơ của một số giáo viên trong lời giới thiệu bài đã phần nào làm giảm đi
hứng thú học của học trò. Với tôi, giới thiệu bài là một việc làm rất quan trọng
và không thể thiếu bởi nó như một lời chào, là lời “dạo nhạc” cho “khúc nhạc
bài giảng”. Làm tốt được điều đó sẽ tạo tâm thế cho giờ dạy, tạo hứng thú cho
học sinh.
Vậy đặt vấn đề như thế nào để có hiệu quả, rõ ràng, không thể áp dụng
một cách máy móc lời giới thiệu cho tất cả các tiết dạy. Muốn có lời giới thiệu
hay, hấp dẫn, người dạy phải suy nghĩ đầu tư để lời giới thiệu vừa bám sát nội
dung bài học, vừa tạo sự bất ngờ với học sinh. Có nhiều cách để giới thiệu: Từ
cách cổ điển thông dụng như: Thuyết giảng giới thiệu đến đặt câu hỏi tạo tình
huống để dẫn dắt, ta còn có thể vận dụng các phương tiện hiện đại, đồ dùng dạy
học như: Xem tranh ảnh, phim, nghe nhạc… Chính những cách vào bài mới mẻ
như thế luôn luôn là tâm điểm gây được sự chú ý, hứng thú cho học sinh, tạo
tâm thế tốt cho tiết dạy.
+ Sáng tạo trong cách tổ chức dạy học, nội dung bài giảng
Như trên đã trình bày, một giờ dạy văn không có một công thức nhất
định. Người dạy khi soạn bài phải luôn tìm tòi ra cách tổ chức dạy học phù hợp
nhất với tiết dạy đó. Ở bài này là hình thức truyền thống: cô phát vấn, trò phát
hiện, ở bài kia lại là hình thức trao đổi, đối thoại qua các mô hình thảo luận
nhóm, lại có những bài người giáo viên mạnh dạn cho học sinh tự tìm hiểu, sưu
tầm, nghiên cứu trước ở nhà rồi đến lớp thảo luận, trao đổi…
Việc đưa ra mô hình học- chơi, chơi- học cũng là một sáng tạo trong tổ
chức giờ dạy có hiệu quả thông qua các trò chơi như: Giải đáp ô chữ, điền sơ đồ
câu, thi tiếp sức… giờ học sẽ trở nên hào hứng, sôi nổi, kiến thức được khắc
sâu một cách nhẹ nhàng.
Ngoài sáng tạo trong việc tổ chức dạy học thì sáng tạo trong nội dung bài
giảng cũng là một yếu tố quan trọng để gây hứng thú cho học sinh. Nội dung
của cô giáo phải phong phú, kiến thức phải chính xác, sâu rộng. Trong thực tế
giảng dạy, tôi đã đúc rút được kinh nghiệm này rất nhiều.
Ví dụ: Khi dạy bài “ Truyện Kiều”- Nguyễn Du, tôi có cách tóm tắt cốt
truyện bằng sơ đồ sau:
9
Gặp gỡ và đính ước
*
Đoàn tụ
*
Từ Hải
Gia đình* Thúc Sinh Giác Duyên *
Gia biến * * * Cứu *
thoát
Mã Giám Sinh- Tú Bà*
Tự tử lần 1* Bạc*
Hạnh
Lầu xanh 1*
Hoạn Thư*
Lầu xanh 2*
Hồ Tôn Hiến*
Tự tử lần 2*
15 năm lưu lạc
Nhìn vào sơ đồ, học sinh dễ dàng hình dung toàn bộ diễn biến cốt truyện,
nhân vật và đặc biệt là những biến cố lớn trong cuộc đời của Kiều. Với hình
thức trên, tôi đã thực sự cải tiến bài giảng của mình. Ở mỗi biến cố, tôi biểu thị
trên sơ đồ bằng (*), rồi tôi chọn lọc những câu Kiều hay, tiêu biểu để minh họa.
Chính những dấu hiệu đường đi lên và xuống trong sơ đồ cùng những câu Kiều
tương ứng đã chứng tỏ những điều bất hạnh mà Kiều gặp phải trên đường đời
15 năm lưu lạc. Với cách tóm tắt như vậy sẽ khiến học sinh dễ thuộc, dễ nhớ tác
phẩm. Các em hiểu tác phẩm và đặc biệt là tiếp nhận một cách hào hứng.
c. Hứng thú từ việc tạo một không khí văn chương cho giờ dạy giảng
văn.
Muốn thu hút được sự chú ý của học sinh, giáo viên phải tạo được không
khí văn chương trong giảng văn. Chính nhờ có không khí nghệ thuật ấy mà học
sinh cảm nhận được cái hồn của tác phẩm, hòa tâm hồn mình đồng điệu với tác
giả, tác phẩm thì nhất định giờ văn ấy sẽ thành công. Để làm được điều đó, tôi
chú ý vào mấy vấn đề sau:
- Giới thiệu bài mới: Việc làm này nhất thiết phải có và phải được đầu
tư thích đáng. Vai trò của việc giới thiệu bài mới đã được tôi đề cập ở phần trên.
Bằng giọng nói truyền cảm, người giáo viên qua phần giới thiệu bài sẽ dẫn các
10
em vào một tác phẩm có hiệu quả, tạo dựng được không khí văn chương, thu
hút được sự chú ý của học sinh vào bài giảng
- Đọc diễn cảm: Đây là một khâu quan trọng trong giờ dạy giảng văn vì
đọc trong văn là đặc trưng phương pháp giảng dạy văn đồng thời đọc diễn cảm
cũng là cách tốt để tạo ra không khí văn chương cho giờ học.
Trong khâu đọc tác phẩm giáo viên cần chú trọng đến việc hướng dẫn học sinh
cách đọc sao cho đúng cho hay. Vì đây là công việc quan trọng để giúp học sinh
cảm thụ tác phẩm về mặt cảm tính, là chiếc cầu nối cho việc đi sâu vào hình
tượng văn học.
Đối với giáo viên, đọc mẫu và hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm là bước
đầu tiên để phân tích tác phẩm ở giai đoạn trực quan sinh động có tác dụng
khêu gợi tưởng tượng, óc liên tưởng, cảm xúc rất cần thiết cho khâu bình giảng,
phân tích tác phẩm. Học sinh đọc tốt là bước đầu cảm thụ văn bản. Cô đọc tốt,
trò đọc tốt chính là một cách để gợi hứng thú cho việc tìm hiểu tác phẩm
Để việc đọc có hiệu quả tôi thường chú ý vào mấy điểm sau:
* Đọc đúng: Đọc chính xác ngôn từ, câu văn, đúng với nội dung cảm
xúc của từng đoạn, từng văn bản, đúng với từng thể loại…
* Đọc hay: Đọc to, rõ, mạch lạc, đọc truyền cảm, đọc sáng tạo…
Ngoài ra tôi luôn cố gắng sáng tạo ra cách đọc sao cho không bị dập
khuôn, tránh đơn điệu.
Ví dụ: Ở văn bản tự sự có nhiều lời thoại, tôi cho học sinh đọc phân vai.
Ở văn bản trữ tình trung đại hoặc hiện đại được viết bằng chữ Hán, tôi cho học
sinh đọc cả ba phần: Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ cùng một lúc bằng cách:
Học sinh thứ nhất đọc câu 1 phần phiên âm, học sinh thứ hai đọc câu 1 phần
dịch nghĩa, học sinh thứ ba đọc câu 1 phần dịch thơ. Cứ như thế cho đến khi hết
bài. Nhờ có cách đọc sáng tạo ấy mà học sinh có thể nhớ và so sánh ngay được
phần phiên âm và phần dịch thơ, đối chiếu xem phần dịch thơ đã sát chưa, đồng
thời tạo ra sự hứng thú cho cả lớp.
- Thuyết giảng, bình giảng: Tôi thường nghĩ: Dạy văn khác với dạy các
bộ môn khác bởi vì người dạy văn phải là người biết tìm tòi, biết khám phá,
rung động với cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương. Ngôn ngữ của thầy có
tác dụng sâu sắc đối với việc truyền thụ kiến thức và giáo dục tư tưởng, tình
cảm, giáo dục thẩm mĩ cho học sinh. Ngôn ngữ trong sáng, chính xác, biểu cảm
của thầy sẽ có tác dụng đến nhận thức, đến đạo lí, đến kĩ năng nói và suy nghĩ
của học sinh. Vì thế ở khâu thuyết giảng, bình giảng ( đặc biệt là những điểm
“sáng” của bài ), tôi luôn có một sự đầu tư thích đáng. Điều đó góp phần không
nhỏ tạo sự hứng thú của học sinh trong giờ văn.
11
Ví dụ: Khi dạy bài thơ “ Sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh, sau khi giúp
học sinh tìm hiểu xong ý nghĩa của những hình ảnh thơ trong hai câu thơ đầu,
tôi đã khắc sâu bằng những lời bình giảng ngắn gọn và cô đọng: “ Một chút
ngập ngừng hương ổi trong cơn gió đầu mùa. Cái ấm và cái lạnh giao nhau. Còn
gì ấm áp nồng nàn bằng hương hoa vườn tược, với trái ngọt mùa màng ? Nó
đánh thức tuổi thơ, nó xôn xao hoài niệm. Đột ngột và trẻ trung, câu thơ mang
lại hai tầng nghĩa: Tầng thứ nhất là từ những gì nhận thấy ( hướng ngoại ), tầng
thứ hai là những gì cảm thấy tự thân ( hướng nội ). Nhưng một thứ hương ổi
hào phóng vô tư bỗng vì sao chững lại ở ngay câu sau đó: “ Phả vào trong gió
se” ? Vì mùa hạ đã lặn hết quả ngọt, đã dâng hiến hết mình Cơn gió bây giờ
chỉ còn xào xạc hắt hiu. Nó se lạnh, hao gầy. Trạng thái phân đôi là tất yếu. Hai
câu thơ như một thoáng chốc bâng khuâng. Sự bối rối tràn cả sang câu dưới…”
Quả thật, những lời bình giảng của giáo viên đã nâng cánh tâm hồn các em,
giúp các em không chỉ hiểu mà còn cảm nhận sâu sắc tác phẩm và thu hút hứng
thú học tập.
d. Dạy học bằng sự đa dạng các phương pháp- một cách “ làm mới”
gây hứng thú cho học sinh.
Để một giờ học thành công trong việc đạt được những mục tiêu đề ra và
thực sự tạo được hứng thú tích cực, chủ động cho học trò có rất nhiều con
đường, nhiều cách thức. Tôi cũng sử dụng thêm công cụ tư duy Mind map vào
dạy học
* Ứng dụng công cụ MindMap vào dạy học
Để xác định chính xác hình ảnh chủ đề và vị trí các đường kẻ, người giáo
viên phải có kĩ năng phân tích chương trình học phần. Dựa vào mục tiêu đào tạo
của nhà trường, mục tiêu của nghành học, mục tiêu của học phần, mục tiêu của
từng chương bài người dạy xác định kiến thức trọng tâm, kiến thức bậc một, bậc
hai…của từng vấn đề, từng chương và toàn học phần. Như vậy khi dạy học
người dạy không chỉ sử dụng bản đồ tư duy để truyền đạt kiến thức mà còn
hướng dẫn học sinh lập bản đồ tư duy tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức được
thu nhận.
Sau đây là những bản đồ tư duy mà tôi đã sử dụng trong quá trình dạy
học:
- Sử dụng phần mềm Mindjet MindManeger
- Các dạng bản đồ của David Hyerle
12
+ Bản đồ cây (dùng trong phân loại và phân nhóm)
- Bóng đồ
Đối với dạng bóng đồ này khi tôi yêu cầu học sinh viết bài tự luận dài
hoặc đoạn văn về bất kể nhân vật gì học sinh có trình độ cảm thụ văn không cao
cũng có thể nhận xét và viết được những nét cơ bản nhất về nhân vật. VD:
Nhân vật Nhĩ (Bến Quê của Nguyễn Minh Châu), Ông Hai ( Làng của Kim
Lân )…
VĂN BẢN
KHÁI NIỆM CẤU TRÚC
NGÔN TỪ HÌNH TƯỢNG Ý NGHĨA
NGỮ ÂM
NGỮ NGHĨA
NGỮ CẢNH
KHÁCH THỂ ĐỜI
SÔNG
TÍNH KHÁI
QUÁT HÓA
TÍNH CÁ THỂ
HÓA
Ý THỨC NGƯỜI
ĐỌC
TẦM TIẾP NHẬN
CỦA NGƯỜI ĐỌC
Số phận
Tính cách
Nội tâm Ngôn ngữ
Hành động
Ngoại hình
Tên
Nhân vật
văn học
13
- Double Bản đồ (Dùng trong so sánh )
Dạng bản đồ này có thể giúp học sinh tư duy một cách khá toàn diện về
các tác phẩm đã học, biết đối chiếu so sánh các thể loại văn học, hoặc các tác
phẩm với nhau mà vẫn đảm bảo kiến thức toàn diện của từng thể loại.
- Bản đồ xác định trình tự và thứ tự
- Bản đồ phân tích nguyên nhân hệ quả:
Nhâ
n vật
Sự
kiện
Xung
đột
Truyện
Kịch
Miêu
tả
Trần
thuật
Sân
khấu
Kịch
tính
14
Văn học Việt
Nam X-XIV
Văn học Việt Nam
XV-XII
Văn học Việt
Nam XVIII-
nửa đầu XIX
Văn học Việt
Nam nửa cuối
XIX- đầu XX
Văn học Việt
Nam 1900 -
1930
Văn học Việt
Nam 1930 -
1945
Văn học Việt
Nam X-XIV
Văn học Việt
Nam 1945
-1975
Văn học Việt
Nam 1975 -nay
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét