Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

một số giải pháp nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư thành phố nước ngoài vào Campuchia

- Nhằm mục đích thu lại khoản tiền (hoặc mục đích xã hội)
lớn hơn;
- Là hoạt động tài chính (bỏ vốn thu lợi nhuận), vốn đầu tư có thể là
tiền tệ, là tư liệu sản xuất, là tài nguyên, hoặc sức lao động, hoặc các dạng vật
chất khác như: công nghệ thông tin, nhãn hiệu, bằng phát minh, biểu tượng,
uy tín hàng hóa và các phương tiện đặc biệt khác như cổ phiếu, hối phiếu,
vàng bạc đá quý v.v
Như vậy có thể nói khái quát: đầu tư là hoạt động kinh tế gắn với việc
sử dụng vốn dài hạn nhằm mục đích sinh lợi. Đầu tư có thể được phân ra
nhiều loại tuỳ theo giác độ nghiên cứu. Đầu tư có thể được phân loại theo
những tiêu thức chính sau đây:
- Phân loại theo mức độ tham gia quản lý của chủ đầu tư vào
đối tượng mà mình bỏ vốn:
+ Phân loại theo mục tiêu đầu tư;
+ Phân loại theo nội dung kinh tế;
+ Phân loại theo thời gian sử dụng;
+ Phân loại theo lĩnh vực đầu tư;
- Phân loại theo nội dung nghiên cứu: đầu tư được chia thành 3 loại:
+ Đầu tư vào lực lượng lao động: nhằm mục đích tăng về lượng và chất,
là các yếu tố quan trọng nhất của quá trình kinh doanh. Đó là sức lao động,
thông qua tuyển mộ, thuê mướn và đào tạo chuyên gia, cán bộ quản lý và công
nhân.
+ Đầu tư vào tài sản lưu động: nhằm đảm bảo sự hoạt động liên tục
nhịp nhàng của quá trình sản xuất kinh doanh. Đó là tư liệu sản xuất giá trị
nhỏ, nguyên vật liệu, tiền tệ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Đầu tư xây dựng cơ bản: nhằm tạo ra hoặc nâng cao mức độ hiện đại
tài sản cố định của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng mới nhà xưởng,
5
các công trình hạ tầng và đầu tư cho thiết bị máy móc, công nghệ bằng phát
minh, mua bản quyền, bí quyết công nghệ. Đầu tư xây dựng cơ bản đóng vai
trò quyết định, gắn liền với việc nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, đòi hỏi một khoản vốn lớn và cần được tính toán một cách
chuẩn xác, nếu không sẽ dẫn đến sự lãng phí tiền của rất lớn.
- Phân loại theo mục tiêu đầu tư: theo tiêu thức này đầu tư được chia
thành:
+ Đầu tư mới - Là hình thức đầu tư đưa toàn bộ vốn đầu tư vào xây
dựng một đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân riêng.
+ Đầu tư mở rộng - Là hình thức đầu tư nhằm mở rộng công trình cũ
đang hoạt động để nâng cao công suất của công trình cũ hoặc tăng thêm mặt
hàng, tăng thêm khả năng phục vụ cho nhiều loại đối tượng so với nhiệm vụ
ban đầu. Đầu tư này gắn liền với việc mua sắm thiết bị mới, xây dựng các
phân xưởng mới hoặc mở rộng các phân xưởng chính hiện có, xây dựng thêm
các công trình phụ trợ và phục vụ mới.
+ Đầu tư cải tạo công trình đang hoạt động: đầu tư này gắn với việc
trang bị lại và tổ chức lại toàn bộ hoạt động hay một bộ phận doanh nghiệp
đang hoạt động, được thực hiện theo một thiết kế duy nhất, không bao gồm
việc xây dựng mới hay mở rộng các bộ phận sản xuất chính đang hoạt động
hoặc có thể là xây dựng mới hoặc mở rộng các công trình phục vụ hay phụ
trợ.
+ Đầu tư hiện đại hóa công trình đang sử dụng: gồm các đầu tư nhằm
thay đổi cải tiến các thiết bị công nghệ và các thiết bị khác đã bị hao mòn cả
hữu hình và vô hình trên cơ sở kỹ thuật mới, nhằm nâng cao các thông số kỹ
thuật của các thiết bị đó. Việc hiện đại hóa có thể tiến hành một cách độc lập,
hoặc tiến hành đồng thời với việc cải tạo. Thông thường hiện đại hóa và cải
6
tạo tiến hành đồng thời. Vì vậy tính toán đầu tư thường chỉ xem trong 3
trường hợp: đầu tư mới, đầu tư mở rộng và đầu tư cải tạo, hiện đại hóa.
- Phân loại theo thời gian (hoạt động) sử dụng: theo tiêu thức
này đầu tư chia thành 3 loại:
+ Đầu tư ngắn hạn,
+ Đầu tư trung hạn,
+ Đầu tư dài hạn,
- Phân loại theo lĩnh vực hoạt động : theo tiêu thức này đầu tư
được chia thành: đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đầu tư cho sản xuất,
đầu tư cho quản lý.
- Phân loại đầu tư theo mức độ tham gia quản lý của chủ đầu tư
vào đối tượng mà mình bỏ vốn: theo tiêu thức này đầu tư chia thành:
+ Đầu tư gián tiếp: là đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn
không phải là một. Loại đầu tư này còn được gọi là đầu tư tài chính vì đầu tư
này được thực hiện bằng cách mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, chứng
khoán, trái khoán để được hưởng lợi tức. Với phương thức này, người bỏ
vốn không trực tiếp tham gia quản lý các công cuộc kinh doanh. Trong đầu tư
gián tiếp có thể thực hiện theo cách cho vay dài hạn. Cho vay dài hạn (tín
dụng): là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay kiếm lời qua lãi suất tiền cho
vay.
+ Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn và người sử
dụng vốn là một chủ thể, là người đầu tư đồng thời là người quản lý đầu tư.
Trong đầu tư trực tiếp, người có vốn có thể bỏ vốn vào để làm tăng thêm năng
lực sản xuất hoặc tạo ra những năng lực sản xuất mới, song cũng có thể mua
lại một số cổ phần để hy vọng thu được lợi tức cổ phần.
Trong đầu tư trực tiếp, người bỏ vốn ra có thể là người trong nước và
cũng có thể là người nước ngoài và đều được luật pháp của nước chủ nhà cho
7
phép. Trong trường hợp người có vốn là người nước ngoài thì hoạt động đầu
tư trực tiếp đó là đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là dạng đầu tư trực tiếp do nguồn
vốn từ bên ngoài; chủ thể của nó là tư nhân hay Nhà nước, hoặc các Tổ chức
quốc tế được nước chủ nhà cho phép đầu tư vào những ngành hoặc những
lĩnh vực nào đó của một nước nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định.
Nếu đầu tư trực tiếp bằng vốn trong nước (vốn của nhà nước, vốn của tư
nhân ) thì phải tuân theo các luật lệ hiện hành về đầu tư của Nhà nước, trong đó
đáng chú ý nhất và cũng phức tạp nhất là các luật lệ về đầu tư xây dựng cơ bản.
Đầu tư trực tiếp lại được chia thành:
+ Đầu tư dịch chuyển: là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn mua
lại một số cổ phần đủ lớn để nắm được quyền chi phối hoạt động của doanh
nghiệp. Trong hình thức đầu tư này chỉ có sự thay đổi về quyền sở hữu tài sản
được dịch chuyển từ tay người này sang tay người khác, không có sự gia tăng
tài sản của các doanh nghiệp.
+ Đầu tư phát triển: là hình thức đầu tư trong đó tạo dựng nên những
năng lực mới (về lượng hay về chất) cho các hoạt động sản xuất, dịch vụ để
làm phương tiện sinh lời. Đầu tư phát triển còn gọi là đầu tư xây dựng cơ bản;
nó bao gồm các hình thức đầu tư xây dựng mới, mở rộng cải tạo và hiện đại
hóa cơ sở sẵn có. Nó là biểu hiện cụ thể của tái sản xuất mở rộng, là biện
pháp chủ yếu để cung cấp việc làm cho người lao động, là tiền đề để đầu tư
tài chính và đầu tư dịch chuyển.
1.2-/ Sự hợp tác đầu tư quốc tế và việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
1.2.1-/ Khái niệm và ý nghĩa.
Như trên đã phân tích, vốn đầu tư là một yếu tố cần thiết cho việc mở
rộng quy mô và đổi mới kỹ thuật của hoạt động kinh tế - xã hội. Thực tế cho
thấy tất cả các quốc gia đang phát triển đều thiếu và cần vốn đầu tư. Không có
8
một nước nào có thể vươn lên mạnh, nếu không thu hút được vốn đầu tư của
nước ngoài, bởi vì nếu không có nguồn vốn lớn và kỹ thuật cao thì không thể
khai thác triệt để các lợi thế so sánh của đất nước. Sự hợp tác đầu tư quốc tế giữa
hai bên và nhiều bên là xu hướng có tính quy luật trong điều kiện tăng cường
việc quốc tế hóa đời sống kinh tế quốc tế, tuy rằng trên thực tế kẻ mạnh vẫn tìm
cách thu được nhiều lợi ích hơn. Sự thật là nhiều quốc gia đã từng rất dè dặt
trong việc mở cửa đón nhận đầu tư nước ngoài, nhưng cho đến những năm gần
đây cũng lần lượt ban hành các luật lệ thích hợp để mở rộng quy mô và nâng cao
tốc độ thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.
Sự hợp tác đầu tư quốc tế là một quá trình kinh tế, trong đó hai
nước hay nhiều nước thỏa thuận cùng nhau góp vốn(thuộc sở hữu Nhà
nước, sở hữu tư nhân hay sở hữu hỗn hợp) để đầu tư vào việc xây dựng
các công trình mới, hiện đại hóa và mở rộng các xí nghiệp hiện có, nhằm
đem lại lợi ích cho cả các bên.
Dĩ nhiên quá trình hợp tác này không đơn giản mà trái lại luôn chứa
đựng những sự đấu tranh không kém phần gay gắt. Song dù sao thì trong sự
hợp tác đầu tư, lợi ích của các bên tham gia cũng khá gắn liền với nhau. Nhận
thức rõ tính chất của xu hướng này và sử dụng nó một cách khôn ngoan là
một trong những sự bảo đảm cho thành công của con đường phát triển trong
giai đoạn hiện nay của mỗi nước.
Thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, các nước đang phát triển không
những chỉ nhằm nhận được vốn khi đang thiếu mà còn nhằm các mục đích
khác để phát triển kinh tế lâu dài, vững chắc bằng thu hút công nghệ mới, giải
quyết công ăn việc làm, học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, nhanh chóng
thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, cải thiện cơ cấu nền kinh tế của mình lên hiện
đại và tiến bộ.
Đối với những nước đang phát triển thì phổ biến là cần thu hút vốn đầu
tư của các nước ngoài trên quy mô lớn. Đây là một giải pháp có ý nghĩa sâu
9
sắc nhằm thúc đẩy sự phát triển để hình thành các khu vực có công nghệ cao
cũng như để biến đổi căn bản cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy nhiên để
đạt được các mục đích trên đây không phải dễ dàng, lúc nào cũng suôn sẻ, trái
lại các nước đang phát tiển cần tìm cho mình các chủ trương thích hợp, các
biện pháp khôn khéo, thu hút được vốn đầu tư vào các ngành và các lĩnh vực
cần thiết tạo thuận lợi cho mình hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.
Cần nhận rõ hiệu quả của việc thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, có
thể xảy ra khác nhau. Chẳng hạn, khi nhận vốn đầu tư của nước ngoài sẽ phát
sinh nợ nước ngoài, nhất là khi nhận đầu tư gián tiếp dưới hình thức tín dụng.
Trên thực tế đã có những nước chịu gánh nặng nợ nần rất lớn do việc thu hút
vốn đầu tư của nước ngoài, mặc dù không phải mọi gánh nặng nợ nần đều là
do việc thu hút vốn đầu tư cả. Cũng có không ít trường hợp việc nhận đầu tư
đi liền với sự du nhập những công nghệ thứ yếu, công nghệ phế thải mang
theo chất thải ô nhiễm. Mặt khác, có thể còn chịu ảnh hưởng ý đồ của người
đầu tư trong việc xác lập cơ cấu kinh tế, trong việc sử dụng sức lao động và
tài nguyên và sẽ đưa đến tình trạng phát triển không đồng đều giữa các vùng
trong nước tạo ra sự phân hóa giữa các tầng lớp dân cư. Đành rằng các nước
đang phát triển phải chấp nhận có sự phân hóa đó, nhưng có mức giới hạn. Rõ
ràng đây là lĩnh vực đa dạng và phức tạp, luôn luôn có sự đấu tranh giữa các
lợi ích với nhiều phương sách và thủ đoạn khác nhau, mặc dù chính sự phát
triển về hợp tác và đầu tư lại là một xu hướng khách quan. Vấn đề là phải tính
toán chu đáo về các mặt kinh tế, kỹ thuật và xã hội của từng dự án cũng như
toàn bộ chương trình hợp tác đầu tư với nước ngoài để khai thác triệt để các
mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực có thể xảy ra.
1.2.2-/ Đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong sự hợp tác đầu tư quốc tế thường có nhiều nguồn vốn khác nhau.
Vốn của các Chính phủ và của các Tổ chức quốc tế có thể là viện trợ không
hoàn lại, vốn cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi, cho vay với lãi suất thông
10
thường. Vốn của các tổ chức xã hội (các tổ chức phi Chính phủ) thường là các
khoản tiền viện trợ mang tính chất nhân đạo cho các hoạt động y tế, giáo dục,
khắc phục hậu quả thiên tai và nói chung là nó được tính riêng và không phụ
thuộc vào vốn hợp tác đầu tư. Tư nhân gồm người nước ngoài và người
Campuchia ở nước ngoài cũng góp vốn để đầu tư trực tiếp vào một dự án cụ
thể.
Trong sự hợp tác đầu tư quốc tế, để phục vụ cho việc quản lý và sử dụng
vốn, người ta thường chia ra hai loại hình là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.
1.2.2.1. Đầu tư gián tiếp nước ngoài
Đầu tư gián tiếp nước ngoài là những khoản đầu tư được thực hiện
thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ mà nguồn vốn thường là của các
Chính phủ và của các Tổ chức quốc tế. Một bộ phận đáng kể của đầu tư gián
tiếp là các khoản tài trợ phát triển chính thức như ODA (Official
Development Assistance) do các Tổ chức Liên Hiệp Quốc như UNDP, FAO,
UNICEF, UNFPA , các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ đóng góp. Phần
quan trọng hơn đó là các khoản cho vay của Chính phủ các nước và của các
Tổ chức kinh tế khác (như IMF, WB, ADB ) tiến hành.
Đặc điểm của vốn đầu tư gián tiếp là vốn thường đi kèm với các điều
kiện ưu đãi và các điều kiện khác, cho nên có thể tập trung vào các dự án có
mức vốn đầu tư tương đối lớn, thời gian thu hồi vốn tương đối dài, chẳng hạn
như các dự án về năng lượng, giao thông vận tải hay xây dựng các yếu tố kết
cấu hạ tầng khác. Chính vì vậy mà đầu tư gián tiếp có tác dụng thúc đẩy,
khuyến khích và tạo điều kiện cho việc thu hút đầu tư trực tiếp. Tuy nhiên loại
hình đầu tư này cũng có những sự hạn chế nhất định, vì nó gắn chặt với thái
độ chính trị của các Chính phủ nước ngoài và của các Tổ chức kinh tế quốc tế.
Mặt khác, đầu tư gián tiếp là cho vay, nên hiệu quả sử dụng nguồn vốn đó phụ
thuộc vào cơ chế quản lý và trình độ tổ chức kinh doanh của chủ nhà và thực
tế thì hiệu quả này đạt được thường không cao như mong muốn.
11
1.2.2.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là những khoản đầu tư do các tổ chức kinh
doanh và cá nhân người nước ngoài đưa vào một nước để sản xuất kinh doanh
hoặc liên doanh với tổ chức và cá nhân trong nước theo quy định của luật đầu
tư nước ngoài của nước sở tại. Để hiểu rõ hơn chúng ta có thể căn cứ vào mấy
khía cạnh:
- Một là, đầu tư trực tiếp không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận mà
cùng với vốn có thể có cả kỹ thuật, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, sản xuất
kinh doanh, năng lực marketing. Chủ đầu tư khi đưa vốn vào đầu tư là đã tiến
hành tổ chức sản xuất kinh doanh và sản phẩm làm ra phải được tiêu thụ ở thị
trường nước chủ nhà hoặc thị trường lân cận. Do vậy phải đầu tư kỹ thuật
nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
- Hai là, việc tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài không gây nên tình
trạng nợ nần cho nước chủ nhà, trái lại nước chủ nhà còn có điều kiện để phát
triển tiềm năng trong nước.
- Ba là, chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là các công ty
xuyên quốc gia. Các công ty này chiếm tới 90% khối lượng đầu tư trực tiếp
nước ngoài của thế giới.
- Bốn là, đầu tư nước ngoài tồn tại dưới nhiều hình thức, song những
hình thức cơ bản là chủ đầu tư bỏ vốn vào thành lập xí nghiệp 100% vốn của
mình, mua lại toàn bộ hoặc một phần xí nghiệp của nước chủ nhà, cùng góp
vốn với các đối tác nước chủ nhà với những tỷ lệ khác nhau để cùng thành lập
xí nghiệp liên doanh, bỏ vốn xây dựng công trường vận hành. Sau một thời
gian hoạt động quy định có thể chuyển giao cho nước chủ nhà nếu đó là hợp
đồng dạng “xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (Build-Operate-Transfer -
BOT)”.
12
Mỗi hình thức nêu trên đây đều có những ưu điểm và nhược điểm khác
nhau. Ở thế giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã từng xuất hiện ngay từ thời
tiền tư bản. Các công ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là
những công ty đi đầu trong lĩnh vực này dưới hình thức đầu tư vốn vào các
nước Châu Á để khai thác đồn điền, khai thác khoáng sản nhằm cung cấp
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính quốc. Khi chủ nghĩa tư bản
bước sang giai đoạn mới, đánh dấu bằng sự kiện “Công xã Pari” thì hoạt động
đầu tư ra nước ngoài của các nước công nghiệp phát triển càng có quy mô to
lớn hơn. Ở đây các công ty tư bản đã thực hiện việc đầu tư vào các yếu tố tư
bản bất biến (C), tư bản khả biến (V) trong đó xây dựng kết cấu hạ tầng tối
thiểu để thực hiện có hiệu quả quá trình khai thác các tài nguyên trong lòng
đất để đưa về chính quốc. Trong ngành khai khoáng phải kể đến các công ty
dầu mỏ như Royal Deutch Shell, BP, EXXON, Mobil oil, Gulf oil của Anh,
Hà Lan, Mỹ và chúng thực hiện từ lâu quá trình đầu tư trực tiếp vào các nước
ở Châu Á, Mỹ La Tinh, Châu Phi để khai thác nguồn tài nguyên này.
Từ sau chiến tranh thế giới 2, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có sự thay
đổi rõ rệt với sự đầu tư ồ ạt của các nhà đầu tư Mỹ vào Châu Âu theo kế hoạch
Marshall (1945 - 1948) để vực dậy phần lục địa bị chiến tranh tàn phá nặng nề
này. Và sau đó là sự đầu tư lẫn nhau giữa các nước Châu Âu thực hiện sự liên
minh tư bản để tăng cường khả năng kinh tế chống độc quyền của các xí nghiệp
ở Mỹ. Cũng từ đó việc đầu tư trực tiếp nước ngoài trở nên thưòng xuyên hơn và
nó được sử dụng phối hợp với các hình thức xuất khẩu tư bản khác, trở thành vũ
khí lợi hại của các nước phương Tây trong việc thực hiện chủ nghĩa thực dân
mới, nhất là đối với các nước thuộc địa hoặc các nước đang phát triển.
Ngày nay đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành một tất yếu trong điều
kiện quốc tế hoá sản xuất, lưu thông và được tăng cường mạnh mẽ. Có thể nói
trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù phát triển
theo con đường tư bản chủ nghĩa hay định hướng xã hội chủ nghĩa, lại không
13
cần đến nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài và coi đó là nguồn lực quốc tế cần
khai thác để từng bước hoà nhập vào cộng đồng quốc tế. Mặt khác dưới tác
động của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ như hiện nay, ngay cả
những nước có tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật như Mỹ, Nhật và các nước
cộng đồng Châu Âu (EU) cũng không thể tự mình giải quyết có hiệu quả tất
cả những vấn đề đã, đang và tiếp tục đặt ra trên lĩnh vực khoa học công nghệ
và vốn. Do vậy chỉ có con đường hợp tác, trong đó đầu tư trực tiếp nước
ngoài là một loại hình đầu tư hợp tác mới đưa lại hiệu quả mong muốn. Do
vậy, trên thực tế không một nước nào lại bỏ qua hình thức đầu tư này.
Nhìn chung đầu tư trực tiếp có những đặc trưng và thế mạnh riêng. Thứ
nhất, đầu tư trực tiếp, mặc dù vẫn chịu sự chi phối của chính phủ, nhưng có
phần ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên hơn là so với đầu tư
gián tiếp.Thứ hai, bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất- kinh
doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt là trong tiếp cận thị
trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu. Thứ ba, với quyền lợi gắn chặt với dự
án, người nước ngoài quan tâm đến hiệu quả kinh doanh, nên thường lựa chọn
công nghệ thích hợp, nâng cao dần trình độ quản lý và tay nghề của công
nhân. Song cũng phải thấy rõ hoạt động đầu tư trực tiếp diễn ra theo cơ chế
thị trường trong khi người đầu tư nước ngoài có nhiều kinh nghiệm, sành sỏi
trong việc ký kết hợp đồng, còn phía chủ nhà thì lại thiếu kinh nghiệm, kém
sành sỏi trong việc ký kết hợp đồng đó, nên phía chủ nhà không hoàn toàn
chủ động trong việc bố trí đầu tư theo ngành cũng như vùng lãnh thổ hoặc bị
sơ hở gây nên thiệt hại cho mình.
1.2.2.3. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong đời sống kinh tế quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò
quan trọng to lớn, thể hiện như sau:
1.2.2.3.1) Đầu tư trực tiếp nước ngoài - nguồn đầu tư phát triển kinh tế
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét