Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Lãi suất ngân hàng và hoạt động của doanh nghiệp

 Đối với các Ngân hàng thương mại: Lãi suất (cho vay) là nguồn thu nhập
nuôi sống hoạt động của ngân hàng.
 Đối với cá nhân, doanh nghiệp: Lãi suất là cơ sở để đưa ra quyết định của
mình như chi tiêu, đầu tư các trang thiết bị mới cho doanh nghiệp hay gửi
tiết kiệm,
Và có nhiều tiêu chí để phân loại lãi suất như tiêu chí loại hình tín dụng, thời
hạn tín dụng, giá trị của lãi suất, mức ổn định của lãi suất,…Nhưng để bài
viết được rõ hơn, chúng em xin được trình bày một vài định nghĩa về các
loại lãi suất:
- Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng trung ương công bố, được
lấy làm cơ sở cho các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng
xác định mức lãi suất.
- Lãi suất trần là lãi suất do ngân hàng trung ương ấn định cho các
ngân hàng thương mại và chấp nhận cho các ngân hàng này ấn định
với mức lãi suất không vượt quá mức ngưỡng cho phép nhằm hạn
chế tình trạng cho vay cắt cổ.
- Lãi suất huy động (tiền gửi) là lãi suất được trả cho các khoản tiền
gửi của người đi gửi.Và lãi suất này do ngân hàng ấn định để
khuyến khích khách hàng huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong thị
trường nhằm hạn chế tình trạng lạm phát và dùng nguồn vốn này để
kinh doanh tiền tệ.
- Lãi suất cho vay là lãi suất người đi vay phải trả cho ngân hàng do
sử dụng vốn vay của ngân hàng. Lãi suất này do ngân hàng ấn định
và không được vượt quá lãi suất trần để cho khách hàng thiếu vốn
nhưng có nhu cầu sử dụng vốn vay.
- Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay
trên thị trường liên ngân hàng.
II/ Tình hình hiện nay về lãi suất
Như các bạn đã biết, việc thực hiện chính sách lãi suất là một bài toán rất
khó ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển khi
5
mà chưa có một cơ chế nhất định. Và nước ta cũng vậy, chính sách lãi suất đã
có nhiều thay đổi tiến bộ, không còn kiểu lãi suất âm gây cản trở phát triển nền
kinh tế như ở giai đoạn thời kinh tế bao cấp. Sau nhiều lần thay đổi chính sách
lãi suất, nước ta dần đi vào quỹ đạo ổn định, chính sách lãi suất linh hoạt hơn
tạo mọi điều kiện để phát triển kinh tế. Mặc dù vậy, do lãi suất là biến số thay
đổi theo từng giai đoạn, nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam thì
tình hình lãi suất cũng có nhiều chuyện để đề cập.
Hiện nay, các ngân hàng gặp thách thức trước tình hình lãi suất hiện nay.
Khi mà chính phủ vừa yêu cầu Ngân hàng nhà nước thực thi giải pháp để có
thể hạ lãi suất huy động xuống 10%/năm và lãi suất cho vay không quá 12%/
năm.
Trong khi đó,lãi suất huy động ở hầu hết các ngân hàng đều phổ biến ở mức
trên 11%/năm như BIDV, VietcomBank, PhuongNamBank, SeABank,
DongABank, TechcomBank,…
Diễn biến lãi suất trong thời gian gần đây
Đ
Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy, mặc dù lãi suất cho vay của các ngân
hàng đã giảm từ 17-18%/ năm xuống còn 15-16%/năm nhưng một số ngân
hàng vẫn bị ứ vốn do doanh nghiệp không vay vì lãi suất theo họ vẫn còn cao.
Và xu hướng chung của doanh nghiệp là chuyển sang vay USD với lãi suất chỉ
bằng 1/3 của VND. Theo Tuoitre Online, Đại diện sở giao dịch 2 NH Công
6
thương cho biết vay USD trong quý 1-2010 tại NH này tăng 28%,trong khi vay
VND chỉ tăng 5,5%.
III. Ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động của doanh
nghiệp và các giải pháp đưa ra khi lãi suất thay đổi
1. Khi lãi suất tăng
a. Đối với ngân hàng
a.1. Một số nguyên nhân tình trạng lãi suất cao hiện nay.
Một số khác biệt giữa thời điểm diễn ra cuộc chạy đua lãi suất năm 2008 và
năm 2010
Năm 2008 Tháng 3/2010
- Ngày 17/03/2008, Phát
hành tín phiếu bắt buộc 20,300 tỷ
đồng
- 1/04/2008 tỷ lệ dự trữ bắt
buộc nâng lên 11%, lãi suất cơ
bản điều chỉnh tăng từ 8.75 lên
12%.
- 19/05/2008, lãi suất tái
chiết khấu tăng từ 11 lên 13%.
- Ngày 1/06/2008, lãi suất
tái cấp vốn tăng từ 13 lên 15%, lãi
suất cở bản điều chỉnh tăng lên
14%.
- Lạm phát trung bình năm
- Không còn tín phiếu bắt
buộc, tiếp tục các chính sách tiền
tệ mở rộng.
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1%
đối với tiền gửi kỳ hạn trên
12 tháng, không kỳ hạn và dưới
12 tháng 3%.
- Lãi suất cơ bản 8%, lãi
suất tái cấp vốn 7%, lãi suất tái
chiết khẩu 6%.
- Lãi suất chiết khấu, tỷ lệ
dự trữ bắt buộc tiếp tục duy trì ở
mức thấp.
7
22.97%, lãi suất cho vay trung
bình trong năm 13.46%. Tăng
trưởng tín dụng 25.4%, tăng
trưởng GDP 5.19%.
- Lạm phát mục tiêu 7%,
tăng trưởng tín dụng mục tiêu
25%, tăng trưởng GDP mục tiêu
6.5%.
-Lãi suất được đẩy lên cao là do trong thời
gian qua xuất hiện tình trạng chênh lệch khá lớn
giữa tốc độ tăng trưởng vốn huy động và cho
vay. Tình trạng này kéo dài suốt từ năm 2007
đến nay. Cụ thể, năm 2007, tăng trưởng tín
dụng là 53.9%, trong khi đó tăng trưởng huy
động chỉ đạt 46.1%; năm 2008 hai chỉ số này
lần lượt là 25.4% và 20.3%; năm 2009 lần lượt
là 37.4% và 28.7%. Hai tháng đầu năm 2010, tăng trưởng tín dụng 1.4%, trong
khi đó tăng trưởng tiền gửi lại giảm 0.17%.
Mức chênh lệch kéo dài và quá lớn trên buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất
huy động để hút tiền, đồng thời tăng lãi suất cho vay để giảm cầu tiền.
-Lãi suất huy động và cho vay vượt xa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái
cấp vốn của NHNN. Đây là một sự nghịch lý vì thông thường lãi suất chiết
khấu là công cụ quan trọng trong điều hành lãi suất trên thị trường. Giải thích
cho điều này có thể là do NHNN đang rất hạn chế cung tiền qua thị trường mở.
Trong trường hợp này công cụ lãi suất chiết khấu đã giảm đi rất nhiều vai trò
của nó. Lý do NHNN hạn chế việc cung tiền qua thị trường mở có thể xuất phát
từ những lo ngại về lạm phát tiền tệ.
- Việc nâng lãi suất huy động và cho vay là một hệ quả của việc tăng
trưởng tín dụng nóng năm 2009. Gói kích cầu bằng hỗ trợ lãi suất đã tạo ra hơn
400.000 tỷ đồng vốn giá rẻ cho người đi vay. Nhiều doanh nghiệp tìm mọi cách
để vay tiền bất chấp nhu cầu thực tế khiến tăng trưởng tín dụng năm 2009 lên
mức 37.4%, vượt xa mục tiêu 25% của NHNN. Năm 2010, áp lực trả nợ đè
nặng lên nhiều doanh nghiệp bởi việc chi tiêu "quá đà" trong năm trước. Ngoài
ra, NHNN đặt mục tiêu kiểm soát tín dụng ở mức 25% để phòng ngừa nguy cơ
lạm phát khiến cho nguồn vốn ngân hàng càng trở nên khan hiếm.
8
a.2. Ảnh hưởng lãi suất tăng đến ngân hàng thương mại(NHTM)
- Ảnh hưởng tích cực:
- Do lãi suất huy động hay lãi suất
tiền gửi tăng nên ngân hàng chủ động
về nguồn vốn, huy động được nguồn
vốn lớn trong nền kinh tế chủ yếu qua
hình thức tiết kiệm đáp ứng được nhu
cầu xã hội, không rơi vào tình trạng
khan hiếm vốn.
- Ngân hàng có thể mở rộng thị
trường cho vay đặc biệt cho vay tiêu
dùng là một biện pháp kích cầu tốt cho nền kinh tế và giúp ngân hàng duy trì
lợi nhuận.
- Kích thích người dân qua gửi tiết kiệm so với các kênh đầu tư khác như:
vàng, chứng khoán,….
- Khi lãi suất tăng đòi hỏi các ngân hàng có các định hướng lâu dài, chính
xác hơn; tổ chức dịch vụ và các hoạt động chăm sóc khách hàng ngày càng
nâng cao đó là ưu thế loại bỏ các tổ chức tín dụng hoạt động kém hiệu quả và
khẳng định chổ đứng các ngân hàng uy tín, chất lượng.
- Ảnh hưởng tiêu cực:
- Nguồn thu về lãi suất cho vay là nguồn thu nhập nuôi sống hoạt động
của ngân hàng và theo bản năng, ngân hàng nào cũng muốn cho vay lãi suất
cao. Xét về bản chất kinh tế thì lãi suất tiền vay có lại nguồn gốc từ lợi nhuận
hoạt động của DN. Khi các ngân hàng tăng lãi suất đầu vào thì cũng phải tăng
đầu ra, nó trở thành bài toán khó cho cả 2 bên: ngân hàng phải đảm bảo xin lợi
và giữ chân khách hàng đặc biệt là các doanh nghiệp. với lãi suất cao, doanh
nghiệp phải cắt bớt các khoản vay hoặc đành chịu vay với lãi suất cao để đảm
bảo thực hiện hợp đồng và sản xuất kinh doanh.
- Khi lãi suất đầu ra tăng cũng ảnh hưởng không ít đến việc giải ngân vì
hầu hết người dân chỉ gửi và rất ngại trong việc vay.
- Ngân hàng cũng phải đương đầu với nợ xấu tăng khi doanh nghiệp
không có khả năng chi trả ảnh hưởng đến nguồn vốn ngân hàng bị giảm và các
hệ lụy kéo theo ảnh hưởng cả nền kinh tế
- Tính cạnh tranh trở khóc liệt giữa các NHTM với nhau hình thành nên
9
cuộc chay đua lãi suất, điển hình là năm 2008 lãi suất cho vay theo thỏa thuận
lên đến15%-21%/năm, các ngân hàng cạnh tranh nhau về lãi suất và cả chương
trình khuyến mại làm cho chi phí ngân hàng tăng lên không ngừng( chi trả lãi
tiền vay, chi trả lương bảo hiểm, chi phí dịch vụ, chi mua sắp khấu hao tài sản,
chi dự phòng,…) những khoảng phí hầu hết được tính vào doanh nghiệp khi
vay. Ảnh hưởng tồi tệ làm gia tăng tỉ lệ lạm phát ở mức cao.
- Một trở ngại nữa là khi lãi suất tăng cũng ảnh hưởng việc các NHTM
vay vốn từ các NHTM khác hay từ NHNN gặp nhiều khó khăn do lãi suất chiết
khấu và tái cấp vốn tăng.
a.3. Giải pháp xử lý khi lãi suất tăng cao.
Từ các ảnh hưởng nêu trên các NHTM chỉ có thể sống sót được khi hoạt
động SXKD của DN có hiệu quả và phát triển. Vì vậy, khi thực hiện chính
sách lãi suất, các NHTM nên:
- Phân tích và đánh giá chính xác mức sinh lời của doanh nghiệp để từ đó
xác định lãi suất cho vay hợp lý, đảm bảo đôi bên cùng có lợi.
- Nâng cao khả năng dự báo và thực hiện tốt vai trò tư vấn về lãi suất cho
vay đối với khách hàng để giúp doanh nghiệp phòng ngừa và hạn chế rủi ro cho
chính mình và cho cả ngân hàng.
- Thực hiện thường xuyên và kịp thời các chính sách ưu đãi, chia sẻ khó
khăn về lãi suất với các khách hàng gặp khó khăn trong khả năng của mình, qua
đó hỗ trợ khách hàng phát triển bền vững và gắn bó với Ngân hàng.
- Để huy động được vốn trong điều kiện không tăng lãi suất các NHTM
cũng cần tiếp tục tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ, đổi mới phong
cách giao dịch, tăng cường liên kết và hợp tác chặt chẽ lẫn nhau thay vì cạnh
tranh theo lối truyền thống đó là tăng giá mua vốn thông qua việc đẩy lãi xuất
tiền gửi và chi phí khuyến mại tăng cao
b. Đối với doanh nghiệp
b.1. Ảnh hưởng của việc lãi suất tăng đến hoạt động của doanh nghiệp
* Ảnh hưởng tiêu cực
10
Khi chúng ta tiếp cận khái niệm lãi suất
ở các giác độ khác nhau thì ta có các đặc trưng
cơ bản khác nhau. Đối với ngân hàng, nguồn
thu về lãi suất cho vay chính là nguồn thu
nhập nên bất kì ngân hàng cũng muốn cho vay
với lãi suất cao. Còn đối với các nhà doanh
nghiệp, lãi suất chính là phần chi phí đầu vào
để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có lãi
và phát triển bền vững. Vay vốn là một hoạt
động không thể đảo đi được của các nhà
doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu phải đối mặt
với mức lãi cao thì một số nhà doanh nghiệp
sẽ không dám đầu tư hoặc từ chối vay vốn,
không dám triển khai dự án nên sẽ đi chậm so với tiến độ đã đặt ra. Hầu hết các
doanh nghiệp đều đã tính toán và đánh giá khi thực hiện phương án vay vốn từ
ngân hàng. Nhưng có nhiều yếu tố không thể kiểm soát được do sự tác động
của môi trường xung quanh như: môi trường toàn cầu, môi trường tổng quát,
môi trường kinh tế… nên đã tạo ra những rủi ro cho doanh nghiệp. Điều này
ảnh hưởng đến mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp theo hướng nghịch:
- Do việc thiếu tiền trong việc mua nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho
sản suất nên hầu hết các doanh nghiệp đều gặp khó khăn. Đặt biệt là việc trả
tiền lương cho công nhân,trong quá trình khấu hao máy móc,các khoản vay…
đã ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp. Chính điều đó đã dẫn đến sự cắt
giảm chi phí sản xuất bằng cách giảm thiểu lực lượng lao động. Hay nói cách
khác là sự cơ cấu lại hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi hẹp hơn. Sự
mất cân đối đó đã làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm nên sẽ kém hấp
dẫn với các nhà đầu tư.
- Sự gia tăng về chi phí sản xuất dẫn đến giá thành sản phẩm và dịch vụ
tăng dẫn đến sự tăng mức giá chung của thị trường. Đồng thời điều này cũng là
một nguyên nhân cơ bản đi ngược lại mục tiêu lạm phát. Khi đó sức mua của
thị trường sẽ giảm do giá cao mà thu nhập của người dân lại không tăng hoặc
tăng chậm so với mức tăng của chỉ số lạm phát nên các doanh nghiệp sẽ không
bù đắp được chi phí dẫn đến thua lỗ. Mà hoạt động kinh doanh là một hoạt
động diễn ra liên tục; chiến lược kinh doanh sau là sự tái đầu tư của chiến lược
kinh doanh trước.Vì vậy nếu sự thua lỗ diễn ra trong một thời gian dài sẽ ảnh
11
hưởng rất lớn tới doanh nghiệp, có thể khả năng đầu tư sẽ bị triệt tiêu. Điều này
ảnh hưởng xấu đến tốc độ phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là từ khi nước ta
hội nhập kinh tế quốc tế.
- Chi phí cho các khoản vay nợ sẽ tăng. Điều này khiến cho các nhà
doanh nghiệp giảm vay vốn hoặc tự xoay sở vốn theo hướng khác. Qua đó cho
thấy nếu các nhà doanh nghiệp không có sự quản lí chặt chẽ số nợ phải trả và
số nợ phải thu thì sự “phát sinh” về nợ sẽ ngoài tầm kiểm soát. Theo thực tế
hiện nay, nhiều nhà doanh nghiệp đã tự xoay vốn bằng cách phát hành cổ
phiếu. Với các số liệu thu thập ta có thể kể ra: công ty cổ phần Sông Đà(S12)
dự kiến chào bán 3 triệu cổ phần cho các cổ đông hiện hữu và cán bộ công nhân
viên trong công ty với giá bán 30 tỷ đồng để lấy vốn thực hiện dự án khu nhà
cao cấp BMM tại Hà Đông, hội đồng quản trị công ty cổ phần cao su Đồng
Phú(DPR) cũng vừa quyết định phát hành riêng 3 triệu cổ phần cho các nhà đầu
tư lớn và đối tác chiến lược để tăng vốn điều lệ từ 400-450 tỷ đồng trong quý 1.
* Ảnh hưởng tích cực
Ngoài ra sự tăng lên về lãi suất cũng mang lại một số hướng thuận lợi:
từ khi nước ta chuyển từ nền kinh tế hàng hóa sang nền kinh tế thị trường thì
điều tiên quyết là cần phải có một nền kinh tế “khỏe”. Vì vậy sự tăng lãi suất có
tác dụng kích thích các doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh hơn trên trường
quốc tế.Nhưng để có khả năng này việc loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ, bấp bênh
về hiệu suất khi có sự biến động về vốn là một điều cần thiết. Bên cạnh đó, lãi
suất tăng cũng có tác động đến các doanh nghiệp lớn. Khi có sự biến động về
lãi suất nên các doanh nghiệp sẽ cố gắng thực hiện các thương vụ làm ăn của
mình một cách tập trung và giải quyết dứt điểm trong thời gian ngắn. Hoặc nếu
hợp đồng nào không có sự chắc chắn là đạt hiệu suất cao thì các doanh nghiệp
lớn sẽ loại bỏ ngay từ đầu.
b.2. Giải pháp đưa ra của doanh nghiệp khi lãi suất tăng
12
Trong tình hình lãi xuất tăng cao
thì các nhà quản trị phải xem xét thật kỉ
để đưa ra quyết định.trước tiên nhà quản
trị phải biết vay tiền về nhằm mục đích
gì để từ đó đưa ra các quyết định đúng
đắn.
Mục đích vay:
 DN đang có một dự
án(có đơn đặt hàng) mà
chưa đủ tài chính
 Cải tiến kỉ thuật ,công
nghệ
 Xây dựng cơ sở hạ tầng
*Giải pháp xử lý vấn đề lãi suất
Trên cơ sở phân tích, đánh giá những tác động của lãi suất cho vay đối
với hoạt động của DN, từ đó có các giải pháp tối ưu nhằm khai thác các tác
động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của lãi suất nhằm đạt được các
mục tiêu trong hoạt động kinh doanh cũng là những hoạt động điều tiết nền
kinh tế luôn là yêu cầu đặt ra đối với cả các NHTM, các DN và các cơ quan
quản lý vĩ mô.:Lãi suất tiền vay là chi phí đầu vào nên để đảm bảo hoạt động
kinh doanh có lãi và phát triển bền vững, khi lãi suất tăng ,Nhiều doanh nghiệp
không dám đầu tư sản xuất hoặc nghĩ đến phương án tìm ngồn vốn khác, thay
vì chú trọng vào vốn vay ngân hàng như trước, Đứng trên giác độ của nhà quản
trị, các định hướng và giải pháp cụ thể khi xử lý vấn đề lãi suất nên thực hiện
như sau:
Thứ nhất :Doanh nghiệp lên sàn huy động vốn- Thường xuyên tăng
cường năng lực tự chủ về tài chính, đa dạng hóa các kênh huy động vốn,
tránh việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn vay Ngân hàng
Trong bối cảnh lãi suất tăng cao ,nhiều doanh nghiệp vay vốn bằng cách phát
hành trái phiếu,
13
Ví dụ:Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần phát triển hạ tầng và bất động sản
Thái Bình Dương (PPI) Phan Anh Dũng dự kiến rót sẽ khoảng 600 tỷ đồng cho
kế hoạch kinh doanh năm nay. Song, nguồn thu vào ước tính đạt 200 tỷ đồng
nên số tiền 400 tỷ còn lại, PPI sẽ huy động vốn bằng việc phát hành trái phiếu
cho các dự án như: Water Garden, PPI Tower, Khu dân cư Chợ mới Bến Lức
Hoặc ráo riết niêm yết trên sàn chứng khoán chứ không dám gõ cửa nhà băng
PPI có quỹ đất rẻ, cần có vốn để triển khai thực hiện nhưng lãi suất
hiện ở mức cao. Sau khi niêm yết, doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc huy
động vốn", lãnh đạo PPI chia sẻ. Hơn 10 triệu cổ phiếu PPI chính thức có mặt
trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM vào ngày 12/4. Thị trường chứng
khoán được xem như kênh quan trọng để huy động vốn cho một loạt dự án của
PPI
Thứ hai: Đàm phán với các đối tác:
Đàm phán với ngân hàng: Khi lãi suất tăng cao mà doanh nghiệp đang có một
dự án kinh doanh quan trọng bắt buộc phải có vốn thì doanh nghiệp nên cử một
người có kỉ năng đàm phán,ngân hàng sẽ giảm lãi suất cho doanh nghiệp đó
Với những người chưa vay, lãi suất thỏa thuận là một rào cản
lớn,nhưng DN là đối tác của ngân hàng thì thuận lợi hơn, ngân hàng cũng
là một doanh nghiệp,và doanh nghiệp là một khách hàng của ngân hàng,
họ không thể bỏ qua một đối tác làm ăn đã hợp tác từ lâu. nên chắc chắn
ngân hàng sẽ giảm lãi suất cho doanh nghiệp ta.
 Đàm phán với khách hàng:khi lãi
suất tăng cao mà dự án hay đơn đặt
hàng chưa xong.thì doanh nghiệp có thể
đàm phán với khách hàng để gia hạn
thêm ít thời gian nữa.vì vậy để được sự
đồng ý của khách hàng thì điều cần
thiết DN phải tạo dựng là sự uy tín.
 Đàm phán với nhà đầu tư: khi lãi
suất tăng lên thì doanh nghiệp có thể
thương lượng với nhà đầu tư để đầu tư
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét