Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Phát triển kinh tế miền Tây tỉnh Nghệ An từ 2001 - 2007. Thực trạng và giải pháp.

Chuyªn ®Ò thùc tËp
Do yếu tố nguồn lực nên phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong
chuyên đề bị giới hạn. Do đó nguồn tư liệu thu được phần nào cũng bị hạn chế.
Sinh viên cũng bị giới hạn bởi kiến thức nghiên cứu nên chuyên đề còn có nhiều
điểm cần bổ sung và sửa chữa, đặc biệt là mặt phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu.
8) Kết cấu của luận văn.
Chương I: Sự cần thiết phát triển kinh tế miền Tây Nghệ An.
Chương II: Thực trạng phát triển kinh tê miền Tây Nghệ An giai đoạn
2001-2007.
Chương II: Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế miền Tây Nghệ An
đến năm 2015.

5
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Chương I- Sự cần thiết phải phát triển kinh tế miền Tây
tỉnh Nghệ An
I- Tổng quan về tỉnh Nghệ An.
1) Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên tỉnh Nghệ An.
1.1. Điều kiện tự nhiên.
1.1.1 Vị trí địa lý.
Tỉnh Nghệ An thuộc Bắc Trung Bộ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Toạ độ địa lý từ 18
o
33'10" đến 19
o
24'43" vĩ độ Bắc và từ 103
o
52'53"
đến 105
o
45'50" kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá với đường biên dài 196,13 km.
Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh với đường biên dài 92,6 km.
Phía Đông giáp với biển Đông với bờ biển dài 82 km.
Phía Tây giáp nước bạn Lào với đường biên dài 419 km.
Diện tích đất tự nhiên 1.648.729 ha
Dân số năm 2007: 3.121 triệu người, mật độ dân số trung bình là 190
người/ Km
2

Tỉnh Nghệ An có một thành phố loại 2, một thị xã và 17 huyện: Thành
phố Vinh; thị xã Cửa Lò; 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, Hưng
Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành; 10 huyện miền núi:
Thanh Chương, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế
Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn.
1.1.2 Địa hình
Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn. Địa hình đa dạng, phức
tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ Tây -
Bắc xuống Đông - Nam. Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở
huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu,
Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh
6
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Thanh huyện Quỳnh Lưu). Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn
tỉnh tập trung ở miền Tây tỉnh.
Theo đặc điểm phân bố, địa hình của tỉnh có thể chia thành ba vùng:
vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng.
+ Vùng đồng bằng: Đặc điểm của đồng bằng Nghệ An không tập trung
thành vùng lớn mà bị chia cắt thành vùng nhỏ bởi các dãy đồi, mỗi khu vực
có những nét riêng về sự hình thành, độ cao cũng như mặt bằng.
+ Vùng đồi: là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi và vùng đồng bằng, bao
gồm các huyện Anh Sơn, Thanh Chương và một phần của huyện Nam Đàn,
Nghi Lộc, Đô Lương, Yên Thành, Quỳnh Lưu. Đặc điểm chung của vùng là đồi
thấp, đỉnh bằng, sườn thoải, xen kẽ còn có thung lũng rộng.
.+ Vùng núi: Phân bố tập trung trên diện rộng, ở các huyện phía Tây của
tỉnh. Gồm nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Đây là
vùng có nhiều đỉnh núi cao trên 1000m, địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh,
độ dốc hai bên sườn núi lớn, phần nhiều từ 40-50
o
.
Nhìn chung Nghệ An là một tỉnh có nhiều đồi núi (chiếm 83,4%) diện tích tự
nhiên, địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh. Điều kiện địa hình đã tạo cho Nghệ
An một thiên nhiên hùng vĩ, đa dạng. Nhưng cũng gây ra những hạn chế không
nhỏ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là những vùng cao, vùng sâu.
1.1.3 Thời tiết khí hậu
Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm khí hậu chia làm
hai mùa: mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa. Nghệ An là
tỉnh có lượng mưa trung bình so với các tỉnh khác ở miền Bắc. Tỉnh chịu ảnh
hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió phơn Tây Nam và gió mùa Đông Bắc.Gió
phơn Tây Nam thường xuất hiện vào các tháng bẩy và tháng tám bình quân mỗi
năm có khoảng 20 – 30 ngày, các tbung lũng phía Tây chịu ảnh hưởng nhiều
hơn từ 40 – 50 ngày, gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa đông từ
tháng mười đến tháng tư năm sau.
7
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Bên cạnh đó, Nghệ An là một tỉnh chịu ảnh hưởng nhiều của bão, áp thấp
nhiệt đới và sương muối. Trung bình mỗi năm tỉnh chịu từ 2-3 cơn bão, mùa bão
thường vào tháng 8-10, bão kèm theo mưa lớn cùng với sự tàn phá của sức gió
đã gây ra lũ lụt và nhiều thiệt hại lớn. Đặc biệt các huyện miền Tây tỉnh vào mùa
mưa thường xảy ra lũ quét ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân.
1.1.4 Sông ngòi
Tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là
0,7 km/Km
2
Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường
Pẹc tỉnh Xieng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có
chiều dài là 361 km, diện tích lưu vực 27.200 Km
2


(riêng ở Nghệ An là 17.730
Km
2
. Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m
3
trong đó 14.109 là nước
mặn. Nhìn chung nguồn nước khá dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất và phục vụ
cho đời sống sinh hoạt của nhân dân.
1.1.5 Biển, bờ biển.
Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40 m trở vào nói chung đáy
biển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát.
Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao.
Bãi biển Của Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn, đó là lợi thế cho
việc phát triển ngành du lịch.
1.2. Tài nguyên thiên nhiên.
1.2.1 Tài nguyên đất:
Tổng quỹ đất đã sử dụng là 1.276.417 ha/ tổng diện tích đất tự nhiên là
1.648.729 ha, chiếm 77,4% diện tích đất tự nhiên. Trong đó đất nông nghiệp
trên 249.638 ha chiếm 15,2%, đất lâm nghiệp là 906.650 ha chiếm 55,2%,
đất phi nông nghiệp trên 113.500 ha chiếm 7%.
Quỹ đất chưa sử dụng còn trên 372.312 ha chiếm 22,6% diện tích tự
nhiên, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc. Khả năng có thể khai thác đưa vào sử
8
Chuyªn ®Ò thùc tËp
dụng sản xuất nông nghiệp trồng cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và cây
ăn quả 20-30 ngàn ha, lâm nghiệp trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ, tái sinh
rừng trên 200 ngàn ha (phần lớn tập trung ở các huyện miền núi vùng Tây
Nam Nghệ An).
1.2.2 Tài nguyên rừng.
Tổng diện tích đất có rừng trên 685.000 ha, trong đó rừng phòng hộ trên
320.000 ha, rừng đặc dụng gần 188.000 ha, rừng kinh tế trên 176.000 ha
Tổng trữ lượng gỗ trên 50 triệu m
3
; nứa, mét 1.050 triệu cây. Trong đó trữ
lượng rừng gỗ kinh tế gần 8 triệu m
3
; nứa 415 triệu cây; mét 19 triệu cây.
Khả năng khai thác gỗ rừng tự nhiên hàng năm 19-20 ngàn m
3
; gỗ rừng trồng
là 55-60 ngàn m
3
; nứa khoảng 40 triệu cây; mét 3-4 triệu cây. Ngoài ra còn có
các loại lâm sản: song, mây, dược liệu tự nhiên phong phú để phát triển các
mặt hàng xuất khẩu.
1.2.3 Tài nguyên biển:
Nghệ An có bờ biển dài 82 km, dọc biển có 6 cửa lạch độ sâu từ 1 đến
3.5 m thuận lợi cho tàu thuyền ra vào.
Nguồn lợi hải sản trong khu vực khá phong phú, có nhiều loại có giá trị
cao như: cá Chim, Thu, tôm, mực; hàng năm sản lượng khai thác đạt từ
20.000-25.000 tấn.
Về du lịch biển: tài nguyên du lịch là một ưu thế lớn của vùng biển Nghệ
An. Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi biển đẹp của Miền Bắc; cùng với
cảnh quan kỳ thú của vùng biển, bờ biển tạo cho khu vực Cửa Lò có tiềm
năng rất lớn để phát triển du lịch biển.
1.2.4 Tài nguyên khoáng sản:
Đa dạng, phong phú trong đó có nhiều loại khoáng sản quý hiếm như
vàng, đá quý rubi, thiếc, đá trắng, đá granit, đá bazan Loại khoáng sản có
điều kiện phát triển với quy mô lớn gắn với thị trường là: Đá vôi có trữ lượng
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp
trên 1 tỷ m
3
. Tổng trữ lượng đá trắng có trên 100 triệu m
3
. Tổng trữ lượng đá
xây dựng trên 1 tỷ m
3
. Đá bazan trữ lượng trên 360 triệu m
3
; Thiếc Quỳ Hợp
trữ lượng trên 70.000 tấn; nước khoáng Bản Khạng trữ lượng lớn, chất lượng
tốt; ngoài ra còn có một số khoáng sản khác như than bùn, sản xuất phân vi
sinh, quặng Măng gan; muối sản xuất sô đa v.v là nguồn nguyên liệu để
phát triển các ngành công nghiệp: vật liệu xây dựng, hoá chất, phân bón, công
nghiệp hàng tiêu dùng và xuất khẩu.
1.2.5 Tài nguyên nước:
Nghệ An có nguồn nước mặt dồi dào (trên 30 tỷ m
3
) do lượng mưa bình
quân hàng năm lớn (từ 1.800 mm đến 2.000 mm) thuận lợi cho phát triển sản
xuất, dân sinh kinh tế.Hệ thống sông ngòi phân bố dày đặc (mật độ lên tới
0,6-0,7 km/km
2
). Lớn nhất là sông Cả với lưu vực chiếm 80% diện tích tự
nhiên. Có 117 thác lớn nhỏ có khả năng xây dựng thuỷ điện trong đó có thác
Bản Lả xây dựng nhà máy thuỷ điện Bản Vẽ công suất 300MW, đã được khởi
công năm 2005 và phát điện vào quý 1 năm 2009.
2) Dân cư và nguồn nhân lực tỉnh Nghệ An.
Dân số tỉnh Nghệ An khoảng 3,121 triệu người. Tỉ lệ dân số dưới 14 tuổi
chiếm 40%, từ 15-59 tuổi chiếm 54%, trên 60 tuổi chiếm 6% (là tỉnh có tỷ lệ
dân số trẻ lớn so với các tỉnh trong cả nước).
+ Trình độ dân trí từng bước được nâng cao. Toàn tỉnh đã phổ cập tiểu học
và xoá mù chữ từ năm 1998, đang phấn đấu phổ cập trung học cơ sở.
+ Nguồn lao động dồi dào, trên 1,6 triệu người. Trong đó làm việc trong
các ngành kinh tế là trên 1,5 triệu người. Hàng năm nguồn lao động được bổ
sung trên 3 vạn người.
+ Tỷ lệ lao động được đào tạo là 34%. Toàn tỉnh hiện có 115 tiến sỹ, trên
400 thạc sỹ, trên 30.000 người có trình độ đại học, trên 20.000 người có trình độ
cao đẳng, trên 70.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp.
10
Chuyªn ®Ò thùc tËp
+ Thu nhập bình quân đầu người của cả tỉnh năm 2007 là 7,327 triệu/người/
năm.
3) Tình hình kinh tế tỉnh Nghệ An.
3.1. Tăng trưởng kinh tế.
Tốc độ tăng GDP của tỉnh năm 2007 là 10,5%, so với tốc độ tăng trưởng
của cả nước là 8,47%. GDP toàn tỉnh đạt 12.610 tỷ đồng so với GDP của cả
nước là 1706,83 nghìn tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh
trong giai đoạn 2001-2007 là 11,8% so với cả nước là 7,8%.
Bảng .11:Tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá so sánh năm 1994
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
GDP trong tỉnh 6901 7654 8523 9386 10292 11476 12610
Nguồn: Niên gián thống kê năm 2006 và báo cáo phát triển kinh tế tỉnh
Nghệ An năm 2007.
- Về nông nghiệp: Trong những năm qua, ngành nông nghiệp phát triển
tương đối toàn diện, từng bước phà thế độc canh, tăng nhanh nông sản
hàng hoá cho chề biến và xuất khẩu.
+ Cây lúa hàng năm tuy tổng diện tích vẫn ổn định ở mức 18,5-18,7 vạn ha,
nhưng năng suất hàng năm tăng từ 40,34 tạ/ha năm 2000 lên 40,51 tạ/ha năm
2003, năm 2007 là 54,9 tạ/ha . Các cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây
công nghiệp dài ngày tăng cả về diện tích và sản lượng, làm cơ sở hình thành
vùng cây công nghiệp tập trung gắn với công nghiệp chề biến.
+ Chăn nuôi tiếp tục phát triển, tăng khá cả về số lượng và chất lượng.
Đến năm 2007 đàn trâu bò: 737.535 con, đàn lợn: 1.182.885 con.
+ Về lâm nghiệp: rừng của Nghệ An là tài nguyên có ý nghĩa không chỉ
trong tỉnh, trong vùng mà còn cả nước. Trong những năm qua tỉnh đã có nhiều
biện pháp nhằm bảo vệ vốn rừng hiện có (thực hiện tốt việc giao đất, khoán rừng
ổn định và lâu dài cho hộ nông dân gắn với công tác định canh định cư, hoàn
11
Chuyªn ®Ò thùc tËp
thành quy hoạch 3 loại rừng), đồng thời đẩy mạnh khoanh nuôi tái sinh và trồng
mới rừng từ 35,75% năm 1995 lên 43% năm 2003. năm 2007 trồng mới trên
9.000 ha rừng nâng độ che phủ rừng lên 49%.
+ Về ngư nghiệp: nuôi trồng thuỷ sản có những bước phát triển tích cực cả
về số lượng và chất lượng: nuôi tôm, cua nước lợ ven biển, nuôi cá lồng trên
sông, nuôi cá nước ngọt ở các ao hồ, ruộng lúa.v.v Toàn tỉnh đã khai thác nuôi
trồng gần 3.252 ha (trong đó trên 1.100ha mặt nước mặn, lợ ven biển). Đưa diện
tích nuôi tôm cao sản lên trên 950 ha, diện tích nuôi cá nước ngọt lên 16.000 ha.
Đầu tư các cơ sở sản xuất giống tôm, cua, các loại giống thủy sản khác và cơ sở
chế biến thức ăn thủy sản. Năm 2007 sản xuất được 480 – 500 triệu con cá
giống, 200 triệu con tôm giống. Và giá trị kim ngạch xuất khẩu hải sản lên 20
triệu USD. Phương tiện đánh bắt hải sản tăng làm sản lượng đánh bắt không
ngừng tăng lên (năm 1995 là 2 vạn tấn, đến năm 2003 là 2,9 vạn tấn).
Sản xuất nông nghiệp: sản lượng lương thực đạt 1,053 triệu tấn.chăn nuôi
nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng (53.176 tấn lạc, 76.577 tấn thuỷ sản ).
Bảng 1. 2:Giá sản xuất nông, lâm, thủy sản tỉnh Nghệ An giai đoạn 2001 -2007
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Nông nghiệp 4,53 5,13 5,47 7,03 7,44 7,9 8,3
Lâm nghiệp 0,86 0,85 0,95 0,92 0,94 0,98 0,99
Thủy sản 0,38 0,5 0,56 0,62 0,74 0,78 0,82
Nguồn: Sở thống kê tỉnh Nghệ An năm 2006 và báo cáo tình hình kinh tế xã hội
tỉnh Nghệ An năm 2007
- Sản xuất công nghiệp – xây dựng:Công nghiệp Nghệ An trong những năm
qua đã có những bước phát triển nhất định, hình thành cơ cấu đa ngành: cơ khí,
luyện kim, hoá chất, dệt may, thuộc da, khai thác khoáng sản, chế biến nông sản,
vật liệu xây dựng…đã góp phần vào khai thác lợi thế và phục vụ một số nhu cầu
sản xuất và đời sống. Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng đạt 11.583 tỷ đồng
12
Chuyªn ®Ò thùc tËp
tăng 18,24% so với năm 2006. tính riêng GTSX công nghiệp đạt 5.710 tỷ đồng
tăng 17,5% so với năm 2006.
Trong đó sản xuất xi măng đạt 16-16,5 triệu tấn (Nhà máy Hoàng Mai:
1,4 triệu tấn; nhà máy 12/9 Anh Sơn: 8,5 triệu tấn, Cầu Đước 7 vạn tấn). Nhà
máy dầu thực vật là 20.000 tấn, nhà máy ôtô Trường Sơn sản xuất được trên
1000 chiếc, ….
Hiện nay tỉnh đã hình thành cơ cấu công nghiệp nhiều thành phần. Công
nghiệp quốc doanh trong một số lĩnh vực đã phát huy tác dụng tốt. Công
nghiệp ngoài quốc doanh phát triển khá, đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh
tế khác cùng phát triển. Tuy nhiên, đến nay công nghiệp tỉnh Nghệ An cũng
chỉ xếp vào loại trung bình của cả nước, chưa tương xứng với tiềm năng và
lợi thế của tỉnh.
Công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ chỗ
không đáng kể, đến nay số vốn đăng ký trên 250 triệu USD. Giá trị sản xuất công
nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tỷ trọng ngày càng lớn.
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển nhưng tiềm năng
trong tỉnh còn lớn. Lực lượng kinh tế ngoài quốc doanh từ lâu đã có thế mạnh;
từ việc năng động trong cơ chế thị trường, nhanh nhạy tiếp thu công nghệ
mới. Và chính sách đổi mới của nhà nước khuyến khích nên phát triển mạnh
mẽ với nhiều hình thức tổ chức. Điều này đã góp phần váo khai thác các tiềm
năng và lợi thề về nguyên liệu, vốn và thị trường. Tuy nhiên, việc quản lý nhà
nước ở lĩnh vực này còn nhiều khó khăn, lúng túng, nhất là trong khâu thông
tin thị trường và chất lường sản phẩm.
- Khu vực dịch vụ: Trong những năm qua dịch vụ đã có những bước tăng
trưởng nhanh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đời sống và sản xuất. Giá trị
sản xuất dịch vụ đạt 6.878 tỷ đồng, tăng 11,9%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 195
13
Chuyªn ®Ò thùc tËp
triệu USD, tăng 34,02%, trong đó xuất khẩu hàng hóa đạt 120 triệu USD, tăng
21,77%. Doanh thu du lịch đạt 540 tỷ đồng, tăng 28,7%.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ là 13.335 tỷ đồng, tăng 21,9%.
Tổng lượt khách du lịch đạt trên 1,3 triệu lượt tăng 18%. Doanh thu vận tải
tăng 8,7%. Công tác quản lý hoạt động vận tải tại các bến xe khách, bến đò
chặt chẽ hơn.
Mật độ thêu bao điện thoại tiếp tục tăng nhanh đạt 24,1 máy/100 dân.
Doanh thu tăng 14% so với năm 2006.
Tổng nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại tăng 17,5% so
với năm 2006; chủ yếu do nguồn tiền gửi tiết kiệm tăng 21,3%. Tổng dư nợ
đạt 12.246 tỷ đồng, trong đó dư nợ trung, dài hạn tăng 17,9%.
Bước đầu hình thành các trung tâm thương mại dịch vụ giao dịch, các
chợ huyện, vùng (chợ đầu mối nông sản, cửa khẩu Nậm Cắn và các trung tâm
thương mại Vinh, Cửa Lò).
3.2. Cơ cấu kinh tế
Trong những năm qua cơ cấu kinh tế tỉnh Nghệ An có những chuyển
biến theo hướng tích cực. Tỷ trọng nông nghiệp giảm dần qua các năm, tỷ
trọng công nghiệp tăng, tỷ trọng dịch vụ có xu thế tăng nhưng không ổn định
và tăng chậm.
Tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản trong GDP giảm dần qua các năm
giảm từ 42,28% năm 2001 xuống còn 33,09% năm 2006 và 31,03 năm 2007
(tỷ trọng nông nghiệp chiếm trong GDP của cả nước năm 2001 là 23,24%,
năm 2006 là 20,4% và năm 2007 là 20%). Trong đó chủ yếu là giá trị sản xuất
ngành nông nghiệp chiếm trên 80%.
Tỷ trọng công nghiệp – xây dựng tăng dần qua các năm, năm 2001 là
21,33% năm 2006 là 30,34%, năm 2007 là 32,01% (tỷ trọng công nghiệp
chiếm trong GDP của cả nước năm 2001 là 38,13%, năm 2006 là 41,5% và
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét